TRUNG
LUẬN QUYỂN THỨ NHẤT
PHẨM
THỨ NHẤT:
QUÁN
NHÂN DUYÊN
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Chẳng thường cũng chẳng đoạn. Chẳng đồng nhất cũng chẳng
sai biệt. Chẳng đến cũng chẳng đi. Có thể đề ra, nêu
lên (Ðức Phật giảng dạy) nhân duyên này để diệt trừ
những hý luận một cách thiện thuật. Con cúi đầu đảnh
lễ Ðức Phật; trong tất cả các học thuyết, thánh giáo,
những lời dạy của Ngài là những giáo lý tối tôn, vô thượng.
Các pháp (muôn sự muôn vật)
đã chẳng phải tự sanh (sanh ra từ tự thể) cũng chẳng phải
được sanh ra từ một vật thể khác (tha sanh) mà cũng chẳng
phải từ Tự và Tha cọng lại mà sanh (cọng sanh) lại càng
chẳng phải vô nhân (không có nguyên nhân) vì thế biết rằng:
các pháp vốn vô sanh.
Giống như tự tánh của các
pháp, không nằm ở (hiện hữu) trong duyên (những yếu tố,
điều kiện), và, vì do không có tự tánh nên, cũng không có
tha tánh.
Lưu ý:
Bắt đầu từ trang kế tiếp, tất cả những giòng chữ nằm
trong ngoặc đơn ( ) có dấu hoa thị (*) ở trước, là
lời chú thích giản lược của dịch giả.
Các pháp được sanh ra từ
bốn duyên đó là: Nhân duyên (* pháp hữu vi, sanh diệt); thứ
đệ duyên (* đẳng vô gián duyên: tâm, tâm sở sanh diệt nối
tiếp nhau không gián đoạn); duyên duyên (*sở duyên duyên:
tâm sở pháp cùng với tâm tương ưng) và tăng thượng duyên
(*nguyên tố quyết định; sắc đối đãi với tâm và ngược
lại; do năng lực ứng dụng thù thắng của tâm đã tạo cho
sắc tức ngoại cảnh sắc trần có được những ý nghĩa,
tác dụng...), ngoài bốn duyên trên, không có duyên thứ năm.
Quả (* chỉ các Pháp, muôn
sự muôn vật) được sanh ra từ các duyên hay là từ nơi phi
duyên (phi điều kiện và yếu tố)? Trong các duyên đó là
đã có sẵn Quả (*các pháp) hay là trong các duyên đó không
có quả?
Nhân chính là Pháp (vật thể)
sanh ra Quả, Pháp đó gọi là Duyên như thế thì, nếu Quả
đó chưa sanh thì tại sao, vì lý do gì không gọi (nó) là Phi
duyên (chẳng phải duyên, các yếu tố điều kiện)?
Quả đã có sẵn trước trong
duyên (hay không có sẵn trong duyên), có trước hay không cả
hai đều không thể truy nhận (vì nếu) trước đó đã không
có thì lấy gì (ai) làm duyên (và nếu) trước đó đã có
thì cần gì phải mượn nhờ đến duyên?
Nếu Quả đã chẳng phải là
hữu sanh (có sự sanh ra) (Phi hữu sanh) mà cũng lại chẳng
phải là vô sanh (phi vô sanh), đồng thời cũng chẳng phải
là có sanh hay không có sanh (phi hữu vô sanh), thế thì, làm
thế nào có thể bảo rằng: có các duyên?
Nếu lúc quả chưa sanh thì
lẽ ra không có sự hoại diệt, (vì nếu) hoại diệt thì pháp
làm thế nào có thể gá nương vào, vì thế nên: không có
Thứ Ðệ Duyên.
Như chư Phật đã dạy: Pháp
vi diệu chơn thật (pháp thật tướng) trong đó (trong tất
cánh không) không có bất cứ vật thể nào để nương gá
(vô duyên pháp), thế thì làm gì có (cái gọi là) Duyên Duyên?
Các pháp vốn không có tự
tánh (vô tự tánh) nên không có tướng Hữu, thế mà bảo
rằng có sự việc như thế, vì vậy nên cái việc (cho rằng)
có đó hoàn toàn không hợp lý.
Khái lược hay quảng diễn
(dù tóm lược hay giảng rộng) thì vẫn không thể tìm thấy
Quả trong Nhân duyên được; nhưng nếu, (quả) không có trong
Nhân Duyên thì làm thế nào có thể bảo rằng Quả được
sanh ra từ các Duyên?
Và nếu cho rằng trong Duyên
không có Quả mà (quả đó lại) được sanh ra từ Duyên vậy
thì cái Quả đó tại sao lại (không thể) không từ trong Phi
Duyên (chẳng phải các Duyên) sanh ra?
Và nếu, Quả được sanh ra
từ Duyên, nhưng, (cái được gọi là) Duyên ấy vốn không
có tự tánh, như thế thì, được sanh ra từ cái không có
tự tánh vậy thì làm thế nào có thể (bảo được rằng)
được sanh ra từ Duyên?
Quả đã không được sanh ra
từ Duyên mà cũng chẳng phải được sanh ra từ Phi Duyên,
vì thế, Quả không có, nên, Duyên và Phi Duyên cũng không.
________________
PHẨM
THỨ HAI:
QUÁN
SÁT SỰ CHUYỂN ÐỘNG
VÀ
SỰ KHÔNG CHUYỂN ÐỘNG
(Quán Sát
Sự Ðến Ði)
Nếu đã chuyển động thì
không còn đang là chuyển động, nếu chưa chuyển động thì
cũng không đang là chuyển động. Tách lìa cái được gọi
là đã chuyển động và chưa chuyển động thì lúc đang chuyển
động cũng không có nốt cái đang chuyển động.
Nơi nào có sự di động thì
chính nơi đó có động tác chuyển động. Chẳng phải cái
đã chuyển động hay cái chưa được chuyển động mà chính
là sự chuyển động đang chuyển động.
Làm thế nào mà ngay đang khi
chuyển động lại có sự (pháp biệt lập) đồng lúc chuyển
động? Và, nếu tách rời sự (pháp) chuyển động thì không
thể có được cái gọi là đang chuyển động.
Nếu ai chủ trương rằng sự
đang chuyển động có cái di động (biệt lập) thì kẻ đó
sai lầm, vì, đã tách rời sự chuyển động mà vẫn còn có
cái đang chuyển động; nhưng, thực tế thì, chính sự đang
chuyển động tự nó đơn độc chuyển động.
Nếu đang khi chuyển động
mà có (vật thể) di động thì là đã có hai thứ chuyển động:
Một gọi là đang chuyển động và hai gọi là sự đang chuyển
động có cái chuyển động (biệt lập).
Nếu có hai sự (pháp) chuyển
động thì đương nhiên có hai khứ giả (*khứ giả là một
tên gọi khác của ngã, chỉ kẻ đang di động) thì đương
nhiên: có hai thực thể (ngã) di động, do vậy mà tách rời
người chuyển động (*nguyên động lực, thực thể ngã) thì
sự chuyển động không thể có được.
Nếu tách rời người chuyển
động thì không thể có được sự chuyển động, vì đã
không có sự chuyển động thì làm thế nào có cái gọi là
người chuyển động?
Người chuyển động thì không
chuyển động và không có người chuyển động thì cũng không
có nốt sự chuyển động; tách rời sự chuyển động và
nơi không có người chuyển động thì không có sự hiện hữu
của vật thứ ba là người chuyển động.
Nếu quan niệm rằng người
chuyển động (có cái biệt lập là sự) chuyển động thì
làm thế nào nghĩa lý đó có thể tồn tại? vì nếu tách
rời khỏi sự chuyển động thì người chuyển động không
thể có được (không thể hiện hữu).
Nếu chủ trương rằng (tự
thân) người chuyển động có sự chuyển động, như thế
thì, có đến hai loại chuyển động khác nhau: một là người
chuyển động chuyển động và, hai là sự chuyển động di
động.
Nếu ai bảo rằng người chuyển
động (đang) chuyển động thì kẻ đó lầm lẫn, vì đã tách
rời sự chuyển động mà vẫn còn có người chuyển động
nên họ mới bảo rằng kẻ chuyển động (bên cạnh còn) có
(một vật thể biệt lập) di động.
Cái đã chuyển động tự nó
(trong đó) không có điểm (động cơ) xuất phát, cái chưa
chuyển động trong tự thân cũng không có bất cứ động cơ
phát động nào, và, cái đang chuyển động trong đó cũng không
thể tìm thấy bất cứ động cơ phát xuất nào, thế thì,
nơi đâu đích thị là nơi có động cơ xuất phát?
Chưa phát động thì không thể
có sự đang chuyển động, lại càng cũng không có cái gọi
là đã chuyển động, hai sự việc này lẽ ra phải có động
cơ xuất phát, nhưng, khi chưa chuyển động thì làm sao có
sự phát động?
Không có sự chuyển động,
không có cái chưa chuyển động cũng không luôn cái đang chuyển
động. Tất cả đều không có điểm xuất phát, thế thì,
làm thế nào để có thể phân biệt rõ ràng?
Kẻ chuyển động thì không
thể đứng yên (đình trụ), không có kẻ chuyển động thì
cũng không có cái gọi là (kẻ) đứng yên, tách rời khỏi
kẻ chuyển động và kẻ không chuyển động thì làm gì có
cái thứ ba nào là cái đứng yên?
(Ðã bảo rằng) kẻ chuyển
động thì không thể đang đứng yên (* vì nếu đang đứng
yên thì không thể bảo kẻ đó đang di chuyển), làm sao có
ý nghĩa nếu bảo rằng kẻ chuyển động đang đứng yên,
điều đó không hợp lý: nếu đang khi tách rời khỏi sự
chuyển động thì ngay lúc đó không thể có được kẻ đang
chuyển động.
Ðã chuyển động, chưa chuyển
động và đang chuyển động cả ba đều không thể đứng
yên, những sự vật có sự đi đứng (* pháp hành chỉ: sự
vận hành di động và sự đình chỉ bất động) đều đồng
nghĩa với sự chuyển động. (tam thời di chuyển).
Cho rằng sự chuyển động
chính là kẻ chuyển động thì việc này không đúng mà bảo
rằng sự chuyển động khác biệt với kẻ chuyển động thì
cũng không hợp lẽ.
Nếu quan niệm rằng ngay nơi
chính sự chuyển động tức là kẻ chuyển động (như thế
thì) tác giả và tác nghiệp (*người tạo tác ra nghiệp và
nghiệp được tạo tác) lại là một.
Nếu chủ trương rằng sự
chuyển động có sự khác biệt với kẻ chuyển động như
thế thì: tách rời kẻ chuyển động vẫn có sự chuyển động
và tách rời sự chuyển động vẫn có kẻ chuyển động.
Nếu sự chuyển động và kẻ
chuyển động là hai và nếu sự đồng nhất và sai biệt được
thành lập thì cả hai đều bất thành, như thế thì, làm thế
nào (có thể cho rằng có cái gọi là sự chuyển động) có
thể thành lập.
Vì có sự chuyển động mà
biết có kẻ chuyển động, không thể cho rằng kẻ chuyển
động chính là sự chuyển động, vì trước đó không có
sự di động cho nên cũng không có kẻ chuyển động di động.
Nhân vì sự chuyển động mà
biết kẻ chuyển động, không thể sử dụng sự chuyển động
nào khác vì chính ngay trong một kẻ chuyển động không thể
có được hai sự chuyển động.
Ðã quyết định dứt khoát
là có kẻ chuyển động thì không thể dùng ba sự chuyển
động (đã, chưa và đang) và nếu không quyết định là có
kẻ chuyển động thì cũng không thể sử dụng ba sự chuyển
động được.
Sự chuyển động dù quyết
định là có hay không (quyết định hay không quyết định)
thì kẻ chuyển động cũng không thể sử dụng ba sự chuyển
động trên. Vì thế mà sự chuyển động, kẻ chuyển động
và nơi chốn chuyển động (sở xứ khứ) cả ba đều không.
(* nhân, pháp và thời-không: Thời gian và nơi chốn đều không
có tự tánh).
______________
PHẨM
THỨ BA:
QUÁN
LỤC TÌNH
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý vân vân... sáu tình thức (tính năng), mắt vân vân...
sáu tình thức này (nếu không nhờ có tác dụng của) sáu
trần (tức ngoại cảnh như) hành (* hành uẩn: có thể hiểu
là nghiệp lực, chỉ cho một nhóm ý chí trong đó gồm cả
những sinh hoạt thuộc về tính chất ý chí và bản năng.
Hành uẩn giữ một vai trò vô cùng quan trọng và đầy tính
quyết định), sắc (* Sắc uẩn chỉ cho nhóm vật chất bao
gồm bốn đại: đất, nước, gió, lửa) vân vân... thì mắt
(chắc chắn) không có khả năng tự thấy tự thể của chính
nó, mà nếu không có khả năng tự thấy thì làm thế nào
có thể thấy được vật khác.
Ví dụ về lửa thì không thể
(thích hợp) để có thể tạo thành (luận lý cho rằng) mắt
thấy được muôn sự muôn vật (pháp). Vấn đề này đã được
giải đáp một cách tổng quát trong phẩm nói về đã chuyển
động, chưa chuyển động và đang chuyển động (* phẩm thứ
hai).
Cái thấy nếu chưa đang thấy
(lúc chưa thấy) thì không thể gọi là thấy, nhưng, bảo rằng
cái thấy có khả năng (để) thấy, việc đó không đúng.
Cái thấy đã không thể có
(sự) thấy, (cái) chẳng phải thấy (phi kiến) cũng chẳng
thấy, nếu phá trừ xong cái thấy tức là phá trừ kẻ thấy
(* cái thấy đã bị phá thì đương nhiên người thấy cũng
bị phá bỏ).
Tách lìa cái thấy hay chẳng
tách rời cái thấy thì cũng không thể có được người thấy.
Vì không có người thấy cho nên không thể nào có thể có
sự thấy (*kiến: nhãn căn) và cái có thể thấy (*khả kiến:
sắc trần).
Và, vì cái thấy và đối tượng
có thể thấy cả hai đều không, thế nên, thức vân vân...
bốn pháp (* thức, xúc, thọ và ái) cũng không, (và như thế
thì), bốn thủ (*dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và
ngã ngữ thủ) vân vân... các duyên làm sao có thể hiện hữu
được?
Tai, mũi, lưỡi, thân, ý, âm
thinh (thinh trần) và người nghe vân vân... cũng phải được
hiểu biết như thế trong ý nghĩa như đã đề cập.
______________
PHẨM
THỨ TƯ:
QUÁN
NĂM ẤM
Nếu tách lìa sắc nhân (* nguồn
cội, nguyên nhân của sắc, chỉ về các trần cảnh) thì không
thể có được sắc (pháp) mà nếu lìa sắc (pháp) thì không
thể có được sắc nhân.
Lìa sắc nhân mà sắc pháp
vẫn hiện hữu, như vậy thì, sắc đó là vô nhân (không có
nhân), không có nhân nhưng pháp vẫn hiện hữu, việc đó không
đúng.
Nếu lìa sắc (pháp quả) nhưng
vẫn có (sắc) nhân, thế thì có nhân nhưng không có quả (*
vì không có quả thì không thể gọi là nhân) và, nếu bảo
rằng có nhân nhưng không có quả thì đó là điều phi lý
không thể chấp nhận được.
Nếu đã có sắc thì không
cần đến nhân của sắc, và nếu không có sắc thì cũng không
cần đến nhân của sắc.
Nhưng nếu không có nhân mà
sắc vẫn hiện hữu thì việc đó hoàn toàn phi lý. Vì thế
nên, bậc thức giả không nên (khởi tâm) phân biệt về sắc.
Nếu quan niệm rằng Quả tương
tợ với Nhân (nếu nhân và quả giống nhau) thì không đúng,
mà cho rằng quả chẳng giống nhân thì cũng sai lầm.
Thọ ấm và tương ấm, hành
ấm và thức ấm vân vân... tất cả bao nhiêu pháp khác cũng
đều đồng (giống với) như sắc ấm.
Nếu có người cật vấn (về
hiện tượng hoặc thật thể của các pháp) ai muốn giải
đáp mà lìa bỏ, không dựa vào Nghĩa Không (không tánh) để
giải đáp thì sự giải đáp đó bất thành, không khác gì
người nghi vấn kia.
Và nếu có người vấn nạn
mà không y cứ vào Nghĩa Không (lìa Không nghĩa) để chỉ bày
sự sai lầm của đối phương thì cuộc vấn nạn đó bất
thành, (vì lẽ người giải đáp cũng mê độn) chẳng khác
gì kẻ nghi vấn kia.
_______________
PHẨM
THỨ NĂM:
QUÁN
LỤC CHỦNG
(Ðịa, Thủy,
Hỏa, Phong, Không, Thức)
Lúc chưa có hình tướng của
hư không thì không có vật thể (được gọi là) hư không,
nếu hư không có trước (những tướng trạng) thì chính nó
(hư không) không có hình tướng (vô tướng).
Pháp (vật thể) vô tướng
này (không có hình tướng này) không thể tìm thấy (không
hề có) trong bất cứ nơi nào. Trong Pháp Vô tướng (vật thể
không có tướng trạng) (*đã là một vật thể không có tướng
trạng) thì tướng trạng đó là vô hình tướng (* vì chính
nó đã vô tướng - vô sở tướng: không có bất cứ một
tướng trạng nào).
Trong vấn đề Hữu tướng
(có tướng trạng) và Vô tướng (không có tướng trạng),
(nếu y vào) tướng thì không có điểm tựa (vô sở trụ)
(* vì đã là vô tướng ), còn nếu lìa bỏ hữu tướng và
vô tướng (có hình trạng và không có hình trạng) thì cũng
không có bất cứ điểm tựa nào (*không trụ ở những nơi
khác: không hiện hữu).
Vì Pháp tướng (năng tướng)
không có nên Pháp khả tướng (* sở tướng: tướng trạng
của những hình tướng hay tướng trạng của các pháp) cũng
không, và, vì Pháp khả tướng (sở tướng) không có nên Pháp
tướng (năng tướng) cũng không có (dịch cách khác: vì không
có tướng trạng của vật thể (pháp), nên không có tướng
trạng của vật thể có tướng trạng và vì không có tướng
trạng của vật thể có tướng trạng nên cũng không thể
có cái gọi là tướng trạng của vật thể).
Vì thế nên, hiện tại chẳng
những đã không có Tướng (năng) (bất cứ tướng trạng nào)
mà còn không luôn cả Khả tướng (sở) (vật thể có tướng
trạng) và, khi đã lìa bỏ cả Tướng lẫn Khả tướng (tướng
trạng và vật thể có tướng trạng) thì cũng không thể tìm
thấy có (cái gọi là tự thể của) sự vật.
Nếu giả thiết rằng không
có cái gọi là Hữu (* hữu: thật tại của tự tánh) thì
làm sao có cái gọi là vô. Ðã không có Hữu và Vô (* có và
không ) thế thì đủ biết kẻ tri nhận về Hữu và Vô đó
là ai rồi (* ý nói kẻ đó không có trí tuệ để đủ sức
quán chiếu và thấy được thật tướng của muôn sự muôn
vật-các pháp).
Thế nên biết rằng hư không
là phi hữu nhưng đồng thời cũng là phi vô (chẳng phải có
nhưng cũng chẳng không có); nó vừa là phi tướng (năng), phi
khả tướng (sở) (* chẳng phải tướng trạng, chẳng phải
vật thể có tướng trạng hoặc chẳng phải tướng năng mà
cũng chẳng phải tướng sở). Ngoài ra, năm thứ khác (địa,
thủy, hỏa, phong và thức) cũng giống như hư không (* tức
là: phi hữu diệc phi vô, phi tướng phi khả tướng).
Những kẻ thiển trí (có một
trình độ nhận thức nông cạn, trí huệ cạn cợt không sáng
suốt) chỉ nhìn thấy các pháp (muôn sự muôn vật) qua tướng
Hữu hoặc tướng Vô (có và không của tướng) nên không đủ
khả năng để tri nhận được pháp an lạc, tịch lặng niết
bàn.
(*Kẻ trí tuệ nông cạn ngu
độn chỉ thấy các pháp hoặc có hình tướng hay không có
hình tướng. Họ không thể thấy và hiểu rõ thật tướng
của các pháp, không hiểu rõ lý duyên khởi tánh không tức
không thấy được Pháp Diệt Kiến An ổn tức là các pháp
tịch diệt tánh, tức là niết bàn giải thoát an lạc).
________________
PHẨM
THỨ SÁU:
QUÁN
ÁI DỤC VÀ
KẺ
THAM NHIỄM ÁI DỤC
Nếu tách lìa những ái dục
nhưng trước đó (trước khi có ái dục) kẻ đắm nhiễm ái
dục vẫn hiện hữu, vẫn tự có (thì không đúng). Bởi vì
nhân có kẻ tham nhiễm ái dục nên mới sanh ra những ái dục.
Nếu không có kẻ tham nhiễm
ái dục thì làm sao lòng ái dục có thể hiện hữu. Nếu (suy
luận như thế thì) có hay không có ái dục, người tham nhiễm
ái dục vẫn như thế (như cách lập luận trên).
Quan niệm rằng Ái dục và
kẻ tham nhiễm ái dục đồng lúc hiện hữu lập thành là
một điều không hợp lý. Vì nếu ái dục và kẻ tham nhiễm
ái dục đồng thời hiện hữu thì cả hai đã không có sự
hỗ tương tùy thuộc (tương đãi).
Kẻ tham nhiễm ái dục và sự
ái dục nếu là đồng nhất, là một, như vậy thì, đã là
một vật thể (pháp) thì làm thế nào có thể hòa hợp và,
nếu kẻ tham nhiễm ái dục và sự ái dục là khác biệt nhau,
như vậy thì, hai vật thể (pháp) đã khác biệt nhau thì làm
sao có thể hòa hợp?
Nếu là đồng nhất nhưng vẫn
có sự hòa hợp thì lẽ ra khi lìa bỏ sự hỗ tương tùy thuộc
cũng vẫn có sự hòa hợp và nếu là sai biệt (ái dục khác
với kẻ tham nhiễm ái dục) mà sự hòa hợp vẫn hiện hữu
thì khi tách rời sự hỗ tương tùy thuộc lẽ ra cũng vẫn
có sự hòa hợp.
Nếu là sai biệt nhau nhưng
vẫn có sự hòa hợp thì ái dục và kẻ tham nhiễm ái dục
là sự thể gì? Và hai tướng (thể tánh hai pháp) trước đã
sai khác nhưng (tại sao) sau lại bảo là hợp tướng (thể
tướng hòa hợp)?
Nếu ái dục và kẻ tham nhiễm
ái dục thể tánh (tướng) của mỗi cái đã trở thành sai
khác (* nếu ái dục và kẻ tham nhiễm ái dục một bên đã
có tự thể độc lập và) đã thành là tướng sai biệt, (mà
đã thành tướng sai biệt (dị tướng)) rồi thì tại sao (vì
lý do gì) vẫn cứ bảo là hòa hợp?
Không có dị tướng (tướng
sai biệt) được thành lập vì thế nên ông muốn hòa hợp
nhưng chung cục (rốt ráo) hợp tướng (tướng hòa hợp) vẫn
không thành thế mà vẫn cứ bảo là dị tướng (tướng sai
biệt)!
Vì dị tướng bất thành nên
hợp tướng cũng bất thành thế mà tại sao đối với vấn
đề dị tướng vẫn cứ muốn đề cập về hợp tướng?
Như vậy ái dục và kẻ tham
nhiễm ái dục chẳng phải do hòa hợp (phi hòa hợp) và chẳng
phải chẳng hòa hợp (phi bất hòa hợp) mà thành lập. Các
pháp cũng như thế, chẳng phải phi hòa hợp hay phi bất hòa
hợp mà thành. (Các pháp cũng thế, không phải được thành
lập từ vấn đề chẳng phải hòa hợp hay chẳng phải chẳng
hòa hợp).
_________________