214.
KINH BỆ-HA-ĐỀ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn
Cấp cô độc.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan trú tại Xá-vệ, có chút việc tại Đông
viên Lộc mẫu giảng đường. Lúc đó Tôn giả A-nan dẫn một
thầy Tỳ-kheo ra khỏi Xá-vệ [2]
, đến Đông viên Lộc mẫu giảng đường. Công việc
xong, Tôn giả dẫn thầy Tỳ-kheo trở về vườn Cấp cô độc,
trong rừng Thắng.
Khi
ấy Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cỡi trên con voi Nhất-bôn-đà-lị [3]
cùng với Đại thần Thi-lị-a-trà [4]
từ thành Xá-vệ đi ra. Tôn giả A-nan khi ấy nhìn thấy
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la từ xa đi đến, bèn hỏi vị
Tỳ-kheo đồng hành rằng:
"Có
phải là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la ấy không?"
Vị
Tỳ-kheo đáp:
"Đúng
vậy.”
Tôn
giả A-nan liền tẻ xuống đường, lánh vào một gốc cây.
Vua Ba-tư-nặc từ xa nhìn thấy Tôn giả A-nan nơi gốc cây
bèn hỏi:
"Này
Thi-lị-a-trà, có phải là Sa-môn A-nan ấy không?"
Thi-lị-a-trà
đáp:
"Đúng
vậy.”
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la bảo Đại thần Thi-lị-a-trà:
"Khanh
hãy giục voi đến chỗ Sa-môn A-nan."
Thi-lị-a-trà
vâng lệnh bèn giục voi đến chỗ A-nan.
Rồi
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la vui mừng hỏi:
"A-nan,
từ đâu đến đây và muốn đi đâu bây giờ?”
"Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, tôi từ Đông viên Lộc mẫu giảng đường đến và
muốn trở về vườn Cấp cô độc, trong rừng Thắng.”
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la nói:
"A-nan,
nếu tại Thắng lâm không có việc gì gấp, xin Ngài từ mẫn
đi cùng tôi đến sông A-di-la-bà-đề [5].
Tôn
giả A-nan nhận lời Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la. Nhà vua
để Tôn giả A-nan đi trước, rồi cùng đến sông A-di-la-bà-đề.
Đến nơi, vua bước xuống, lấy yên voi gấp làm tư, trải
lên đất và mời Tôn giả A-nan:
"Xin
mời ngồi trên chỗ này!"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Thôi
được rồi, Đại vương, trong lòng thỏa mãn là đủ."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại ba lần mời Tôn giả A-nan:
"A-nan,
xin mời ngồi lên chỗ này."
Tôn
giả A-nan cũng đáp lại ba lần:
“Thôi
được rồi, Đại vương, trong lòng thỏa mãn là đủ. Tôi
đã có sẵn tọa cụ. Tôi sẽ ngồi nơi đây.”
Nói
xong Tôn giả A-nan trải tọa cụ và ngồi kiết già.
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la chào hỏi A-nan rồi ngồi xuống một bên
mà nói rằng:
"A-nan,
tôi có điều muốn hỏi mong ngài cho phép."
Tôn
giả A-nan trả lời.
"Đại
vương, ngài có điều gì cứ hỏi; tôi nghe sẽ suy nghĩ."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la hỏi:
"A-nan,
Đức Thế Tôn có hành những thân hành như vậy chăng? Tức
là thân hành mà các Sa-môn, Phạm chí ghê tởm chăng?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, Như Lai không có những thân hành như vậy tức là thân
hành mà các Sa-môn Phạm chí, những người thông minh trí tuệ
và hàng thế gian khác ghê tởm."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! A-nan, điều mà tôi không đủ khả năng để
nói, kể cả những người thông minh trí tuệ, và những hàng
thế gian khác, thì A-nan đủ khả năng. Này A-nan, nếu ai không
nhận định kỹ mà đã chê bai hay khen ngợi thì tôi không
coi đó là chơn thật. Này A-nan, Đức Thế Tôn có những thân
hành như vầy, những thân hành mà các Sa-môn Phạm chí những
người thông minh trí tuệ và những hàng thế gian khác ghê
tởm chăng?"
Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, Như Lai không bao giờ hành những thân hành như vậy,
tức những thân hành mà các Sa-môn Phạm chí những người
thông minh trí tuệ và những hàng thế gian khác ghê tởm."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành?" [6]
A-nan
đáp:
“Đại
vương, đó là những thân hành bất thiện."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi.
"Thế
nào là thân hành bất thiện?"
A-nan
đáp:
“Đó
là những thân hành có tội."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành có tội?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, đó là những thân hành bị người trí ghê tởm [7]."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành bị người trí ghê tởm?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, đó là những thân hành hại mình, hại người, hại
cả hai, diệt trí tuệ, hỗ trợ sự ác, không chứng đắc
Niết-bàn, không dẫn đến trí, không dẫn đến giác, không
dẫn đến Niết-bàn. Người ấy đối với pháp nên hành,
không biết như thật, đối với pháp không nên hành cũng không
biết như thật. Khi đối với pháp nên hành không biết như
thật, và pháp không nên hành cũng không biết như thật rồi,
đối với pháp nên chấp thủ không biết như thật, và đối
với pháp không nên chấp thủ cũng không biết như thật. Sau
khi đối với pháp nên thủ đã không biết như thật, và đối
với pháp không nên thủ cũng không biết như thật rồi, đối
với pháp nên đoạn trừ không biết như thật, và đối với
pháp không nên đoạn trừ cũng không biết như thật. Sau khi
đối với pháp nên đoạn trừ đã không biết như thật, và
đối với pháp không nên đoạn trừ cũng không biết như thật;
thì đối với pháp nên thành tựu không biết như thật và
đối với pháp không nên thành tựu cũng không biết như thật.
Sau khi đối với pháp nên thành tựu đã không biết như thật
và pháp không nên thành tựu cũng không biết như thật rồi,
do đó, pháp nên hành trì thì không hành, pháp không nên hành
trì lại hành. Sau khi pháp nên hành trì thì không hành, pháp
không nên hành trì lại hành rồi, đối với pháp nên thủ
thì không thủ và pháp không nên thủ lại thủ. Sau khi đối
với pháp nên thủ thì không thủ, đối với pháp không nên
thủ lại thủ rồi, đối với pháp nên đoạn trừ thì không
đoạn trừ, đối với pháp không nên đoạn trừ lại đoạn
trừ. Sau khi đối với pháp nên đoạn trừ thì không đoạn
trừ, và đối với pháp không nên đoạn trừ lại đoạn trừ
rồi, đối với pháp nên thành tựu thì không thành tựu, và
đối với pháp không nên thành tựu lại thành tựu. Sau khi
pháp nên thành tựu thì không thành tựu, và pháp không nên
thành tựu lại thành tựu rồi thì pháp bất thiện càng tăng
và pháp thiện càng giảm. Vì vậy, Như Lai không bao giờ hành
những pháp ấy."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
tại sao Như Lai không bao giờ hành những pháp ấy?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, ly dục và dục đã diệt tận, ly nhuế và nhuế đã
diệt tận, ly si và si đã diệt tận, Như Lai đoạn trừ tất
cả pháp bất thiện, thành tựu tất cả pháp thiện. Đây
là Bậc Thầy khuyến giáo, Bậc Thầy vi diệu, Bậc Thầy khéo
tùy thuận, là Vị dẫn dắt điều ngự, tùy thuận điều
ngự, là Vị nói năng toàn thiện, nói năng vi diệu, nói năng
khéo tùy thuận. Cho nên Như Lai trọn không bao giờ hành những
pháp bất thiện ấy."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! A-nan, Như Lai không bao giờ hành những pháp
không nên hành. Vì sao vậy? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước,
Chánh Đẳng Giác. A-nan, ngài là đệ tử của vị Đạo sư
ấy, học đạo để chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng,
mà còn không hành pháp ấy, huống nữa Đức Như Lai lại hành
các pháp ấy sao?"
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
Như Lai có hành những thân hành như vầy, tức là thân hành
mà các Sa-môn Phạm chí, những người thông trí tuệ và các
hàng thế gian khác không ghê tởm chăng?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, Như Lai tất nhiên hành những thân hành như vậy, tức
thân hành các Sa-môn Phạm chí, những người thông minh trí
tuệ và các hàng thế gian khác không ghê tởm."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thân hành đó là như thế nào?"
Tôn
giả A-nan đáp:
“Đại
vương, đó là những thân hành thiện."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành thiện?"
Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, đó là thân hành không có tội."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành không có tội?"
Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, đó là thân hành mà kẻ trí không ghê tởm."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
thế nào là thân hành mà kẻ trí không ghê tởm?"
Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, đó là những thân hành không hại mình, không hại
người, không hại cả hai, có giác, có tuệ, không hỗ trợ
bởi sự ác, chứng đắc Niết-bàn, đưa đến trí, đưa đến
giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Đối với pháp nên hành thì
biết như thật, đối với pháp không nên hành cũng biết như
thật. Sau khi đối với pháp nên hành đã biết như thật,
đối với pháp không nên hành cũng biết như thật rồi, đối
với pháp nên thủ biết như thật, đối với pháp không nên
thủ cũng biết như thật. Sau khi đối với pháp nên thủ đã
biết như thật, và đối với pháp không nên thủ cũng biết
như thật rồi, đối với pháp nên đoạn trừ biết như thật,
và pháp không nên đoạn trừ biết như thật. Sau khi đối
với pháp đã biết như thật và pháp không nên đoạn trừ
đã biết như thật rồi, đối với pháp nên thành tựu biết
như thật và pháp không nên thành tựu cũng biết như thật.
Sau khi đối với pháp nên thành tựu đã biết như thật và
pháp không nên thành tựu cũng biết như thật rồi, đối với
pháp nên hành thì hành, đối với pháp không nên hành thì
không hành. Sau khi đối với pháp nên hành thì hành, đối
với pháp không nên hành thì không hành rồi, đối với pháp
nên thủ thì thủ, đối với pháp không nên thủ thì không
thủ. Sau khi đối với pháp nên thủ thì thủ, đối với pháp
không nên thủ thì không thủ rồi, đối với pháp nên đoạn
trừ thì đoạn trừ đối với pháp nên đoạn trừ thì không
đoạn trừ. Sau khi biết pháp nên đoạn trừ thì đoạn trừ,
và pháp không nên đoạn trừ thì không đoạn trừ rồi, đối
với pháp nên thành tựu thì thành tựu và đối với pháp
không nên thành tựu thì không thành tựu. Sau khi đối với
pháp nên thành tựu thì thành tựu, pháp không nên thành tựu
thì không thành tựu rồi, pháp bất thiện càng giảm, pháp
thiện càng tăng trưởng. Cho nên Như Lai tất nhiên hành những
pháp ấy."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại hỏi:
"A-nan,
tại sao Như Lai tất nhiên hành những pháp ấy?"
Tôn
giả A-nan trả lời:
"Đại
vương, ly dục và dục đã diệt tận, ly nhuế và nhuế đã
diệt tận, ly si và si đã diệt tận, Như Lai đã thành tựu
tất cả pháp thiện, và đoạn trừ tất cả pháp bất thiện.
Ngài là Bậc Thầy khuyến giáo, Bậc Thầy vi diệu, Bậc Thầy
khéo tùy thuận, là Vị hướng dẫn điều ngự và tùy thuận
điều ngự, là Vị nói năng toàn thiện, nói năng vi diệu,
nói năng khéo tùy thuận, cho nên Như Lai tất nhiên hành những
pháp ấy."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la khen ngợi:
"Hay
thay, hay thay, A-nan, Như Lai tất nhiên hành những pháp nên hành.
Vì sao vậy? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước, là Bậc Đẳng
Chánh Giác. Này A-nan, Ngài là bậc đệ tử của Đức Đạo
Sư ấy, học đạo để chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thường,
mà còn phải hành những pháp ấy, huống nữa Như Lai lại
không hành những pháp ấy sao? A-nan nói thật khéo léo khiến
tôi hoan hỷ. Nếu A-nan được phép thâu nhận thuế tô trong
làng, tôi sẽ vì pháp mà bố thí thuế tô đó. Nếu A-nan được
phép tùy thuận nhận voi, ngựa, trâu, dê, tôi sẽ vì pháp
mà bố thí voi, ngựa, trâu, dê đó. Nếu A-nan được phép
thâu nhận đàn bà con gái, tôi sẽ vì pháp mà bố thí vợ,
đàn bà, con gái. Nếu A-nan được phép thâu nhận vàng bạc
châu báu [8],
tôi sẽ vì pháp mà bố thí vàng bạc và châu báu. Nhưng A-nan
không được phép thâu nhận vàng bạc và châu báu như thế.
Vương gia Câu-tát-la của tôi có một chiếc áo tên là bệ-ha-đề [9]
rất tốt, tôi đặt nó trong ống cán dù, được gởi đến
để làm tin [10].
Trong các loại áo kiếp-bối [11]
của vương gia Câu-tát-la, áo này là bậc nhất trong
tất cả. Vì sao vậy? Áo bệ-ha-đề dài mười sáu khủy tay.
Tôi nay vì Pháp đem chiếc áo này bố thí A-nan. A-nan sẽ dùng
nó mà may thành ba y để vương gia Câu-tát-la ấy được mãi
mãi tăng ích phước lành."
Tôn
giả A-nan đáp:
“Thôi
đủ rồi Đại vương? Trong tâm thỏa mãn là đủ. Tôi đã
có đủ ba y rồi."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại thưa:
"A-nan,
xin nghe tôi nói một ví dụ, người có trí tuệ nghe ví dụ
sẽ thấu rõ ý nghĩa. Ví như sau trận mưa lớn, nước đầy
cả sông A-di-la-bà-đề này, ngập cả hai bên bờ và chảy
tràn ra cả ngoài. A-nan có thấy vậy không?"
Tôn
giả A-nan đáp: Đại vương, tôi có thấy.
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la lại thưa rằng:
"Cũng
thế, này A-nan, nếu có ba y thì hãy đem cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
các vị tiệm học, xá-la, xá-la-ma-ni-ly [12].
Còn A-nan đem bệ-ha-đề này làm thành ba y để vương gia Câu-tát-la
được tăng ích phước lành."
Tôn
giả A-nan im lặng nhận lời. Khi biết A-nan nhận rồi, Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la sau khi theo pháp bố thí chiếc y bệ-ha-đề
cho Tôn giả A-nan rồi, liền từ chỗ đứng dậy nhiễu quanh
ba vòng rồi lui về. Sau khi vua đi không bao lâu, Tôn giả A-nan
bèn đem chiếc y bệ-ha-đề đến trước Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, rồi lui đứng một bên mà thưa rằng:
"Bạch
Thế Tôn, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la vì pháp mà
bố thí chiếc y bệ-ha-đề này, vậy con xin Thế Tôn đặt
chân lên trên chiếc y này để vương gia nước Câu-tát-la
được tăng ích phước lành."
Khi
ấy Đức Thế Tôn bèn dẫm hai chân lên y bệ-ha-đề rồi
bảo:
"A-nan,
nếu ông đã bàn luận những gì cùng Ba-tư-nặc vua nước
Câu-tát-la hãy kể lại cho Ta nghe."
Khi
ấy Tôn giả A-nan bèn kể lại hết những điều đã luận
bàn cùng vua nước Câu-tát-la cho Thế Tôn nghe rồi chắp tay
thưa:
"Con
nói như vậy không xuyên tạc Thế Tôn chăng? Con nói đúng
sự thật, nói đúng như pháp, nói đúng pháp như pháp, đối
với pháp như pháp không có điều gì sai lầm chăng?”
Đức
Thế Tôn bảo:
"Ông
nói như vậy là không xuyên tạc Ta, là nói sự thật, là nói
đúng pháp, nói đúng như pháp, đối với pháp như pháp, không
có điều gì sai lầm. Này A-nan, nếu Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la
hỏi Ta bằng nghĩa này, với câu này, với văn này, Ta cũng
trả lời bằng nghĩa này, với câu này, với văn này mà trả
lời cho nhà vua."
"A-nan,
nghĩa ấy đúng như lời ông đã nói, ông nên theo đúng như
vậy mà thọ trì. Vì sao vậy? Vì nói như vậy chính là nghĩa
như vậy."
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.