213.
KINH PHÁP TRANG NGHIÊM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Phật du hóa giữa những người họ Thích, trú trong một
đô ấp của Thích gia tên là Di-lũ-ly [2].
Bấy
giờ Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la và Trường Tác [3]
vì có những việc cần làm nên cùng đi đến một thị trấn
tên gọi là Thành [4]
. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, đến một khu vườn
nơi ấy, nhìn thấy những gốc cây vắng vẻ, không tiếng
động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, thích
hợp cho sự tĩnh tọa. Sau khi nhìn thấy như vậy, nghĩ nhớ
Đức Thế Tôn, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nói rằng:
"Này
Trường Tác, ở đây, những gốc cây này vắng vẻ, không
có tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người,
thích hợp cho sự tĩnh tọa. Tại chỗ này ta đã nhiều lần
đến thăm viếng Đức Thế Tôn. Này Trường Tác, Đức Thế
Tôn hiện giờ đang ở đâu? Ta muốn đến thăm.”
Trường
Tác trả lời:
"Tôi
nghe nói Đức Thích Tôn đang du hóa giữa những người họ
Thích, trú trong một đô ấp của Thích gia, tên gọi là Di-lũ-ly."
Ba-tư-nặc
nước Câu-tát-la lại hỏi:
"Này
Trường Tác, Di-lũ-ly, đô ấp của Thích gia cách đây bao xa?”
"Trường
Tác đáp:
"Tâu
Thiên vương, cách đây ba cu-lô-xá [5]."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la nói:
"Này
Trường Tác, ngươi hãy ra lệnh cho sửa soạn xa giá. Ta muốn
đến chỗ Thế Tôn."
Trường
Tác vâng lời cho sửa soạn xa giá, rồi tâu rằng:
"Tâu
Thiên vương, xa giá đã sửa soạn xong, xin vâng ý Thiên vương."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la bèn lên xe, dong khỏi thành ngoài đi đến
Di-lũ-ly, đô ấp của Thích gia.
Bấy
giờ, ngoài cổng Di-lũ-ly, một số đông các Tỳ-kheo đang
đi kinh hành trên một khoảng đất trống. Ba-tư-nặc vua nước
Câu-tát-la đến nơi các Tỳ-kheo hỏi rằng:
"Thưa
các Tôn giả, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban ngày ở
đâu?”
Các
Tỳ-kheo trả lời rằng:
"Đại
vương, ngôi nhà lớn hướng Đông kia, với cửa sổ mở và
cửa lớn đóng ấy, Đức Thế Tôn hiện đang nghỉ mát ban
ngày tại đó. Đại vương nếu muốn đến thăm, có thể đi
đến nơi đó, đến nơi hãy đứng bên ngoài, rồi tằng hắng
và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe tất sẽ mở cửa."
Ba-tư-nặc
vua nước Câu-tát-la bèn xuống xe.
Khi
một vị Sát-lợi Đảnh Sanh xuất hiện để cai trị nhân
dân, và ban hành giáo lệnh cho cõi đất, thì có năm nghi trượng.
Đó là kiếm, lọng, tràng hoa, phất cán ngọc và giày thêu.
Vua cởi bỏ tất cả trao cho Trường Tác. Trường Tác nghĩ
rằng:
"Thiên
vương nay tất chỉ đi vào một mình. Chúng ta nên đứng ở
đây mà đợi vậy.”
Rồi
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la với đám tùy tùng vây quanh
bước tới ngôi nhà hướng Đông kia. Đến nơi, vua đứng
ngoài tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe rồi, bèn
ra mở cửa. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đi vào trong nhà
đến trước Đức Phật cúi đầu lễ sát chân, rồi ba lần
tự xưng tên họ.
"Con
là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, con là Ba-tư-nặc vua nước
Câu-tát-la!"
Đức
Thế Tôn đáp:
“Như
vậy, Đại vương, ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la.
Ngài là Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la!"
Sau
ba lần tự xưng tên họ, vua Ba-tư-nặc đảnh lễ dưới chân
Phật và lui ngồi một bên. Đức Thế Tôn hỏi:
"Đại
vương, Đại vương thấy Ta có những nghĩa lợi nào mà tự
hạ mình đảnh lễ dưới chân và cúng dường cung kính như
vậy?"
Vua
Ba-tư-nặc thưa:
"Bạch
Thế Tôn, con có sự loại suy về pháp[6]
đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật
là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật khéo thú
hướng [7].’
"Bạch
Thế Tôn, khi con ngồi trên đô tọa [8],
con nhìn thấy mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ;
cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha; cho đến anh
em, chị em, thân bằng quyến thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong
khi tranh chấp, mẹ nói con xấu, con nói mẹ xấu, cha con, anh
em, chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau. Người
thân thích trong nhà còn như thế, huống nữa là người ngoài.
Còn ở đây, con thấy chúng Tỳ-kheo, đệ tử của Thế Tôn
theo Thế Tôn tu hành phạm hạnh. Hoặc nếu có Tỳ-kheo nào
gây ra ít nhiều tranh chấp, xả giới bỏ đạo cũng không
nói xấu Phật, không nói xấu pháp, không nói xấu chúng Tăng,
mà chỉ tự chê trách rằng, ‘Tôi xấu xa, thiếu đức hạnh.
Tại sao như vậy? Vì tôi không thể theo Thế Tôn trọn đời
tu hành phạm hạnh’. Đó là sự loại suy về pháp của con
đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật
là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo
thú hướng’.
"Bạch
Thế Tôn, lại nữa, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác đã
ít nhiều học hành phạm hạnh, hoặc chín tháng, hoặc mười
tháng, nhưng lại xả bỏ để theo sắc phục trước kia, rồi
lại bị nhiễm ô bởi dục vọng, nhiễm dục, dính trước
dục, bị dục trói chặt, kiêu ngạo, chấp thủ, thâm nhập,
sống hoan lạc trong sự hành dục mà không thấy tai họa, không
thấy xuất yếu. Bạch Thế Tôn, con thấy ở đây chúng Tỳ-kheo
đệ tử của Thế Tôn tự nguyện trọn đời tu tập phạm
hạnh, cho đến ức số. Ngoài đây ra con không thấy ở đâu
có phạm hạnh thanh tịnh như vậy, như mái nhà của Thế Tôn.
Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn.
Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp của Đức Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện.
Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí thân thể
gầy còm tiều tụy, tướng mạo xấu xí, thân nổi vẩy trắng [9]
không ai muốn nhìn. Con tự nghĩ rằng, ‘Các Tôn giả này
vì sao thân thể lại gầy còm, tiều tụy, tướng mạo xấu
xí, thân nổi vẩy trắng, không ai muốn nhìn. Các Tôn giả
này ắt không tu phạm hạnh, hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút
làm việc xấu xa, cho nên các Tôn giả này thân hình gầy còm,
tiều tụy, hình sắc xấu xa, mình nổi vẩy trắng không ai
muốn nhìn’. Con đến hỏi họ, ‘Các Tôn giả vì sao thân
hình tiều tụy gầy còm, tướng mạo xấu xí, mình nổi vẩy
trắng, không ai muốn nhìn? Có phải các Tôn giả không thích
tu hành phạm hạnh chăng? Hoặc vì bệnh hoạn hay lén lút làm
việc xấu xa, cho nên các Tôn giả thân thể gầy còm tiều
tụy?’ Những vị ấy đáp, ‘Đại vương, đây là bệnh
trắng! Đại vương, đây là bệnh trắng [10]’.
"Bạch
Thế Tôn, con thấy chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn, sống
hân hoan đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể tịnh khiết,
vô vi vô cầu [11]
sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng [12],
tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh. Thấy vậy, con nghĩ
rằng, ‘Các Tôn giả này vì sao được hân hoan, đoan chánh,
sắc mặt vui tươi hình thể tịnh, khiết, vô vi, vô cầu,
sống đời tịnh hạnh, ăn uống như loài nai rừng? Tự mình
trọn đời tu hành phạm hạnh? Các Tôn giả hoặc đã đạt
đến ly dục, hoặc chứng đắc tăng thượng tâm, đối với
hiện pháp lạc trụ[13]
chứng đạt dễ dàng không khó. Cho nên các Tôn giả
này mới được hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình
thể tịnh, khiết, vô vi, vô cầu, sống đời tịnh hạnh,
ăn uống như loài nai rằng, tự mình trọn đời tu hành phạm
hạnh. Nếu sống trong dục lạc mà được hân hoan, đoan chánh,
thì chính ta phải được đời sống hân hoan đoan chánh ấy.
Vì sao? Vì ta hưởng thụ năm thứ diệu dục, một cách dễ
dàng không khó. Nhưng các Tôn giả này đạt đến sự ly dục,
chứng đắc tăng thượng tâm, đối với hiện pháp lạc trú
thành tựu dễ dàng không khó. Vì vậy cho nên các Tôn giả
này sống hân hoan, đoan chánh, sắc mặt vui tươi, hình thể
tịnh khiết, vô vi vô cầu, sống đời tịnh hạnh, ăn uống
như loài nai rừng, tự mình trọn đời tu hành phạm hạnh.
Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn,
do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ
tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí thông minh
trí tuệ, tự xưng mình thông minh trí tuệ, bác văn quyết
định, thuộc làu các kinh, chế phục cường dịch, đàm luận
thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người ai cũng đều
nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá tông chủ
của người mà tự lập luận điểm của mình, và nói rằng,
‘Chúng ta hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, mà hỏi ông những
điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được như thế
này, thì ta vặn hỏi thế kia. Nếu ông không trả lời được
thì ta cũng vặn hỏi rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn du hóa
tại làng nọ, vị này liền tìm đến, nhưng khi gặp Phật
thì lại chẳng dám hỏi lời nào huống nữa là vấn nạn.
Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn.
Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ
tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí, thông
minh trí tuệ, tự xưng là thông minh trí tuệ, bác văn quyết
định, thuộc làu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận
thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người đều nghe biết,
đi đến chỗ nào thảy đều đả phá tông chỉ người khác
mà tự lập luận điểm của mình. Và nói rằng, ‘Chúng ta
hãy đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi ông những điều
như vầy như vầy. Nếu ông trả lời được thế này, ta lại
vặn hỏi ông cách kia. Nếu ông trả lời không được, ta
cũng vặn hỏi rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn du hóa tại
làng nọ, vị này liền đến tìm hỏi, được Thế Tôn trả
lời rõ ràng. Nghe xong Sa-môn Phạm chí này vui mừng hớn hở,
cúi đầu lễ sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui. Đó
là sự loại suy về pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó,
con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ
tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác, thông
minh trí tuệ, tự xưng là thông minh trí tuệ, bác văn quyết
định, thuộc làu các kinh, chế phục cường địch, đàm luận
thông suốt, danh tiếng đồn khắp, mọi người đều nghe biết,
đi đến nơi nào thảy đều đả phá chủ trương tông chỉ
của người mà tự lập luận điểm của mình và nói rằng,
‘Chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi ông những
điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được như thế
này, ta lại vặn hỏi ông cách khác. Nếu ông không trả lời
được, ta cũng vặn hỏi ông rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế
Tôn du hóa tại làng nọ, vị này liền đến hỏi, được
Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn Phạm chí này liền
vui mừng phấn khởi, liền tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo;
được Thế Tôn thọ nhận làm Ưu-bà-tắc; trọn đời quy
y cho đến tận mạng. Đó là sự loại suy về pháp của con
đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật
là toàn thiện; chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo
thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con thấy một Sa-môn Phạm chí khác thông
minh trí tuệ, tự xưng là thông minh trí tuệ, bác văn quyết
định, thuộc làu các kinh, chế phục được cường địch,
đàm luận thông suốt, danh tiếng đồn khắp mọi người đều
nghe biết, đi đến nơi nào thảy đều đả phá chủ trương
tông chỉ của người mà lập luận điểm của mình mà nói
rằng, "Chúng ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi
ông những điều như vầy, như vầy. Nếu ông trả lời được
như thế này, ta lại vặn hỏi ông cách kia. Nếu ông trả
lời không được, ta cũng vặn hỏi ông rồi bỏ đi’. Họ
nghe Thế Tôn du hóa tại làng nọ, vị này liền tìm đến
hỏi, được Thế Tôn trả lời rõ ràng. Nghe xong, Sa-môn Phạm
chí này vui mừng phấn khởi bèn theo Thế Tôn cầu xin xuất
gia thọ giới Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo. Thế Tôn bèn độ
cho và truyền trao giới Cụ túc, đắc pháp Tỳ-kheo. Khi các
Tôn giả ấy xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, đắc
pháp Tỳ-kheo rồi, sống cô độc một nơi xa vắng, tâm không
buông lung, tinh cần tu tập. Vị ấy sau khi sống cô độc tại
một nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tinh cần tu tập, đạt
đến mục đích mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo, là duy chỉ để thành tựu vô thượng phạm
hạnh, ngay trong đời hiện tại mà tự tri, tự giác, tự thân
chứng ngộ an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa’. Khi các Tôn giả ấy biết pháp rồi,
cho đến chứng đắc A-la-hán; chứng đắc A-la-hán rồi, bèn
nói rằng, ‘Này chư Hiền, trước kia tôi gần bị suy vong
gần bị hủy diệt. Vì sao vậy? Trước kia tôi không phải
là Sa-môn tự xưng là Sa-môn; không phải phạm hạnh tự xưng
phạm hạnh, không phải A-la-hán tự xưng A-la-hán. Bấy giờ
chúng ta mới thực sự là Sa-môn, thực sự là phạm hạnh,
thực sự là A-la-hán’. Đó là sự loại suy về pháp của
con đối với Thế Tôn. Do đó, con nghĩ rằng, ‘Pháp được
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật
là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo
thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con tự do trong quốc thổ của mình, muốn
giết kẻ không lỗi lầm thì ra lệnh giết, muốn giết kẻ
có lỗi lầm ra lệnh giết; nhưng khi con ngồi trên đô tọa,
con vẫn không được tự do mà nói như vầy, ‘Các khanh hãy
giữ im. Không ai hỏi việc nơi các khanh, mà chính là hỏi
việc nơi ta. Các khanh không thể quyết đoán việc này, chỉ
có ta mới có thể quyết đoán việc này’. Nhưng ở trong
đó vẫn có người bàn cãi việc khác, không đợi người
trước nói xong. Con đã nhiều lần thấy Thế Tôn thuyết pháp
với đại chúng vây quanh. Bấy giờ có một người ngủ gật
mà ngáy, thấy gây tiếng động, một người khác bèn nói
rằng, ‘Ngài chớ có ngáy gây tiếng động. Ngài không muốn
nghe pháp được Thế Tôn nói như cam lồ chăng?’ Người ấy
nghe rồi tức thì im lặng. Con nghĩ rằng, ‘Như Lai, Bậc Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là Bậc Điều Ngự đại chúng.
Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Vì sao vậy? Vì Ngài
không cần dùng dao, dùng gậy, nhưng tất cả đều đúng như
pháp mà được an ổn khoái lạc’. Đó là sự loại suy về
pháp của con đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp
được Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng
dạy thật là toàn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật
là khéo thú hướng’.
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, hai viên thần tá Tiên Dư và Túc Cựu [14]
được con ban phát tiền tài, và con thường khen ngợi họ;
đời sống họ do nơi con. Nhưng con không thể khiến cho hai
vị thần tá này hạ ý cung kính, cúng dường, phụng sự con
như họ hạ ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng sự Thế
Tôn. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với Thế
Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là toàn thiện.
Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, thuở xưa trong lúc xuất chinh, ngủ đêm
trong một ngôi nhà nhỏ, con muốn thử hai viên thần tá Tiên
Dư và Túc Cựu khi ngủ quay đầu về phía nào, quay về phía
con hay quay về phía Thế Tôn ở. Rồi hai vị thần tá Tiên
Dư và Túc Cựu, vào lúc đầu hôm, ngồi kiết già im lặng
tĩnh tọa. Đến nửa hôm nọ nằm ngủ, đầu hướng về phía
mà họ biết Thế Tôn đang ở, còn chân thì quay về phía con.
Thấy thế con suy nghĩ, ‘Hai viên thần tá Tiên Dư và Túc
Cựu này không quan tâm đến sự thù thắng trước mắt, cho
nên họ không hạ ý cung kính tôn trọng cúng dường phụng
sự ta như hạ ý cung kính tôn trọng, cúng dường phụng sự
Thế Tôn’. Đó là sự loại suy về pháp của con đối với
Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, giảng dạy thật là toàn
thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật là khéo thú hướng.’
"Lại
nữa, bạch Thế Tôn, con là quốc vương, Thế Tôn cũng là
Pháp vương. Con thuộc dòng Sát-lợi, Thế Tôn cũng thuộc dòng
Sát-lợi. Con là người nước Câu-tát-la, Thế Tôn cũng người
nước Câu-tát-la. Con đã tám mươi tuổi, Thế Tôn cũng tám
mươi tuổi. Con có thể trọn đời hạ ý cung kính, tôn trọng,
cúng dường phụng sự Thế Tôn.
"Bạch
Thế Tôn, hôm nay có nhiều công việc, con xin phép lui về."
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đại
vương, mong Đại vương tự biết đúng thời.”
Rồi
thì Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, sau khi nghe những lời
Phật dạy, khéo léo ghi nhớ, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi
lui ra về.
Lúc
đó ngài A-nan cầm quạt đứng hầu sau Phật. Thế Tôn bảo:
"A-nan,
nếu có Tỳ-kheo nào đang sống ở rừng Di-lũ-ly này, hãy tập
họp tất cả về giảng đường."
Rồi
thì, Tôn giả A-nan sau khi vâng lời Phật dạy, tập họp tất
cả Tỳ-kheo đang sống trong rừng Di-lũ-ly tất cả cùng vào
giảng đường. Rồi trở lại bạch Phật:
"Bạch
Thế Tôn, những Tỳ-kheo tại rừng Di-lũ-ly này, tất cả đều
đã tụ tập tại giảng đường này rồi, mong Thế Tôn tự
biết thời."
Bấy
giờ Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường. Đến
nơi Ngài trải chỗ ngồi trước đại chúng và nói:
"Này
các Tỳ-kheo, hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đã đứng
trước Ta nói kinh ‘Pháp Trang Nghiêm’[15]
xong, liền đứng dậy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ta, nhiễu
quanh ba vòng rồi lui về. Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên thọ
trì kinh Pháp Trang Nghiêm đó, hãy khéo léo tụng đọc. Vì
sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì kinh Pháp Trang Nghiêm này là như
pháp, là như nghĩa, là căn bản của phạm hạnh, dẫn đến
trí tuệ, dẫn đến giác ngộ, dẫn đến Niết-bàn. Nếu một
thiện nam tử đã chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, hãy nên thọ trì, hãy khéo léo
tụng tập kinh Pháp Trang Nghiêm này."
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
1.
Tương đương Pāli, M.89. Dhammacetiya-suttaṃ.
2.
Di-lũ-ly 彌 婁 離. Pāli: Medaḷumpa.
3.
Trường Tác 長 作. Pāli: Dīghakāryāṇa, viên đại tướng
tổng chỉ huy của vua Pasenadi.
4.
Ấp danh thành 邑 名 成. Pāli: Naṅgaraka.
5.
Câu-lũ-xá 拘 婁 舍, hay câu-lô-xá, số đo dài năm trăm cung,
hay khoảng cách tiếng rống của một con bò. Bản Pāli: ba
yojana, do-tuần.
6.
Pháp tĩnh 法 靖 (bản Tống: 靜); Pāli: Dhammanvaya, tổng tướng
của pháp, loại cú của pháp, mục đích thứ tự của pháp.
Đây chỉ sự suy diễn dựa trên những chứng nghiệm thực
tế.
7.
Pāli: svākkhato bhagavato dhammo suppaṭipanno sāvakasaṅgho,
Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, Tăng đệ tử của Thế
Tôn khéo thực hành.
8.
Đô tọa 都 坐. Pāli: atthakaraṇa, công đường, pháp
đình, chỗ xử kiện.
9
.Bạch pháo 白 皰.
10.
Bạch bệnh 白 病. Pāli: bandhukarogo, bệnh truyền nhiễm,
(bệnh hoàng đản hay hoàng đậu?).
11.
Vô vi vô cầu 無 為 無 求. Pāli: appossukka pannaloma,
thoải mái vô tư.
12.
Hộ tha thế, thực như lộc: paradavutte migabhūtena
(...) sống do sự hỗ trợ của người khác, (...) như loài
nai.
13.
Tăng thượng tâm, hiện pháp lạc trụ: chỉ cho sự chứng
đắc bốn tĩnh lự.
14.
Tiên Dư, Túc Cựu 仙 餘 宿 舊. Pāli: Isidatta, Purāṇa.
15.
Pháp trang nghiêm 法 莊 嚴. Pāli: dhammacetiya, linh
miếu Pháp, tháp thờ phụng Chánh pháp.