211.
KINH ĐẠI CÂU-HY-LA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc, vườn
Ca-lan-đa.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử vào lúc xế từ tĩnh tọa dậy, đi
đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la,
[2] chào hỏi nhau xong rồi ngồi xuống một bên.
Tôn
giả Xá-lê Tử nói rằng:
"Này
Hiền giả Đại Câu-hy-la, tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả
nghe cho chăng?
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:
"Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, muốn hỏi xin cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ
suy nghĩ."
Tôn
giả Xá-lê Tử hỏi rằng:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, bất thiện, được nói là bất thiện;
bất thiện căn, được nói là bất thiện căn. Thế nào là
bất thiện? Thế nào là bất thiện căn?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Thân
ác hành, khẩu và ý ác hành, đó là bất thiện vậy. Tham,
nhuế, si, đó là bất thiện căn vậy. Đó là bất thiện và
bất thiện căn."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Hay
thay! Lành thay! Hiền giả Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong, hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Câu-hy-la, thiện, được nói là thiện; thiện căn, được
nói là thiện căn. Thế nào là thiện? Thế nào là thiện căn?
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Thân
diệu hạnh, khẩu và ý diệu hạnh, đó là thiện vậy. Không
tham, không nhuế, không si, đó là thiện căn vậy. Đó là thiện
và thiện căn."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Trí
tuệ, được nói là trí tuệ. Thế nào là trí tuệ?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:
"Biết
như vậy, cho nên nói là trí tuệ. Biết những gì? Biết như
thật ‘Đây là Khổ’, biết như thật ‘Đây là Khổ tập’,
‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt Đạo’. Biết
như vậy cho nên được nói là trí tuệ."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, thức, được nói là thức; thế nào là
thức?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Thức,
nhận thức, cho nên nói là thức. [3]
Nhận thức những gì? Nhận thức, sắc, nhận thức thanh, hương,
vị, xúc, pháp. Thức, nhận thức, cho nên nói là thức."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ và thức, hai pháp này hiệp nhất
hay riêng biệt? Có thể thi thiết hai pháp này riêng biệt chăng?"[4]
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Hai
pháp này hiệp nhất chứ không riêng biệt. Không thể thi thiết
hai pháp ấy riêng rẽ. Vì sao vậy? Những gì được biết
bởi trí tuệ cũng được biết bỡi thức. Cho nên hai pháp
này hiệp nhất chứ không riêng biệt, và không thể cho rằng
hai pháp này riêng rẽ."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, người biết, ngài lấy gì để biết?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Biết,
tôi do trí tuệ mà biết."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Tôn giả Đại Câu-hy-la!"
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng
gì? Có công đức gì?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Trí
tuệ có nghĩa yểm ly, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy như
thật.[5"]
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, thế nào là chánh kiến?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Biết
như thật về Khổ, biết như thật về Khổ tập, Khổ diệt
và Khổ diệt đạo. Đó gọi là chánh kiến."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, có bao nhiêu duyên sanh
chánh kiến?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
hai nhân, có hai duyên sanh chánh kiến. Những gì là hai? Một
là duyên từ người khác, hai là nội tâm tư duy. Đó là có
hai nhân, có hai duyên sanh chánh kiến."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu chi thâu nhiếp chánh kiến
để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả,
đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công
đức?”
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Có
năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải
thoát quả, tuệ giải thoát quả; đạt được tâm giải thoát
công đức, tuệ giải thoát công đức. Những gì là năm? Một
là được thâu nhiếp bởi chân đế, hai là được thâu nhiếp
bởi giới, ba là được thâu nhiếp bởi bác văn, bốn là
được thâu nhiếp bởi chỉ, năm là được thâu nhiếp bởi
quán. Đó gọi là năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt
được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được
tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức.”
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, như thế nào sanh sự hữu trong tương
lai [6]?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Phàm
phu ngu si, vô tri, không đa văn, bị vô minh che lấp, bị ái
kết trói buộc, không gặp thiện tri thức, không hiểu biết
Thánh pháp, không điều ngự Thánh pháp, đó gọi là làm phát
sanh sự hữu trong tương lai."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, thế nào là không sanh sự hữu trong tương
lai?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Nếu
vô minh đã diệt, minh đã sanh, tất diệt tận khổ. Đó gọi
là không phát sanh sự hữu trong tương lai."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu thọ?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
ba thọ, là khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ.
Thọ này duyên đâu mà có? Duyên xúc mà có."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la!"
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, thọ, tưởng, tư, ba pháp này hiệp nhất
hay riêng biệt? Có thể thi thiết ba pháp này riêng biệt chăng?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:
"Thọ,
tưởng, tư, ba pháp này hiệp nhất không riêng biệt. Không
thể thi thiết ba pháp này là riêng biệt. Vì sao? Những gì
được cảm thọ bởi thọ, cũng được tưởng bởi tưởng,
được tư bởi tư. Cho nên nói ba pháp này hiệp nhất không
riêng biệt, và không thể thi thiết ba pháp này riêng biệt."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Diệt
có sự đối ngại gì?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Diệt
không có sự đối ngại.”
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có năm căn với hành dị biệt [7],
cảnh giới dị biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng.
Nhãn căn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn. Năm căn hành tướng dị
biệt, cảnh giới dị biệt, mỗi căn tự lãnh thọ cảnh giới
riêng. Vậy cái gì lãnh thọ tất cả cảnh giới cho chúng?
Cái gì làm sở y cho chúng?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:
“Năm
căn với hành tướng dị biệt, với cảnh giới dị biệt,
mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng. Nhãn căn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân căn. Năm căn này với hành tướng riêng biệt, với cảnh
giới riêng biệt, mỗi căn lãnh thọ cảnh giới riêng; ý lãnh
thọ tất cả cảnh giới cho chúng. Ý làm sở y cho chúng."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Ý
nương tựa vào đâu mà tồn tại?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Ý
nương tựa vào tuổi thọ mà tồn tại."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, tuổi thọ nương vào đâu mà tồn tại?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:
"Tuổi
thọ nương vào hơi ấm mà tồn tại."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, tuổi thọ và hơi ấm, hai pháp này hiệp
nhất hay riêng biệt? Có thể thi thiết hai pháp này riêng biệt
chăng?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Tuổi
thọ và hơi ấm hai pháp này hiệp nhất không riêng biệt.
Không thể cho rằng hai pháp này riêng biệt. Vì sao? Nhân tuổi
thọ mà có hơi ấm; nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không
có tuổi thọ thì không có hơi ấm, nếu không có hơi ấm
thì không có tuổi thọ. Cũng như do dầu do bấc mà đốt được
đèn; và ở đây do ngọn mà có ánh sáng, do ánh sáng mà có
ngọn. Nếu không có ngọn thì không có ánh sáng, không có
ánh sáng thì không có ngọn. Cũng vậy, nhân tuổi thọ mà
có hơi ấm, nhân hơi ấm mà có tuổi thọ. Nếu không có tuổi
thọ thì không có hơi ấm, không có hơi ấm thì không có tuổi
thọ. Cho nên hai pháp này hiệp nhất không riêng biệt, và
không thể cho rằng hai pháp này riêng biệt."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu pháp khi sanh thân chết rồi
bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
ba pháp khi sanh thân chết rồi bỏ xác ngoài bãi tha ma như
cây gỗ vô tình. Những gì là ba? Một là tuổi thọ, hai là
hơi ấm, ba là thức. Ba pháp này sau khi sanh thân chết rồi,
bỏ xác ngoài bãi tha ma như cây gỗ vô tình."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, chết và nhập diệt tận định khác nhau
như thế nào?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Chết
là thọ mạng đã diệt, hơi nóng ấm đã đi, các căn tan rã.
Tỳ-kheo nhập diệt tận định, tuổi thọ chưa hết, hơi ấm
cũng chưa đi, các căn chưa tan rã. Chết và nhập diệt tận
định khác nhau như vậy."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, nhập diệt tận định và nhập vô tưởng
định khác nhau như thế nào?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo
nhập diệt tận định thì tưởng và tri đã diệt. Tỳ-kheo
nhập vô tưởng định thì tưởng và tri không diệt. Nhập
diệt tận định và nhập vô tưởng định khác nhau như vậy."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, ra khỏi diệt tận định và ra khỏi vô
tưởng định khác nhau như thế nào?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo
ra khỏi diệt tận định không nghĩ như vầy, ‘Ta ra khỏi
diệt tận định’. Tỳ-kheo ra khỏi vô tưởng định suy nghĩ
như vầy, ‘Ta có tưởng hay ta không có tưởng?’ Ra khỏi
diệt tận định và vô tưởng định khác nhau như vậy.”
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, Tỳ-kheo nhập diệt tận định trước
hết diệt pháp nào, thân hành, khẩu hành hay ý hành?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo
nhập diệt tận định trước hết diệt thân hành, kế đến
khẩu hành và sau hết là ý hành."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, Tỳ-kheo ra khỏi diệt tận định, pháp
nào phát sanh trước hết? Thân hành, khẩu hành hay ý hành?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Tỳ-kheo
ra khỏi diệt tận định, trước hết sanh thân hành, kế đến
sanh khẩu hành và sau cùng sanh ý hành."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Tỳ-kheo
khi ra khỏi diệt tận định, xúc bao nhiêu loại xúc?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
“Tỳ-kheo
ra khỏi diệt tận định, xúc ba loại xúc. Những gì là ba?
Một là xúc không di động; hai là xúc vô sở hữu; ba là xúc
vô tướng. Tỳ-kheo khi ra khỏi diệt tận định xúc ba loại
xúc này."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, không, vô nguyện, vô tướng, ba pháp này
khác nhau về nghĩa, về văn? Hay cùng một nghĩa một văn?”
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Không,
vô nguyện, vô tướng, ba pháp này khác nghĩa, khác văn."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong, khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát
sanh bất động định?”
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
bốn nhân, bốn duyên phát sanh bất động định. Những gì
là bốn? Nếu Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến
chứng đắc Tứ thiền thành tựu an trụ. Đó gọi là bốn
nhân bốn duyên phát sanh bất động định.”
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát
sanh vô sở hữu định?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
ba nhân, ba duyên phát sanh vô sở hữu định. Những gì là
ba? Nếu Tỳ-kheo vượt tất cả sắc tưởng cho đến chứng
đắc vô sở hữu xứ thành tựu an trụ. Đó gọi là ba nhân
ba duyên phát sanh vô sở hữu định."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên phát
sanh vô tưởng định?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
hai nhân, hai duyên phát sanh vô tưởng định. Những gì là
hai? Một là không suy niệm tất cả mọi tưởng, hai là suy
niệm vô tưởng giới. Đó gọi là có hai nhân, hai duyên phát
sanh vô tưởng định."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân, bao nhiêu duyên trụ
vô tưởng định?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
hai nhân, hai duyên trụ vô tưởng định. Những gì là hai?
Một là không niệm tất cả tưởng, hai là niệm vô tưởng
giới. Đó là hai nhân duyên hai duyên trụ vô tưởng định."
Tôn
giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la."
Tôn
giả Xá-lê Tử khen xong hoan hỷ phụng hành. Lại hỏi:
"Hiền
giả Đại Câu-hy-la, có bao nhiêu nhân bao nhiêu duyên ra khỏi
vô tưởng định?"
Tôn
giả Đại Câu-hy-la đáp:
"Có
ba nhân ba duyên ra khỏi vô tưởng định. Những gì là ba?
Một là niệm tất cả tưởng; hai là không niệm vô tưởng
giới; ba là do thân này và do sáu xứ duyên mạng căn. Đó
gọi là có ba nhân, ba duyên ra khỏi vô tưởng định."
Như
vậy, hai vị Tôn giả tán thán lẫn nhau rằng: "Lành thay! Lành
thay!" và những điều được thảo luận đó, hoan hỷ phụng
hành, rồi rời khỏi chỗ ngồi đứng dậy mà đi.