208.
KINH TIỄN MAO (II)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, ở Trúc lâm vườn
Ca-lan-đa cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi
người, an cư mùa mưa.
Bấy
giờ, trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát
vào thành Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn
y bát, rửa chân tay, Ngài khoác ni-sư-đàn trên vai và đi đến
vườn Dị học, trong rừng Khổng tước. Tại rừng Khổng
tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một người Dị
học tên là Tiễn Mao là một danh đức, bậc tông chủ, được
mọi người tôn làm thầy, có tiếng tăm lớn, mọi người
kính trọng, thống lãnh đồ chúng đông đảo, được năm
trăm vị dị học tôn trọng. Vị này ở giữa một đại chúng
đang ồn ào, nhiễu loạn, nói năng lớn tiếng, bàn luận đủ
mọi vấn đề súc sanh, tức là vấn đề vua chúa, về giặc,
về việc đấu tranh, việc ăn uống, về y phục, về đàn
bà, về con gái, về dâm nữ, về thế gian, về đồng trống,
về dưới biển và việc nước, việc dân. Những người ấy
cùng nhau nhóm họp ngồi bàn luận về những vấn đề như
súc sanh vậy.
Dị
học Tiễn Mao thấy Phật từ xa đến, dặn đồ chúng của
mình rằng: "Này các ông, hãy ngồi im lặng. Người đang đến
kia là Sa-môn Cù-đàm, đồ chúng của ông ấy im lặng, thường
ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy
chúng ta im lặng, có thể đến thăm.
Dị
học Tiễn Mao dặn đồ chúng im lặng, chính mình cũng im lặng
mà ngồi.
Thế
Tôn đi đến chỗ Dị học Tiễn Mao. Dị học Tiễn Mao liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về
Phật bạch rằng:
"Kính
chào Sa-môn Cù-đàm, Sa-môn Cù-đàm đã lâu không đến đây,
mời Ngài ngồi xuống chỗ này."
Thế
Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi Tiễn Mao đã trải sẵn. Dị
học Tiễn Mao và Thế Tôn, sau khi cùng nhau chào hỏi, rồi
lui ngồi một bên.
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
các ông vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà cùng nhau ngồi
họp ở đây? Dị học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này, vấn đề này không hay ho
gì. Sa-môn Cù-đàm muốn nghe vấn đề này để sau này nghe
cũng không khó gì."
Thế
Tôn hỏi như vậy ba lần rằng:
"Ưu-đà-di,
vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà nhóm họp ngồi đây?"
Dị
học Tiễn Mao cũng đáp lại ba lần rằng:
"Bạch
Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này, nó không hay ho gì, Sa-môn
Cù-đàm nếu muốn nghe, sau này nghe cũng không khó. Nhưng nếu
Sa-môn Cù-đàm ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói.[2]
"Bạch
Cù-đàm, tôi có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái
sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện
tài, khi nghe có người nói: ‘Thật sự có Tát-vân-nhiên,[3]
thấy tất cả, biết tất cả, không cái gì không biết,
không cái gì không thấy. Tôi liền vấn sự vị ấy, nhưng
vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy, ‘Đây
là những ai?’."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Này
Ưu-đà-di, ông có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái
sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện
tài, nhưng ai nói, ‘Thật sự có Tát-vân-nhiên, biết tất
cả, thấy tất cả, không có gì không biết, không có gì không
thấy’ nhưng khi ông đến vấn sự, thì vị ấy không biết?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, đó là Bất-lan Ca-diếp. Vì sao? Bạch Cù-đàm, vì
Bất-lan Ca-diếp tự cho là thật có Tát-vân-nhiên, biết tất
cả, thấy tất cả, không gì không biết, không gì không thấy.
Tôi có sách lự, có tư duy, trụ trong sách lự, trụ trong tư
duy có trí tuệ, có biện tài; tôi đến vấn sự. Nhưng vị
ấy không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi nghĩ thế này,
‘Đây là những ai?’
"Ma-tức-ca-lợi
Cù-xá-lợi Tử, Bà-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phù
Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi, các vị này cũng vậy.
Bạch Cù-đàm, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi tự cho thật sự
có Tát-vân-nhiên, biết tất cả thấy tất cả, không cái
gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi có sách lự,
có tư duy, trú trong sách lự, trú trong tư duy, có trí tuệ,
có biện tài, tôi đến vấn sự những vị ấy không biết.
Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi khởi ý nghĩ rằng, ‘Đây là
những ai?’
"Bạch
Cù-đàm, vậy nên tôi lại suy nghĩ, ‘Như vậy ta phải đến
chỗ Sa-môn Cù-đàm để hỏi những việc quá khứ. Sa-môn
Cù-đàm ắt có thể đáp những việc quá khứ của ta. Ta phải
đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, hỏi những việc vị lai, Sa-môn
Cù-đàm ắt sẽ đáp những việc vị lai của ta. Lại nữa,
ta tùy những việc mà hỏi cùng Sa-môn Cù-đàm, ắt Sa-môn
Cù-đàm cũng tùy mà trả lời những việc ta hỏi."
Thế
Tôn đáp rằng:
“Ưu-đà-di!
Thôi! Thôi, ông luôn luôn có dị kiến, dị nhẫn, dị lạc,
dị dục, dị ý, nên không thấu triệt ý nghĩa những điều
Ta nói. Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, có nhân, có duyên, nhớ được
vô lượng đời sống về trước, trong quá khứ, nghĩa là
một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, thành kiếp, bại
kiếp, vô lượng thành bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ
khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, chết
như vậy, từ đây sanh tử ra kia, từ kia sanh tử ra đây. Ta
sanh tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống như vậy,
ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, sống lâu như vậy,
trú lâu như vậy, thọ chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta
việc quá khứ, Ta đáp việc quá khứ cho vị ấy. Ta cũng đến
hỏi việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho Ta.
Ta tùy theo sự việc đó mà hỏi, vị đó cũng tùy theo việc
Ta hỏi mà đáp.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử thanh tịnh thiên nhãn, vượt
quá người thường, thấy chúng sanh này, khi sanh khi chết,
sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu hay bất diệu, qua lại chỗ
thiện hay bất thiện, tùy theo sự thọ nghiệp của chúng mà
thấy đúng như thật. Nếu chúng sanh này thành tựu thân ác
hạnh, thành tựu khẩu và ý ác hạnh, vu báng Thánh nhân, tà
kiến, thành tựu nghiệp tà kiến, người ấy do nhân duyên
này, khi thân hoại mạng chung ắt đến chỗ dữ, sanh vào trong
địa ngục. Nếu chúng sanh này thành tựu thân diệu hạnh,
thành tựu khẩu và ý diệu hạnh, không vu báng Thánh nhân,
chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến; người ấy do nhân
duyên này, khi thân hoại mạng chung ắt sanh lên chỗ thiện,
được sanh lên trời. Người đó đến hỏi Ta việc vị lai,
Ta đáp việc vị lai cho họ; ta cũng hỏi việc vị lai nơi
họ, họ cũng đáp việc vị lai cho ta; ta tùy theo việc người
ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng tùy theo việc ta hỏi mà
đáp."
Dị
học Tiễn Mao bạch rằng:
"Bạch
Cù-đàm, nếu như vậy, tôi càng trở thành không biết, không
thấy, càng trở thành ngu si, rớt vào ngu si. Nghĩa là vì Sa-môn
Cù-đàm nói như vầy, ‘Ưu-đà-di! Thôi! Thôi! Ông luôn luôn
dị kiến, dị nhân, dị lạc, dị dục và dị ý, nên không
thấu triệt ý nghĩa những điều ta nói. Ưu-đà-di, Ta có đệ
tử, có nhân có duyên, nhớ được vô lượng đời sống về
trước trong quá khứ, nghĩa là một đời, hai đời, trăm đời,
ngàn đời, thành kiếp, bại kiếp, vô lượng thành kiếp,
vô lượng bại kiếp, ăn uống như vậy, thọ khổ vui như
vậy, sống lâu như vậy, trụ lâu như vậy, mạng chung như
vậy, từ đây sanh tử ra kia, từ kia sanh tử ra đây, ta sanh
tại đây, họ như vậy, tên như vậy, sống lâu như vậy,
ăn uống như vậy, thọ khổ lạc như vậy, trú lâu như vậy,
mạng chung như vậy. Vị ấy đến hỏi ta việc quá khứ, ta
đáp việc quá khứ cho vị ấy; ta cũng đến hỏi vị ấy
việc quá khứ, vị ấy cũng đáp việc quá khứ cho ta. Ta theo
sự việc người đó hỏi mà đáp, người đó cũng tùy theo
sự việc ta hỏi mà đáp. Lại nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ
tử thanh tịnh thiên nhãn, vượt quá người thường, thấy
chúng sanh này khi sanh khi tử, sắc đẹp sắc xấu, sắc diệu
hay bất diệu, qua lại chỗ thiện hay chỗ bất thiện, tùy
theo sự tạo nghiệp của chúng sanh này mà thấy như thật.
Nếu chúng sanh này thành tựu thân ác hạnh, thành tựu khẩu,
ý ác hạnh, vu báng Thánh nhân, tà kiến, thành tựu nghiệp
tà kiến, người ấy do nhân duyên này khi thân hoại mạng
chung, ắt đến chỗ ác, sanh trong địa ngục. Nếu chúng sanh
này thành tựu thân diệu hạnh, khẩu, ý diệu hạnh, không
vu báng Thánh nhân, chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến,
người ấy do nhân duyên này khi thân hoại mạng chung ắt sanh
lên chỗ thiện, được sanh lên trời. Người đó đến hỏi
ta việc vị lai, ta đáp việc vị lai cho họ. Ta cũng hỏi việc
vị lai nơi vị ấy, vị ấy cũng đáp việc vị lai cho ta.
Ta tùy theo việc người ấy hỏi mà đáp, người ấy cũng
tùy việc ta hỏi mà đáp’.
"Bạch
Cù-đàm, tôi đối với đời sống này làm những gì đã làm,
được những gì đã được, nhưng vẫn không thể nhớ huống
gì có thể nhớ được sự việc trong vô lượng đời sống
về trước, có nhân có duyên sao? Bạch Cù-đàm, tôi còn không
thể thấy con quỷ Phiêu phong [4]
thì làm gì mà được thiên nhãn thanh tịnh vượt qua người
thường, thấy chúng sanh này khi chết, khi sống, sắc tốt,
sắc xấu, đẹp hoặc không đẹp, đưa đến chỗ thiện hoặc
chỗ bất thiện tùy sự tạo nghiệp của chúng sanh này, thấy
đó như thật.
"Bạch
Cù-đàm, tôi lại nghĩ như vầy, ‘Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi
ta vấn đề theo Thầy học pháp, hoặc giả có thể đáp khiến
Ngài vừa ý."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
ông theo Thầy học những pháp gì?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, người đó nói, ‘Sắc vượt quá sắc, sắc kia tối
thắng, sắc kia tối thượng.[5]
"
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
sắc là gì?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, nếu sắc nào không có sắc khác tối thượng hơn,
tối diệu hơn là tối thắng hơn; vậy sắc đó tối thắng,
sắc đó tối thượng.”
Thế
Tôn bảo rằng:
"Ưu-đà-di,
cũng như có người nói như vầy, ‘Nếu trong nước có người
con gái rất đẹp, ta muốn được người con gái đó’. Nếu
có người hỏi người đó như vầy, ‘Ông biết trong nước
có người con gái rất đẹp, nhưng có biết tên gì, họ gì,
sanh sống như thế nào? Là cao hay thấp, thô hay tế, trắng
hay đen, hoặc không trắng không đen, là con gái Sát-đế-lợi,
con gái Phạm chí, Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông,
phương Tây, phương Nam, phương Bắc?’ Người đó đáp, ‘Tôi
không biết’. Người kia lại hòi, ‘Ông không biết, không
thấy trong nước có người con gái rất đẹp, tên họ như
vậy, sanh sống như vậy, dài, ngắn, thô, tế, trắng, đen,
không trắng không đen, con gái Sát-lợi, con gái Phạm chí,
Cư sĩ, hay người thợ, ở phương Đông, phương Tây, phương
Nam hay phương Bắc, mà lại nói như vầy, ‘Ta muốn được
người con gái đó được ư’?’
"Cũng
vậy, Ưu-đà-di, ông nói như vầy, ‘Người đó nói sắc vượt
quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó tối thắng. Nhưng
khi hỏi sắc đó thì ông lại không biết."
Dị
học Tiễn Mao thưa rằng:
"Bạch
Cù-đàm, cũng như tinh vàng tử ma là thứ cực diệu, người
thợ vàng khéo mài dũa, sửa sang khiến cho trong suốt, nhờ
dùng tấm lụa trắng đem giữa nắng, sắc của nó cực diệu,
ánh sáng chiếu sáng lấp lánh. Cũng vậy, bạch Cù-đàm, tôi
nói, ‘Sắc đó vượt hơn sắc, sắc đó tối thắng, sắc
đó tối thượng’.”
Thế
Tôn bảo rằng:
"Ưu-đà-di,
nay Ta hỏi ông, tùy theo chỗ hiểu mà đáp. Ưu-đà-di, ý ông
nghĩ sao? Vàng ròng tử ma nhờ dùng lụa trắng, để giữa
nắng mà sắc của nó cực diệu chiếu sáng lấp lánh, và
ánh sáng con đom đóm trong đêm tối chiếu sáng lấp lánh,
trong hai ánh sáng đó, cái nào tối thượïng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng con đom đóm đối với ánh sáng của vàng
ròng tử ma thì ánh sáng đom đóm tối thượng, tối thắng.”
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
ý ông nghĩ sao? Ánh sáng lấp lánh của đom đóm trong đêm
tối và ánh sáng lấp lánh của đèn dầu trong đêm tối, trong
hai ánh sáng đó, cái nào tối thượng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng đèn dầu đối với ánh sáng đom đóm, thì
ánh sáng đèn dầu tối thượng, tối thắng."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
ý ông nghĩ sao? Ánh sáng đèn dầu trong đêm tối và lửa đống
cây lớn trong đêm tối, trong hai ánh sáng đó, cái nào tối
thượng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng lửa cây lớn đối với ánh sáng đốt đèn
dầu thì ánh sáng lửa đống cây lớn tối thượng, tối thắng."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
ý ông thế nào? Ánh sáng chiếu của lửa đống cây lớn,
trong đêm tối và ánh sáng chiếu của sao Thái bạch vào buổi
sáng, trời không u ám, hai ánh sáng ấy, ánh sáng nào tối
thượng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng của saoThái bạch đối với ánh sáng của
lửa đống cây lớn, thì ánh sáng của sao Thái bạch tối
thượng, tối thắng."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Này
Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của sao Thái
bạch vào buổi sáng trời không u ám và ánh sáng tỏa chiếu
của mặt trăng nửa đêm không u ám, trong ánh sáng ấy, cái
nào tối thượng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng của mặt trăng đối với ánh sáng của
sao Thái bạch thì ánh sáng của mặt trăng tối thượng, tối
thắng."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Này
Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao? Ánh sáng chiếu tỏa của mặt trăng
nửa đêm trời không u ám, và ánh sáng chiếu tỏa của mặt
trời vào mùa thu, đứng ngay giữa bầu trời trong suốt, không
u ám, trong hai ánh sáng ấy cái nào tối thượng, tối thắng?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ánh sáng mặt trời so với ánh sáng mặt trăng thì
ánh sáng mặt trời tối thượng, tối thắng."
Thế
Tôn bảo rằng:
"Này
Ưu-đà-di, có rất nhiều chư Thiên; mà nay ánh sáng của mặt
trời và ánh sáng của mặt trăng này, tuy có đại như ý túc,
có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần,
nhưng ánh sáng đó cũng không bằng ánh sáng của chư Thiên.
Ta ngày xưa đã cùng với chư Thiên tụ tập luận sự, nhưng
những điều ta nói đều vừa ý chư Thiên ấy, tuy vậy Ta
không nói: ‘Sắc vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc
đó tối thượng’. Này Ưu-đà-di, còn ông đối với ánh
lửa đom đóm, lửa sâu bọ, sắc rất tệ, rất xấu mà nói
‘Sắc đó vượt quá sắc, sắc đó tối thắng, sắc đó
tối thượng,’ và khi được hỏi lại không biết."
Dị
học Tiễn Mao thưa rằng:
"Bạch
Cù-đàm, con xin hối lỗi về lời nói này. Bạch Thiện Thệ,
con xin hối lỗi về lời nói này."[6]
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Này
Ưu-đà-di, ý ông nghĩ sao mà nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn,
con xin hối lỗi về lời nói đó, bạch Thiện Thệ, con xin
hối lỗi về lời nói đó?’.”
Dị
học Tiễn Mao đáp:
"Bạch
Cù-đàm, con nói như vầy, ‘Sắc kia vượt quá sắc, sắc
đó tối thắng, sắc đó tối thượng’. Sa-môn Cù-đàm nay
khéo tra xét tôi, khéo dạy dỗ và khéo quở trách, khiến sự
hư vọng của tôi không còn nữa. Bạch Cù-đàm, vậy nên con
nói như vầy. ‘Bạch Thế Tôn, con xin hối lỗi về lời nói
này. Bạch Thiện thệ con xin hối lỗi về lời nói này’."
Dị
học Tiễn Mao lại thưa rằng:
"Bạch
Cù-đàm, ‘Đời sau tuyệt đối lạc[7]
, có một đạo tích để chứng đắc [8]
thế giới tuyệt đối lạc.”
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
thế nào gọi là hậu thế tuyệt đối lạc? Thế nào là có
một đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc?”
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, giả sử có một người xa lìa sát sanh, đoạn trừ
sát sanh; xa lìa trộm cắp tà dâm, nói láo; cho đến, xa lìa
tà kiến được chánh kiến. Bạch Cù-đàm, đó gọi là đời
sau tuyệt đối lạc, đó gọi là chứng đắc thế giới tuyệt
đối lạc.”
Thế
Tôn lại bảo rằng:
"Ưu-đà-di,
nay Ta hỏi ông, theo sự hiểu biết mà đáp. Này Ưu-đà-di,
ý ông nghĩ thế nào? Nếu có một người xa lìa sát sanh, đoạn
trừ sát sanh, người ấy là tuyệt đối lạc, hay là hỗn
tạp khổ [9]?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, là hỗn tạp khổ."
"Nếu
có một người xa lìa trộm cắp, tà dâm, nói láo, cho đến
xa lìa tà kiến có chánh kiến, người ấy là tuyệt đối
lạc, hay là hỗn tạp khổ?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"BaÏch
Cù-đàm, là hỗn tạp khổ."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
há không phải rằng hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo
tích chứng đắc thế giới?”
Dị
học Tiễn Mao đáp:
"Bạch
Cù-đàm, hỗn tạp khổ lạc như vậy là đạo tích chứng
đắc thế giới vậy.”
Dị
học Tiễn Mao lại thưa rằng:
"Bạch
Thế Tôn, con hối lỗi lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con
hối lỗi lời nói này."
Thế
Tôn hỏi rằng:
"Ưu-đà-di,
ông nghĩ thế nào mà nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn, con hối
lỗi lời nói này. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói
này?’
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, con vừa nói, ‘Đời sau tuyệt đối lạc, có một
đạo tích chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc’. Nay Sa-môn
Cù-đàm khéo tra xét con, khéo dạy dỗ và khéo quở trách,
khiến cho sự hư vọng của con không còn nữa. Bạch Cù-đàm,
do đó con nói như vầy, ‘Bạch Thế Tôn, con hối lỗi lời
nói này. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi lời nói này’."
Thế
Tôn bảo rằng:
"Ưu-đà-di,
đời quả có tuyệt đối lạc, có một đạo tích chứng đắc
thế giới tuyệt đối lạc.”
Dị
học Tiễn Mao hỏi rằng:
"Bạch
Cù-đàm, thế nào là đời quả có tuyệt đối lạc? Thế
nào là có một đạo tích chứng đắc tuyệt đối lạc?”
Thế
Tôn đáp rằng:
“Ưu-đà-di,
nếu khi Như Lai xuất thế, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác,
Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Chúng
Hựu; người ấy đoạn trừ năm triền cái, là thứ làm tâm
tạp uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp; có
giác, có quán, hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thành
tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về giới,
về tâm, về kiến vậy. Vị ấy giác quán đã dứt, nội tâm
tịch tĩnh, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng
đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia
tương đồng về giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó
ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân
giác lạc, điều mà bậc Thánh nói là được Thánh xả, có
niệm, an trú lạc, chứng Tam thiền thành tựu an trú, cùng
với chư Thiên tương đồng về giới, về tâm và về kiến
vậy. Ưu-đà-di, đó gọi là thế giới tuyệt đối lạc."
Dị
học Tiễn Mao hỏi:
"Bạch
Cù-đàm, Trong đời, tuyệt đối lạc chỉ cùng cực là thế
chăng?"
Thế
Tôn nói:
"Trong
đời, tuyệt đối lạc không chỉ cùng cực là thế. Ưu-đà-di,
còn có đạo tích nữa chứng đắc thế giới tuyệt đối
lạc.”
Dị
học Tiễn Mao hỏi:
"Bạch
Cù-đàm, thế nào là có đạo tích nữa chứng đắc thế giới
tuyệt đối lạc?”
Thế
Tôn đáp:
“Ưu-đà-di,
Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp; có giác, có quán, hỷ
lạc do ly dục sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ, cùng
với chư Thiên kia tương đồng về giới, về tâm, về kiến
vậy. Vị ấy giác quán đã dứt, nội tâm tịch tĩnh, không
giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị thiền,
thành tựu an trụ, cùng với chư Thiên kia tương đồng về
giới, về tâm, và về kiến vậy. Vị đó ly hỷ dục, an trú
xả, vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân giác lạc, điều
mà bậc Thánh nói là được Thánh xả, có niệm, an trú lạc,
chứng Tam thiền thành tựu an trú, cùng với chư Thiên tương
đồng về giới, về tâm và về kiến vậy. Ưu-đà-di, đó
gọi là thế giới tuyệt đối lạc."
Dị
học Tiễn Mao hỏi rằng:
"Bạch
Cù-đàm, phải chăng đệ tử của Sa-môn Cù-đàm vì thế giới
tuyệt đối lạc, và vì đạo tích chứng đắc thế giới
tuyệt đối lạc ấy mà theo Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh
chăng?"
Thế
Tôn đáp rằng:
“Đệ
tử của Ta không phải chỉ vì thế giới tuyệt đối lạc
và vì chứng đắc thế giới tuyệt đối lạc ấy mà theo
học phạm hạnh. Nhưng còn có sự tối thắng, tối diệu,
tối thượng khác để chứng đắc nữa.”
Bấy
giờ cả đại chúng này cùng lớn tiếng nói:
"Cái
ấy là tối thượng, tối diệu, tối thắng; vì để chứng
đắc cái ấy mà đệ tử Sa-môn Cù-đàm theo Sa-môn Cù-đàm
học phạm hạnh."
Sau
khi làm cho đại chúng của mình im lặng rồi, Phạm chí Tiễn
Mao lại thưa rằng:
"Bạch
Cù-đàm, cái gì là tối thượng, tối diệu, tối thắng, vì
để chứng đắc như vậy, mà đệ tử Sa-môn Cù-đàm theo
Sa-môn Cù-đàm học phạm hạnh?"
Thế
Tôn đáp rằng:
“Ưu-đà-di,
Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, và ưu, hỷ đã có từ trước
cũng diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng
đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ. Ưu-đà-di, đó gọi là
tối thượng tối diệu, tối thắng, vì để chứng đắc như
vậy mà đệ tử Ta theo học phạm hạnh."
Bấy
giờ Dị học Tiễn Mao liền từ chỗ ngồi đứng dậy, muốn
cúi đầu sát chân Phật. Ngay lúc đó các đệ tử dị học
phạm hạnh của Dị học Tiễn Mao thưa với Dị học Tiễn
Mao rằng: “Tôn giả nay đáng làm bậc Thầy mà muốn làm
đệ tử Sa-môn Cù-đàm ư? Khi nào Tôn giả không đáng làm
Thầy, rồi hãy làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm vậy."
Đó
là các đệ tử của Dị học Tiễn Mao là chướng ngại cho
Dị học Tiễn Mao đối với sự tu học phạm hạnh.
Phật
thuyết như vậy. Dị học Tiễn Mao sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
1.
Tương đương Pāli: M.79. Cūḷa-Sakuludāyi-sutta.
2.
Toàn cả đoạn trên, giống kinh 208.
3.
Tát-vân-nhiên 薩 云 然; Pāli: sabaññu, hoặc âm là tá-bà-nhã:
vị Nhất thiết trí; người hay đấng Toàn trí.
4.
Phiêu phong quỷ 飄 風 鬼; Pāli: Pamsupisācaka, “quỷ bùn",
môt loại tì-xá-xà.
5.
Pāli: ayaṃ paramo vaṇṇo ayaṃ paramo vaṇṇo ti, "sắc này
là tối thượng, sắc này là tối thượng". Sắc (vaṇṇa)
ở đây có nghĩa màu sắc hay màu da.
6.Thế
Tôn, hối quá thử thuyết. Pāli: acchidaṃ Bhagavā kathaṃ, Thế
Tôn đã cắt đứt vấn đề.
7.
Hậu thế nhất hướng lạc 後 世 一向 樂. Pāli: ekantasukho
loko, thế giới nhất hướng lạc.
8.
Pāli: atthi ākāravatī paṭipadā... sacchikiriyāyāti, có đường
lối có cơ sở để thực chứng bản thân.
9.
Tạp khổ 雜 苦. Pāli: sukhadukkhī, vừa sướng vừa khổ.