207.
KINH TIỄN MAO (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, ở Trúc lâm, vườn
Ca-lan-đà cùng đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi
người đang an cư mùa mưa.
Bấy
giờ trải qua đêm, lúc vừa sáng, Thế Tôn mang y cầm bát
vào thành Vương xá để khất thực. Khất thực xong, thu dọn
y bát, rửa chân tay, Ngài khoác y ni-sư-đàn trên vai và đi
đến vườn Dị học trong rừng Khổng tước. [2]
Tại
rừng Khổng tước, trong vườn Dị học, bấy giờ có một
người Dị học tên là Tiễn Mao [3]
là một vị danh đức, là bậc Tông chủ, được nhiều
người tôn làm Thầy, có tiếng tăm lớn, nhiều người kính
trọng ông đang ở giữa đám đông ồn ào, lớn tiếng, âm
thanh huyên náo, luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh, [4]
như: bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn
chuyện đấu tranh, bàn chuyện ăn uống, bàn chuyện áo chăn,
bàn chuyện phụ nữ, bàn chuyện đàn bà, bàn chuyện con gái,
bàn chuyện dâm nữ, bàn chuyện thế gian, bàn chuyện tà đạo,
bàn chuyện trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập
luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh.
Dị
học Tiễn Mao thấy Phật từ xa đến, dặn dò chúng của mình
rằng: "Này các ông, hãy ngồi im lặng, người đang đến kia
là Sa-môn Cù-đàm. Đồ chúng của ông ấy im lặng, thường
ưa sự im lặng, khen ngợi sự im lặng. Ông ấy nếu thấy
chúng ta im lặng, có thể sẽ đến thăm.”
Dị
học Tiễn Mao dặn chúng im lặng, chính mình cũng im lặng mà
ngồi.
Thế
Tôn đi đến chỗ Dị học Tiễn Mao. Dị học Tiễn Mao liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay mà bạch
Phật rằng:
"Kính
chào Sa-môn Cù-đàm, Sa-môn Cù-đàm đã lâu không đến đây.
Mời Ngài ngồi xuống chỗ này."
Thế
Tôn liền ngồi xuống chỗ ngồi Tiễn Mao đã trải sẵn. Dị
học Tiễn Mao và Thế Tôn sau khi cùng nhau chào hỏi, rồi lui
ngồi một bên.
Thế
Tôn hỏi rằng: “Ưu-đà-di, [5]
các ông vừa bàn luận những gì, do việc gì mà cùng
nhóm họp ở đây?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Bạch
Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này. Vấn đề này không hay ho
gì. Sa-môn Cù-đàm nếu muốn nghe vấn đề này để sau này
nghe cũng không khó gì."
Thế
Tôn hỏi như vậy ba lần rằng:
"Ưu-đà-di,
các ông vừa bàn luận những vấn đề gì? Do việc gì mà
cùng nhóm họp nơi đây?"
Dị
học Tiễn Mao cũng đáp lại ba lần rằng:
"Bạch
Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này. Nó không hay ho gì. Sa-môn
Cù-đàm nếu muốn nghe sau này nghe cũng không khó. Nhưng Sa-môn
Cù-đàm ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói.
"Bạch
Cù-đàm, chúng tôi cùng với số đông các Phạm chí nước
Câu-tát-la cùng tụ tập ngồi ở học đường Câu-tát-la [6]
bàn luận như vầy, "Thật tốt đẹp và lợi ích cho dân nước
Ương-già Ma-kiệt-đà! [7]
Thật tốt đẹp và lợi ích cho người nước Ương-già Ma-kiệt-đà!
Chúng Đại phước điền [8]
như thế cùng an cư mùa mưa tại thành Vương xá.
"Đó
là có ngài Phất-lan Ca-diếp [9]
Vì
sao? Bạch Cù-đàm, Phất-lan Ca-diếp là bậc Tông chủ danh
đức, làm Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người
kính trọng, lãnh đạo đồ chúng lớn, được năm trăm dị
học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa tại thành Vương xá này.
"Cũng
vậy, Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Bệ-la-trì Tử,
Ni-kiền Thân Tử, Ba-phục Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi.
Bạch Cù-đàm, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi là danh đức Tông
chủ, làm Thầy mọi người, có tiếng tăm lớn, mọi người
đều kính trọng, thống lãnh đồ chúng lớn, được năm trăm
dị học tôn trọng, cùng an cư mùa mưa ở thành Vương xá.
"Vừa
rồi cùng bàn đến Sa-môn Cù-đàm rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm
này là bậc danh đức Tông chủ, làm Thầy mọi người có
tiếng tăm lớn, mọi người kính trọng, thống lĩnh đại
chúng Tỳ-kheo được một ngàn hai trăm người tôn trọng,
cũng cùng nhau an cư mùa mưa tại thành Vương xá này.
"Bạch
Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, ‘Nay trong các Sa-môn, Phạm chí
được tôn trọng này, ai là người được đệ tử cung kính,
cúng dường, không bị đệ tử đúng theo pháp mắng nhiếc,
cũng không bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn
không thể có, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi
bỏ đi?’
"Bạch
Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, Phất-lan Ca-diếp này không được
đệ tử hầu hạ, tôn trọng, cúng dường, bị đệ tử dùng
pháp mà mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử nạn vấn rằng ‘Điều
này hoàn toàn không thể được, không tương ưng, không chính
đáng’. Nói rồi bỏ đi.
"Bạch
Cù-đàm, thuở xưa Phất-lan Ca-diếp đã có lần ở trong chúng
đệ tử giơ tay la lớn, ‘Các ông hãy dừng lại! Không có
ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi, các ông không thể
giải quyết việc này, nhưng ta có thể giải quyết được
việc này’. Nhưng các đệ tử ngay trong lúc đó lại bàn
luận việc khác nữa, không chờ ngươi nói xong vấn đề.
Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như vậy, Phất-lan Ca-diếp
này không được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng
dường. Bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều
đệ tử vấn nạn rằng: ‘Điều này hoàn toàn không thể
được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi liền
bỏ đi.
"Ma-tức-ca-lợi
Cù-xá-lợi Tử, Sa-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-phục
Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi. Cũng vậy, bạch Cù-đàm,
chúng tôi lại nghĩ, ‘A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi này, không
được đệ tử hầu hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường,
bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ
tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể được,
không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.
"Bạch
Cù-đàm, thuở xưa A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi đã có lần
ở trong chúng đệ tử giơ tay la lớn rằng, ‘Các ông hãy
dừng lại, không có ai đến hỏi các ông. Người ta hỏi tôi,
các ông không thể giải quyết được việc này’. Nhưng các
đệ tử ngay trong lúc đó, lại bàn luận việc khác không
chờ ngươi nói xong. Bạch Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như
vậy, A-di-đa Kê-xá Kiếm-bà-lợi, không được đệ tử hầu
hạ, cung kính, tôn trọng, cúng dường mà bị đệ tử dùng
pháp mạ lỵ mắng nhiếc, rất nhiều đệ tử vấn nạn rằng
‘Điều này hoàn toàn không thể được, không tương ưng,
không chính đáng’. Nói rồi bỏ đi.
"Bạch
Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, Sa-môn Cù-đàm này được đệ
tử hầu hạ, cung kính, tông trọng, cúng dường, cũng không
bị đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều này hoàn toàn không thể
được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi bỏ
đi.
"Bạch
Cù-đàm, thuở xưa Sa-môn Cù-đàm đã có lần nói pháp tại
đại chúng, vô lượng trăm ngàn người vây quanh. Ngay bấy
giờ có một người ngủ mà ngáy. Lại có một người bảo
người kia rằng ‘Đừng có ngủ ngáy. Ông không muốn nghe
Thế Tôn nói pháp vi diệu như cam lồ sao?’ Người kia liền
im lặng không gây tiếng động nữa.
"Bạch
Cù-đàm, chúng tôi lại nghĩ, như vậy Sa-môn Cù-đàm được
đệ tử hầu hạ cung kính, tôn trọng, cúng dường, không
bị đệ tử dùng pháp mạ lỵ mắng nhiếc, cũng không bị
đệ tử vấn nạn rằng ‘Điều đó hoàn toàn không thể
được, không tương ưng, không chính đáng’. Nói rồi liền
bỏ đi.”
Thế
Tôn nghe rồi liền hỏi Tiễn Mao rằng:
"Ưu-đà-di,
ông thấy Ta có bao nhiêu pháp khiến cho các đệ tử hầu hạ
cung kính, tôn trọng và cúng dường, thường theo Ta không rời?"
Dị
học Tiễn Mao đáp rằng:
"Tôi
thấy Cù-đàm có năm pháp khiến đệ tử hầu hạ, cung kính,
tôn trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời.
Những gì là năm? Sa-môn Cù-đàm trí túc về thô y, khen ngợi
tri túc về thô y. Bởi vì Sa-môn Cù-đàm tri túc về thô y,
khen ngợi tri túc về vải thô, nên tôi thấy tri túc đó là
pháp thứ nhất mà Sa-môn Cù-đàm có thể khiến cho hàng đệ
tử phụng sự cung kính, tôn trọng cúng dường, thường theo
không rời.
"Lại
nữa, Sa-môn Cù-đàm tri túc về ăn uống đạm bạc, khen ngợi
về tri túc đạm bạc. Bởi vì Sa-môn Cù-đàm tri túc về ăn
uống đạm bạc, khen ngợi về tri túc ăn uống đạm bạc,
nên tôi thấy Sa-môn Cù-đàm có pháp thứ hai khiến các đệ
tử cung kính, tôn trọng cúng dường, phụng sự thường theo
không rời.
"Lại
nữa, Sa-môn Cù-đàm ăn ít, khen ngợi sự ăn ít. Vì Sa-môn
Cù-đàm ăn ít và khen ngợi sự ăn ít, nên tôi thấy Sa-môn
Cù-đàm có pháp thứ ba khiến các đệ tử cung kính tôn trọng,
cúng dường phụng sự, thường theo không rời.
"Lại
nữa, Sa-môn Cù-đàm tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường
chõng thô sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường
chõng thô sơ. Vì Sa-môn Cù-đàm tri túc như vậy, nên tôi thấy
đó là pháp thứ tư mà Sa-môn Cù-đàm có thể khiến các đệ
tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, thường theo không rời.
"Lại
nữa Sa-môn Cù-đàm tĩnh tọa và ngợi khen tĩnh tọa.[10]
Vì vậy tôi thấy đó là pháp thứ năm mà Sa-môn Cù-đàm có
thể khiến các đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường,
phụng hành thường theo không rời.
"Đó
là năm pháp mà tôi thấy Sa-môn Cù-đàm có thể khiến các
đệ tử cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng hành, thường
theo không rời."
Thế
Tôn bảo rằng:
"Này
Ưu-đà-di, Ta không phải do năm pháp ấy mà khiến các đệ
tử cung kính tôn trọng, cúng dường thừa sự, thường theo
không rời. Này Ưu-đà-di, áo ta mặc được cắt theo con dao
Thánh [11]
và nhuộm màu sắc xấu xa. Như vậy, y Thánh được nhuộm
màu sắc xấu xa. Ưu-đà-di! Nhưng đệ tử Ta cũng có người
trọn đời chỉ mặc áo phấn tảo do người ta bỏ, và cũng
nói thế này, ‘Thế Tôn ta tri túc về thô y’, khen ngợi
sự tri túc về thô y. Này Ưu-đà-di, nếu đệ tử ta nhận
sự tri túc về thô y mà khen ngợi Ta, thì người đó do sự
kiện này đã không cung kính tôn trọng, cúng dường phụng
sự Ta, cũng không theo Ta.
"Lại
nữa, này Ưu-đà-di, Ta ăn đồ ăn gạo nếp, nấu chín và
không có hạt xép, vô lượng tạp vị. Ưu-đà-di, nhưng đệ
tử Ta có người trọn đời khất thực, ăn đồ ăn đã bỏ,
cũng lại nói rằng, ‘Thế Tôn ta tri túc về thô thực’,
khen ngợi tri túc về thô thực. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta
nhân sự tri túc về ăn uống thô sơ, mà khen ngợi Ta, người
ấy nhân sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng, cúng
dường, phụng sự Ta, cũng không theo Ta.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta chỉ ăn bằng một trái cây bệ-la [12]
hoặc bằng nửa bệ-la. Nhưng đệ tử của Ta có người
ăn bằng một câu-tha [13],
hoặc bằng nửa câu-tha, cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn ăn
ít, khen ngợi sự ăn ít’. Nếu đệ tử Ta nhân sự ăn ít
mà khen ngợi Ta, người ấy do sự kiện này đã không cung
kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự và theo Ta.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta hoặc ở trên lầu cao, hoặc trên nhà rạp.
Ưu-đà-di, nhưng đệ tử của Ta có người trải qua chín mười
tháng, suốt đêm ngủ ngoài trời, cũng nói như vầy, ‘Thế
Tôn của Ta tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô
sơ, khen ngợi tri túc về chỗ nghỉ ngơi và giường chõng
thô sơ’. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta khen ngợi tri túc về
chỗ nghỉ ngơi và giường chõng thô sơ nên khen ngợi Ta, thì
người ấy do sự kiện này đã không cung kính, tôn trọng,
cúng dường phụng sự Ta và cũng không theo Ta.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta thường sống trong sự náo nhiệt giữa
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Nhưng đệ tử của
Ta có người quá nửa tháng mới nhập chúng một lần vì pháp
thanh tịnh [14]
cũng nói như vầy, ‘Thế Tôn của Ta tĩnh tọa và khen
ngợi sự tĩnh tọa’. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân sự
tĩnh tọa mà khen ngợi Ta, vị ấy do sự kiện này đã không
cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, cũng không
theo Ta.
"Ưu-đà-di,
Ta không có năm pháp này, khiến hàng đệ tử cung kính, tôn
trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo không rời. Ưu-đà-di,
Ta lại có năm pháp khác, khiến các đệ tử cung kính, tôn
trọng, cúng dường phụng sự, thường theo không rời.
"Những
gì là năm? Này Ưu-đà-di, Ta có đệ tử do giới vô thượng, [15]
khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn có giới, đại giới, lời nói
đúng theo việc làm, việc làm đúng theo lời nói’. Ưu-đà-di,
nếu đệ tử Ta nhân giới vô thượng mà khen ngợi Ta thì
vị ấy nhân điều này mà cung kính, tôn trọng, cúng dường,
phụng sự thường theo Ta không rời.
"Lại
nữa, này Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, do vô thượng trí tuệ,[16]
khen ngợi Ta, ‘Thế Tôn có trí tuệ, cực đại trí
tuệ, nếu có ai đến bàn luận hay đối đáp, Ngài đều khuất
phục được. Nghĩa là đối với Chánh pháp luật, họ không
thể nói. Đối với điều chính mình nói, họ cũng không thể
nói’. Ưu-đà-di, nếu đệ tử nhân vô thượng trí tuệ,
mà khen ngợi Ta, vị ấy nhân sự kiện này mà cung kính, tôn
trọng, cúng dường, phụng sự Ta, theo Ta không rời.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử do vô thượng tri kiến, [17]
khen ngợi Ta rằng, ‘Thế Tôn biết khắp chứ không
phải không biết; thấy khắp chứ không phải không thấy.
Ngài nói pháp cho đệ tử có nhân chứ không phải không nhân,
có duyên chớ không phải không duyên, có thể đáp chứ không
phải không thể đáp, có xả ly chứ không phải không xả
ly’. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta nhân vô thượng tri kiến
mà khen ngợi Ta, người ấy nhân sự kiện này mà cung kính,
tôn trọng, cúng dường, phụng sự, thường theo ta không rời.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta có đệ tử, do nhờm tởm mũi tên ái dục
mà đến hỏi Ta về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt,
đạo là đạo. Ta liền trả lời về khổ là khổ, tập là
tập, diệt là diệt, đạo là đạo. Ưu-đà-di, nếu có đệ
tử đến hỏi Ta được trả lời xứng ý, khiến được hoan
hỷ, người đó nhân sự kiện này mà cung kính, tôn trọng,
cúng dường, phụng sự Ta, thường theo Ta không rời.
"Lại
nữa, Ưu-đà-di, Ta vì các đệ tử hoặc nói Túc mạng trí
thông, tác chứng, hoặc nói Lậu tận trí thông tác chứng
minh đạt. Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta trong Chánh pháp luật
này được thọ được độ, được đến bờ bên kia, không
nghi không hoặc, ở trong thiện pháp không có do dự, người
ấy nhân sự kiện này mà cung kính, cúng dường, tôn trọng,
phụng sự Ta, thường theo ta không rời.
"Này
Ưu-đà-di, Đó là năm pháp Ta có khiến cho các đệ tử cung
kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Ta, thường theo không
rời.”
Bấy
giờ Dị học Tiễn Mao, liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch
vai áo mặt, chắp tay hướng về Phật bạch rằng: “Kỳ diệu
thay! Hy hữu thay! Ngài khéo nói những điều vi diệu thấm
nhuần thân thể con cũng như cam lồ. Bạch Cù-đàm, cũng như
mưa lớn, cõi đất này từ cao đến thấp thảy được thắm
nhuần khắp cả. Cũng vậy, Sa-môn Cù-đàm nói cho chúng tôi
những điều vi diệu, thấm nhuần thân thể chúng tôi cũng
như cam lồ.
"Bạch
Thế Tôn, tôi đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch
Thế Tôn, hôm nay con tự quy Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Mong
Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay con trọn
đời tự quy y cho đến mạng chung.”
Phật
thuyết như vậy. Dị học Tiễn Mao sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
1.
Bản Hán, quyển 57. Tương đương Pāli, M.77. Mahā-sakuludāyi-suttaṃ.
2.Khổng
tước lâm Dị học viên 孔 雀 林 異 學 園, khu vườn cho
các du sĩ, rừng nuôi công. Pāli: Moranivāpa paribbājakārāma.
3.
Tiễn Mao 箭 毛. Pāli: Sakuḷudāyi, và kể thêm tên hai du sĩ
khác: Varadhara, Anugāra.
4.
Súc sanh luận 畜 生 論. Pāli: tiracchāna-kathā, luận bàn phiếm,
vô ích. Đoạn kế kể các đề tài được nói là súc sanh
luận.
5.
Ưu-đà-di 優 陀 夷, tức tên gọi lược của Tiễn Mao; xem
cht.3 trên. Pāli: Udāyi.
6.
Học đường 學 堂. Pāli: Kutūhalasāla, nghị luận đường;
chỉ nơi xảy ra cuộc thảo luận.
7.Ương-già
Ma-kiệt-đà 鴦 伽 摩 竭 陀. Pāli: Aṅga-Magadhā, lúc này hai
nước đang liên minh chính trị nên gọi chung như vậy.
8.
Chúng đại phước điền: những người là ruộng phước lớn,
thường chỉ chúng Tỳ-kheo, nhưng ở đây cũng chỉ cho nhóm
ngoại đạo khác.
9.
Phất-lan Ca-diếp, Pāli: Pūrāṇa-Kassapa và năm vị kế tiếp:
Makkhali-Gosāla. Sañjaya-Belaṭṭhiputta, Nigaṇṭha-Nātaputta,
Pakudha-Kaccāyana, được mệnh danh là Lục sư ngoại đạo.
Về chủ trương của họ, xem kinh Sa-môn quả, No.1 (27) và D.
2.
10.
Yến tọa, ngồi nghỉ ngơi chỗ thanh vắng.
11.
Để bản: Thánh lực 聖 力. Tống-Nguyên-Minh: Thánh đao 聖
刀.
12.
Bệ-la thực 鞞 羅 食. Pāli: veḷuvāhāra, thức ăn bằng trái
cây veḷuva, một loại dưa (tên khoa học Aegle marmelos).
13.
Câu-tha thực 拘 拖 食, kosāhāra, một bát cơm.
14.
Pháp thanh tịnh, đây chỉ Giới bổn Tỳ-kheo, Pāli: Pātimokkhuddesāya,
để tụng giới bổn Pātimokkha.
15.Vô
thượng giới. Pāli: adhisīla, tăng thượng giới.
16.Vô
thượng trí tuệ. Pāli: adhipaññā, tăng thượng tuệ.
17.
Vô thượng tri kiến. Pāli: abhikkaantañāṇadassana, tri kiến
siêu việt.