204.
KINH LA-MA [1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong Đông viên, giảng
đường Lộc tử mẫu.
Bấy
giờ Thế Tôn vào lúc xế trưa, từ tĩnh tọa dậy, bước
xuống giảng đường, nói với Tôn giả A-nan rằng:
"Bây
giờ ta và ngươi đến sông A-di-la-bà-đề[2]
để tắm.”
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
"Xin
vâng, bạch Thế Tôn."
Rồi
Tôn giả A-nan cầm then cửa tản bộ đi đến khắp các cốc,
gặp Tỳ-kheo nào cũng nói rằng:
"Chư
Hiền, hãy đi đến nhà Phạm chí La-ma.[3]"
Các
Tỳ-kheo nghe nói, bèn cùng nhau đến nhà Phạm chí La-ma.
Thế
Tôn dẫn Tôn giả A-nan đi đến sông A-di-la-bà-đề, cởi y
để trên bờ, rồi xuống nước tắm. Tắm xong, trở lên lau
mình, mặc y. Bấy giờ Tôn giả A-nan đứng sau Thế Tôn, cầm
quạt quạt Phật. Rồi Tôn giả A-nan chấp tay hướng về Đức
Phật bạch rằng:[4]
"Bạch
Thế Tôn, nhà của Phạm chí La-ma rất tốt, ngăn nắp, rất
khả ái. Cúi mong Thế Tôn vì lòng từ bi mẫn đi đến nhà
của Phạm chí La-ma."
Thế
Tôn im lặng nhận lời của Tôn giả A-nan. Rồi Thế Tôn dẫn
Tôn giả A-nan đi đến nhà Phạm chí La-ma. Bấy giờ tại nhà
của Phạm chí La-ma một số đông Tỳ-kheo đã tụ tập ngồi
lại để thuyết pháp. Đức Phật đứng ngoài cửa, đợi
các Tỳ-kheo nói pháp xong. Khi số đông các Tỳ-kheo đã nói
pháp xong, các ngài ngồi im lặng. Thế Tôn biết rồi bèn tằng
hắng và gõ cửa.
Các
Tỳ-kheo nghe, tức thì đi ra mở cửa.[5]
Thế Tôn bước vào nhà Phạm chí La-ma, trải chỗ ngồi
trước chúng Tỳ-kheo mà ngồi và hỏi:
"Các
Tỳ-kheo vừa rồi nói những câu chuyện gì vậy? Vì công việc
gì mà tụ tập ngồi ở đây?"
Lúc
ấy các Tỳ-kheo đáp rằng:
"Bạch
Thế Tôn, vừa rồi, chúng con thuyết pháp. Do pháp sự này
mà tụ tập ngồi tại đây."
Thế
Tôn khen rằng:
"Lành
thay! Lành thay, Tỳ-kheo khi tụ tập ngồi lại nên làm hai việc;
một là thuyết pháp, hai là im lặng. Vì sao vậy? Ta sẽ giảng
pháp cho các ngươi. Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Hãy tư niệm
kỹ."
Lúc
ấy các Tỳ-kheo bạch rằng:
"Chúng
con kính vâng lời lắng nghe."
Đức
Phật nói:
"Có
hai loại tìm cầu. Một là Thánh cầu [6]
và hai là phi Thánh cầu. Thế nào là phi Thánh cầu? Có một
hạng người thật sự lệ thuộc bệnh tật nhưng lại tìm
cầu tật bệnh; thật sự lệ thuộc sự chết nhưng lại tìm
cầu sự chết, thật sự lệ thuộc vào ưu bi khổ não, lệ
thuộc sự tạp uế, nhưng lại tìm cầu sự tạp uế.
"Thế
nào là thật sự lệ thuộc vào bệnh tật[7]
nhưng lại tìm cầu sự bệnh tật? Thế nào là sự tật
bệnh? Con cái, anh em, đó là bệnh pháp. Voi, ngựa, bò, dê,
nô tỳ, tiền tài, trân bảo, lúa gạo, là sự bệnh pháp.
Chúng sanh ở trong đó xúc chạm, đắm nhiễm, tham ái, dính
trước, kiêu ngạo mà thọ nhập, không thấy sự nguy hiểm,
không thấy sự xuất yếu.
"Thế
nào là sự lệ thuộc sự già,[8]
sự chết, sự sầu bi ưu não, sự tạp uế? Con cái, anh em
đó là sự tạp uế. Voi, ngựa, bò, dê, nô tỳ, tiền tài,
trân bảo, đó là sự tạp uế, sự tổn hại. Chúng sanh ở
trong đó đắm nhiễm, xúc chạm, tham ái, dính trước, kiêu
ngạo mà thọ nhập, không thấy sự nguy hiểm, không thấy
sự xuất yếu. Người đó muốn tìm cầu cái không tật bệnh,
an ổn, vô thượng, Niết-bàn, nhưng đạt được Niết-bàn
an ổn vô thượng là trường hợp không thể có. Tìm cầu
cái không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp
uế, vô thượng an ổn Niết-bàn, nhưng đạt được Niết-bàn
vô thượng an ổn là trường hợp không thể có. Đó gọi
là phi Thánh cầu.
"Thế
nào là Thánh cầu? Có một hạng người suy nghĩ như thế này,
‘Ta thật sự lệ thuộc tật bệnh, nhưng không bỏ tìm cầu
sự tật bệnh. Ta thật sự lệ thuộc sự già, sự chết,
sự sầu bi khổ não, sự tạp uế, nhưng không bỏ sự tìm
cầu tạp uế. Vậy ta hãy tìm cầu cái không bệnh, vô thượng
an ổn Niết-bàn. Tìm cầu cái không già, không chết, không
sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn, Niết-bàn’.
Người ấy bèn tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn
Niết-bàn và đạt được không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn
là trường hợp có thể có. Tìm cầu cái không già, không
chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn
Niết-bàn, và đạt được không già, không chết, không sầu
bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn, là
trường hợp có thể có.
"Ta
trước kia khi chưa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác
cũng suy nghĩ như vầy, ‘Ta thực sự lệ thuộc tật bệnh,
không bỏ tìm cầu sự tật bệnh. Ta thực sự lệ thuộc già,
chết, sầu bi ưu não, tạp uế, nhưng không bỏ tìm cầu cái
không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế.
Vậy ta có nên tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn
Niết-bàn. Tìm cầu cái không già, không chết, không sầu bi
ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn chăng?’
"Ta
vào thời thiếu niên trong trắng, mái tóc xanh mướt, cho đến
thời tráng niên năm hai mươi chín tuổi, bấy giờ sống cực
kỳ hoan lạc, vui đùa, trang sức, du hành. Ta vào lúc ấy mặc
dù cha mẹ khóc lóc, thân thuộc không ai vui, nhưng Ta cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, để học đạo; thủ hộ thân mạng thanh tịnh, thủ
hộ khẩu và ý mạng thanh tịnh. Ta đã thành tựu giới thân
ấy rồi, lại muốn tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an
ổn Niết-bàn; sự không già, không chết, không sầu bi ưu
não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn, cho nên lại
tìm nơi A-la-la Già-la-ma,
[9] hỏi rằng, ‘Thưa A-la-la, tôi muốn theo pháp
của người để tu học phạm hạnh được chăng?’ A-la-la
trả lời rằng, ‘Này Hiền giả, không có gì là không được.
Hiền giả muốn hành thì hành’. Ta lại hỏi, ‘Người làm
thế nào để tự tri, tự giác, tự tác chứng pháp này?’
A-la-la đáp, ‘Ta vượt qua tất cả thức xứ, đạt được
vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ. Do đó, pháp của ta được
tự tri, tự giác, tự tác chứng’. Ta lại suy nghĩ như vầy,
‘Không chỉ riêng A-la-la mới có niềm tin này. Ta cũng có
niềm tin này. Không chỉ riêng A-la-la mới có tinh tấn này,
Ta cũng có sự tinh tấn này. Không chỉ riêng A-la-la mới có
tuệ này, Ta cũng có tuệ này’. A-la-la đối với pháp này
đã tự tri, tự giác, tự tác chứng. Ta muốn chứng pháp này
nên sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên
tĩnh. Sau khi tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, không bao
lâu Ta chứng pháp ấy. Sau khi chứng pháp ấy rồi, Ta lại
tìm đến chỗ A-la-la Già-la-ma, hỏi rằng, ‘Thưa A-la-la, phải
chăng pháp này được tự tri, tự giác, tự tác chứng, nghĩa
là vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, đạt được vô
sở hữu xứ, thành tựu an trụ?’ A-la-la trả lời Ta rằng,
‘Hiền giả, đó là pháp ta tự tri, tự giác, tự tác chứng,
nghĩa là vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, đạt được
vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ’. A-la-la lại nói với
Ta rằng, ‘Hiền giả, ấy là cũng như sự tác chứng của
ta đối với pháp này, Hiền giả cũng vậy. Cũng như sự tác
chứng của Hiền giả đối với pháp này, ta cũng vậy. Hiền
giả, người hãy đến đây, cùng ta lãnh đạo đồ chúng này’.
Đó là A-la-la đối xử với Ta với địa vị Tôn sư, coi Ta
ngang hàng, tối thượng cung kính, tối thượng cúng dường,
tối thượng hoan hỷ.
"Ta
lại suy nghĩ như vầy, ‘Pháp này không đưa đến trí; pháp
này không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy
Ta hãy xả bỏ pháp này, để cầu thêm nữa, sự không bệnh,
vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không
chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn
Niết-bàn’. Ta bèn bỏ pháp này đi tìm cầu sự không bệnh,
vô thượng an ổn Niết-bàn.
"Rồi
Ta đi đến chỗ Uất-đà-la La-ma Tử,[10]
hỏi rằng, ‘Thưa Uất-đà-la, tôi muốn ở trong pháp của
người mà học hỏi, có thể được chăng?’ Uất-đà-la La-ma
Tử trả lời Ta rằng, ‘Hiền giả, không có gì là không
được. Người muốn học thì học’. Ta lại hỏi, ‘Thưa
Uất-đà-la, cha ngài là La-ma,[11]
người tự tri, tự giác, tự tác chứng pháp gì?’ Uất-đà-la
La-ma Tử đáp, ‘Hiền giả, ta vượt qua tất cả vô sở hữu
xứ, đạt được phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành
tựu an trụ. Hiền giả, pháp mà cha ta La-ma tự tri, tự giác,
tự tác chứng, là pháp này’. Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Không
chỉ riêng La-ma mới có niềm tin này, Ta cũng có niềm tin này.
Không chỉ riêng La-ma mới có sự tinh tấn này, Ta cũng có
sự tinh tấn này. Không chỉ riêng La-ma mới có tuệ này, Ta
cũng có tuệ này. La-ma đã tự tri, tự giác, tự tác chứng
pháp này, tại sao ta lại không tự tri, tự giác, tự tác chứng
pháp này?’ Vì Ta muốn chứng pháp này, cho nên sống cô độc
tại một nơi xa vắng, không nhàn, yên tĩnh, tâm không phóng
dật, tu hành tinh cần. Sau khi Ta sống cô độc, viễn ly, tại
một nơi trống vắng, yên tĩnh, không bao lâu chứng được
pháp ấy. Khi chứng pháp ấy rồi, Ta lại đến Uất-đà-la
La-ma Tử hỏi rằng, ‘Thưa Uất-đà-la La-ma Tử, cha ngài là
La-ma, phải chăng pháp này được tự tri, tự giác, tự tác
chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, đạt
được phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ?’
Uất-đà-la La-ma Tử trả lời Ta rằng, ‘Hiền giả, cha ta
là La-ma, đây là pháp được tự tri, tự giác, tự tác chứng,
nghĩa là vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, đạt được
phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ’. Uất-đà-la
lại nói với Ta rằng, ‘Cũng như cha ta tác chứng pháp này,
Hiền giả cũng vậy. Cũng như Hiền giả tác chứng pháp này,
cha ta cũng vậy. Hiền giả hãy đến đây cùng ta lãnh đạo
đồ chúng này’. Uất-đà-la đối xử với Ta ngang địa vị
Tôn sư, coi Ta cũng như bậc Tôn sư, tối thượng cung kính,
tối thượng cúng dường, tối thượng hoan hỷ. Ta lại suy
nghĩ như vầy, ‘Pháp này không đưa đến trí, không đưa
đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ
pháp này để đi tìm cầu thêm nữa, sự không bệnh, vô thượng
an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không
sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn’.
Ta liền xả bỏ pháp ấy để đi tìm cầu sự không bệnh,
vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không
chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn
Niết-bàn.
"Rồi
Ta đi về phía nam núi Tượng đỉnh,[12]
đến tại Uất-bệ-la,[13]
một ngôi làng của Phạm chí tên gọi là Tư na [14]
đây là một khoảng đất xinh xắn, khả ái, núi rừng sầm
uất, sông Ni-liên-thuyền [15]
với dòng nước trong xanh chảy lên bờ. Ta thấy khoảnh
đất ấy bèn nghĩ rằng, ‘Nếu một thiện nam tử muốn học
đạo, nên ở nơi này mà học, Ta cũng học đạo; vậy Ta hãy
ở nơi này mà học. Rồi Ta ôm cỏ đến cây giác thọ [16]
Đến nơi, Ta rải cỏ xuống, trải ni-sư-đàn lên và ngồi
kiết già, kỳ hạn sẽ không rời khỏi chỗ ngồi cho đến
khi nào chứng đắc Lậu tận. Và Ta không rời khỏi chỗ ngồi
cho đến khi chứng đắc Lậu tận.
"Ta
tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, liền
đạt được sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn.
Tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không
tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn. Liền đạt được sự
không già không chết, không ưu bi sầu não, không tạp uế,
vô thượng an ổn Niết-bàn, sanh tri, sanh kiến, định đạo
phẩm pháp[17]
‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, biết như thật không còn tái sanh nữa’.
"Khi
Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, liền nghĩ
như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho ai trước nhất?’ Rồi
Ta lại nghĩ rằng, ‘Ta có nên đi đến thuyết pháp cho A-la-la
Già-la-ma trước chăng?’
"Lúc
bấy giờ có Thiên thần trụ trong hư không nói với Ta rằng:
“Đại Tiên nhân, xin biết cho, A-la-la Già-la-ma vừa mạng
chung đến nay đã được bảy ngày’. Ta cũng tự biết A-la-la
Già-la-ma đã mạng chung được bảy ngày. Ta lại nghĩ như
vầy, ‘A-la-la Già-la-ma, thiệt thòi thay cho người ấy, không
nghe được pháp này. Nếu được nghe pháp này, người ấy
sẽ nhanh chóng biết rõ pháp tùy pháp[18]
"Khi
Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, liền nghĩ
như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho Uất-đà-la La-ma Tử trước
nhất chăng?” Thiên thần lại trụ trong hư không nói với
Ta rằng, ‘Đại Tiên nhân, xin biết cho, Uất-đà-la La-ma Tử
mạng chung đến nay đã hai tuần thất’. Ta cũng tự biết
Uất đầu la La-ma Tử mạng chung đã hai tuần thất. Ta lại
nghĩ như vầy, ‘Uất-đà-la La-ma Tử thiệt thòi thay cho người
ấy, không nghe được pháp này. Nếu nghe được pháp này,
người ấy sẽ nhanh chóng biết rõ pháp tùy pháp’.
"Khi
Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, Ta liền suy
nghĩ như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho ai trước nhất?’
Rồi Ta lại nghĩ rằng, ‘Xưa kia, năm Tỳ-kheo theo hầu hạ
Ta, giúp Ta nhiều điều hữu ích. Khi Ta tu hành khổ hạnh,
năm Tỳ-kheo ấy đã thừa sự Ta, nay Ta có nên thuyết pháp
cho năm Tỳ-kheo trước kia chăng?’ Rồi Ta lại nghĩ rằng,
‘Năm Tỳ-kheo thuở xưa ấy, bây giờ đang ở đâu?’ Bằng
thiên nhãn thanh tịnh vượt hẳn người thường, Ta thấy năm
Tỳ-kheo đang ở tại Ba-la-nại[19]
Tiên nhân trú xứ, trong vườn Lộc giả.
"Ta
tùy thuận trụ dưới gốc cây Giác thọ. Sau đó Ta thu vén
y, ôm bát đi về Ba-la-nại, đến đô ấp Gia-thi.[20]
Bấy
giờ Dị học Ưu-đà [21]
từ xa trông thấy Ta đi đến, bèn nói với Ta rằng, ‘Hiền
giả Cù-đàm, các căn thanh tịnh, hình sắc thù diệu, khuôn
mặt ngời sáng. Hiền giả Cù-đàm, ai là Tôn sư? Theo ai học
đạo? Tin tưởng pháp của ai?’ Lúc bấy giờ Ta liền nói
bài kệ để trả lời Ưu-đà rằng:
Ta
tối thượng, tối thắng;
Nhiễm
trước pháp đã trừ;
Giải thoát,
ái diệt tận;
Tự giác,
ai tôn sư?
Bậc Vô
đẳng, Đại hùng,
Tự giác,
Vô thượng giác,
Như Lai,
Thầy thiên, nhơn,
Biến tri,
thành tựu lực.
"Ưu-đà
hỏi rằng:
"–Hiền
giả Cù-đàm tự cho là tối thắng chăng?"
"Ta
lại nói bài kệ trả lời rằng:
Đấng
Tối thắng như vậy
Các lậu
đã tận trừ.
Ta sát
hại ác pháp,
Nên tối
thắng là Ta.
"Ưu-đà
lại hỏi Ta rằng:
"–Hiền
giả Cù-đàm, bấy giờ muốn đi về đâu?”
"Bấy
giờ Ta nói bài kệ rằng:
Ta
đến Ba-la-nại,
Dóng trống
diệu cam lồ,
Chuyển
pháp luân vô thượng
Chưa ai
chuyển trong đời.
"Ưu-đà
lại nói với Ta rằng:
"–Hiền
giả Cù-đàm, hoặc có thể là như vậy."
"Rồi
vị ấy bước sang con đường tắt mà đi trở lui.
"Ta
một mình đi đến Tiên nhân trụ xứ, trong vườn Lộc dã.
Bấy giờ năm Tỳ-kheo từ xa trông thấy Ta đi đến, ai cũng
lập giao ước với nhau rằng, ‘Chư Hiền, nên biết đó là
Sa-môn Cù-đàm đang đi đến. Người ấy đa dục, đa cầu,
ăn với loại ẩm thực thù diệu, bằng cơm gạo trắng ngon
lành, cùng với bột, tô, mật, và bôi xoa thân thể bằng dầu
mè nay lại đến đây. Các người cứ ngồi. Chớ nên đứng
dậy đón tiếp, cũng đừng làm lễ. Dành sẵn cho một chỗ
đó, nhưng đừng mời ngồi, hãy nói rằng ‘Nếu bạn muốn
ngồi, xin cứ tùy ý’. Rồi Ta đi đến chỗ năm Tỳ-kheo.
Bấy giờ năm Tỳ-kheo không kham nổi uy đức tối thắng thù
diệu của Ta, tức thì rời chỗ ngồi đứng dậy, người
thì ôm y bát của Ta, người thì trải chỗ ngồi, người thì
lấy nước cho Ta rửa chân. Ta nghĩ rằng, ‘Những người
ngu si này sao lại không bền chí, đã tự mình thiết lập
điều ước hẹn, rồi lại làm trái điều giao hẹn’. Ta
biết như vậy rồi bèn ngồi trên chỗ ngồi mà năm Tỳ-kheo
đã dọn sẵn. Khi ấy năm Tỳ-kheo gọi thẳng tên họ Ta và
xưng hô với Ta là "Bạn".[22]
"Ta nói với họ rằng, ‘Ta là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, các người đừng gọi thẳng tên họ Ta,
cũng đừng gọi Ta là ‘Bạn’. Vì sao vậy? Ta vì tìm cầu
sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, và đạt được
sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Ta tìm cầu sự
không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế,
vô thượng an ổn Niết-bàn, và đạt được sự không già,
không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng
an ổn Niết-bàn. Đã sanh tri, sanh kiến, định đạo phẩm
pháp, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Họ nói với Ta
rằng:
"–Này
bạn Cù-đàm, trước kia bạn hành như vậy, đạo tích như
vậy, khổ hạnh như vậy mà còn chưa chứng được pháp thượng
nhân, gần kề với Thánh tri, Thánh kiến, huống là ngày hôm
nay đa dục, đa cầu, ăn với thực phẩm thù diệu với gạo
trắng ngon lành, cùng với bột, tô, mật, bôi xoa thân thể
bằng dầu mè chăng?
"Ta
lại nói rằng:
"–Này
năm Tỳ-kheo, các ngươi trước kia có bao giờ thấy Ta như
vậy, với các căn thanh tịnh, rạng rỡ sáng ngời chăng?
“Bấy
giờ năm Tỳ-kheo lại trả lời với Ta rằng:
“–Trước
kia chúng tôi chưa từng thấy bạn với các căn thanh tịnh,
rạng rỡ sáng ngời. Này bạn Cù-đàm, nay bạn với các căn
thanh tịnh, hình sắc thù diệu khuôn mặt sáng ngời.
"Ta
lúc ấy nói với họ rằng:
"–Này
năm Tỳ-kheo, có hai lối sống cực đoan mà những người học
đạo không nên học. Một là đắm trước dục lạc, nghiệp
hèn hạ, là lối sống của phàm phu. Hai là tự gây phiền,
tự gây khổ, không phải là pháp Hiền Thánh, không tương
ưng với cứu cánh. Này năm Tỳ-kheo, xả bỏ hai cực đoan
ấy, có con đường giữa, thành minh, thành trí, thành tựu
định, đạt đến tự tại, đưa đến trí, đưa đến giác,
dẫn đến Niết-bàn. Đó là tám con đường chân chánh, từ
chánh kiến cho đến chánh định là tám.
"Rồi
Ta lần lượt giáo hóa năm Tỳ-kheo. Khi giáo hóa cho hai người
thì ba người đi khất thực. Ba người mang thức ăn về cho
đủ sáu người ăn. Khi giáo hóa cho ba người thì hai người
đi khất thực. Hai người mang thức ăn về cho đủ sáu người
ăn. Ta giáo hóa như vậy, họ tìm cầu sự không bệnh, vô
thượng an ổn Niết-bàn. Và đạt được sự không bệnh,
vô thượng an ổn Niết-bàn. Tìm cầu sự không già, không
chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn
Niết-bàn, và đạt được sự không già, không chết, không
sầu bi ưu não, không tạp uế và vô thượng an ổn Niết-bàn;
sanh tri, sanh kiến, định đạo phẩm pháp, ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, biết như
thật không còn tái sanh nữa’.
"Rồi
Thế Tôn lại nói với họ rằng:
"–Này
năm Tỳ-kheo, có năm thứ công đức của dục, khả ái, khả
lạc, khả ý, khả niệm, hoàn toàn tương ưng với dục. Đó
là sắc được biết bởi mắt, tiếng được biết bởi tai,
hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi,
xúc được biết bởi thân. Này năm Tỳ-kheo, phàm phu ngu si,
không đa văn, không gặp thiện hữu, không biết Thánh pháp,
không điều ngự trong Thánh pháp, chúng xúc chạm, đắm nhiễm,
tham ái, dính trước, kiêu ngạo mà thọ nhập, không biết
sự nguy hiểm, không thấy sự xuất yếu. Nên biết chúng nghe
theo ác ma, làm theo ác ma, rơi vào ác ma, bị lưới ma quấn
chặt, bị cùm ma khóa chặt, không thoát khỏi sự trói buộc
của ma. Này năm Tỳ-kheo, cũng như nai rừng bị dây buộc chặt
nên biết nó phải nghe theo thợ săn, làm theo thợ săn, rơi
vào tay thợ săn, bị lưới thợ săn quấn chặt, khi thợ săn
đến, không thể trốn thoát. Cũng vậy, năm Tỳ-kheo, phàm
phu ngu si, không đa văn, không gặp thiện hữu, không biết
Thánh pháp, không điều ngự trong Thánh pháp, chúng đối với
năm thú diệu dục mà xúc chạm, đắm nhiễm, tham ái, dính
trước, kiêu ngạo, lăn xả vào, thọ dụng mà không thấy
sự nguy hiểm, không thấy sự xuất yếu. Nên biết, chúng
phải nghe theo ác ma, làm theo ác ma, rơi vào tay ác ma, bị lưới
ma quấn chặt, bị dây ma trói xiết, không thoát khỏi sự
trói buộc của ma. Này năm Tỳ-kheo, Đa văn Thánh đệ tử,
gặp thiện tri thức, hiểu biết Thánh pháp, điều ngự trong
Thánh pháp, những vị ấy đối với năm diệu dục, không
xúc, không nhiễm, không tham, không trước, cũng không kiêu
ngạo mà thọ nhập, mà thấy sự nguy hiểm, thấy sự xuất
yếu. Nên biết, họ không nghe theo ác ma, không làm theo ác
ma, không bị rơi vào tay ác ma, không bị lưới ma quấn chặt,
không bị dây ma trói siết, bèn thoát khỏi sự trói buộc
của ma. Này năm Tỳ-kheo, cũng như nai rừng thoát khỏi trói
buộc, nên biết nó không phải nghe theo thợ săn, không phải
làm theo thợ săn, không rơi vào tay thợ săn, không bị lưới
thợï săn quấn chặt, không bị dây thợ săn buộc siết.
Khi thợ săn đến, nó có thể trốn thoát. Cũng vậy, này năm
Tỳ-kheo, Đa văn Thánh đệ tử gặp thiện tri thức, hiểu
biết Thánh pháp, điều ngự trong Thánh pháp, vị ấy đối
với năm công đức của dục không xúc, không nhiễm, không
tham không trước, cũng không kiêu ngạo mà thọ nhập, mà thấy
sự nguy hiểm, thấy sự xuất yếu. Nên biết những người
ấy không phải nghe theo ác ma, không phải làm theo ác ma, không
rơi vào tay ma, không bị lưới ma quấn chặt, không bị dây
ma buộc siết, bèn thoát khỏi sự trói buộc của ma. Này năm
Tỳ-kheo, nếu lúc Như Lai xuất hiện trong thế gian, là Bậc
Vô Sở Trước, Minh Hạnh Thành Tựu, Đẳng Chánh Giác, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên
Nhân Sư, là Phật, Chúng Hựu. Vị ấy đoạn trừ cho đến
năm triền cái, những thứ làm tâm tạp uế, tuệ yếu kém,
ly dục, ly ác bất thiện pháp cho đến chứng đắc Tứ thiền
thành tựu an trụ.
Vị
ấy với định tâm thanh tịnh, như vậy, không uế, không phiền,
nhu nhuyến, an trụ vững vàng, đạt đến bất động tâm,
tu học và tác chứng Lậu tận trí thông. Vị ấy biết như
thật đây là Khổ, biết như thật đây là Khổ tập, biết
như thật đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt đạo. Biết
như thật đây là lậu, đây là lậu tập, đây là lậu diệt,
đây là lậu diệt đạo. Vị ấy biết như vậy, thấy như
vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu,
vô minh lậu. Giải thoát rồi biết mình đã giải thoát, biết
như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững,
điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Vị
ấy bây giờ tự tại đi, tự tại đứng, tự tại ngồi,
tự tại nằm. Vì sao vậy? Vị ấy đã tự mình thấy rõ vô
lượng pháp ác bất thiện đã diệt tận. Cho nên, vị ấy
tự tại đi, tự tại đứng, tự tại ngồi, tự tại nằm.
Này năm Tỳ-kheo, cũng như trong khu rừng vắng, nơi không có
bóng người, ở đó nai rừng tự tại đi, tự tại đứng,
tự tại ngồi, tự tại nằm. Vì sao vậy? Nai rừng ấy không
nằm trong cảnh giới của thợ săn. Cho nên nó tự tại đi,
tự tại đứng, tự tại ngồi, tự tại nằm. Cũng vậy, này
năm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo lậu tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải
thoát, tuệ giải thoát, biết như thật ‘Sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’. Vị ấy lúc bấy giờ tự tại đi, tự tại
đứng, tự tại ngồi, tự tại nằm. Vì sao vậy? Vì vị ấy
tự mình thấy vô lượng pháp ác bất thiện đã diệt tận,
cho nên tự tại đi, tự tại đứng, tự tại ngồi, tự tại
nằm. Này năm Tỳ-kheo, đó gọi là giải thoát vô dư, đó
gọi là sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Đó gọi
là sự không già không chết, không sầu bi ưu não, không tạp
uế, vô thượng an ổn Niết-bàn."
Đức
Phật thuyết như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
1.
Tương đương Pāli. M. 26. Ariyapariyesana-suttaṃ.
2.
A-di-la-bà-đề 阿 夷 羅 婆 提. Pāli: Aciravatī. Trong bản Pāli:
Pubbakoṭṭhaka.
3.
La-ma 羅 摩. Pāli: Rammaka.
4.Một
vài chi tiết trong đoạn này không được mạch lạc.
5.
Theo bản Pāli, đây là một am cốc (Rammakassa brāhmanassa assamo:
thảo am của Bà-la-môn Rammaka) chứ không phải là nhà.
6.
Thánh cầu 聖 求. Pāli: ariyāpariyesanā.
7.
Bệnh pháp 病 法. Pāli: byādhidhamma.
8.
Lão pháp 老 法. Pāli: jarādhamma.
9.
A-la-la Già-la-ma 阿 羅 羅 伽 羅 摩. Pāli: Āḷāra Kālāma.
10.
Uất-đà-la La-ma Tử 鬱 陀 羅 羅 摩 子. Pāli: Udduka Rāmaputta.
11.
Nhữ phụ La-ma 汝 父 羅 摩; đáng lẽ gọi là La-ma Tử, không
hiểu tại sao ở đây lại nói như vậy. Bản Pāli cũng chỉ
gọi Rāma (tên cha) thay vì gọi Uddaka hay Rāmaputta (tên con).
12.
Tượng đỉnh sơn 象 頂 山. Pāli: Gayāsisa.
13.
Uất-bệ-la 鬱 鞞 羅. Pāli: Uruvelā.
14.
Tư-na 斯 那. Pāli: Senā.
15.
Ni-liên-thuyền 尼 連 禪. Pāli: Nerañjarā.
16.
Giác thọ, tức cây bồ-đề.
17.
Định đạo phẩm pháp 定 道 品 法, bản Pāli: akuppā me vimutti,
sự giải thoát của Ta không dao động.
18.
Nguyên bản Hán: pháp thứ pháp 法 次 法. Đoạn Pāli tương
đương không có từ liên hệ, nhưng thông thường là dhammānudhamma.
19.
Ba-la-nại, Tiên nhơn trụ xứ, Lộc giả uyển 波 羅 奈 仙
人 住 處 鹿 野 苑. Pāli: Bārāṇasi Isipatanaṃ Migadāyo.
20.
Gia-thi đô ấp 加 尸 都 邑; không rõ ở đâu.
21.
Ưu-đà 優 陀. Pāli: Upaka.
22.
Hán: khanh ư ngã 卿 於 我. Pāli: āvusovādena ca samudācaranti,
họ xưng hô với Ta là "āvuso" (Bạn, hay Hiền giả).
