Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trụ trong Đông viên,
Lộc tử mẫu giảng đường [2]
Bấy
giờ Lộc Tử Mẫu Tì-xá-khư [3]
, vào lúc sáng sớm, tắm gội, mặc chiếc áo trắng tinh, dẫn
các con dâu với đoàn tùy tùng vây quanh đi đến chỗ Phật.
Cúi đầu làm lễ, rồi đứng sang một bên, Thế Tôn hỏi:
"Này
Bà cư sĩ [4]
, bà vừa tắm gội chăng?
Đáp
rằng:
"Bạch
Thế Tôn, hôm nay con trì trai. Bạch Thế Tôn, hôm nay con trì
trai."
Thế
Tôn hỏi:
"Này
Bà cư sĩ, hôm nay bà trì loại trai nào? Vì trai có ba loại.
Những gì là ba? Thứ nhất là loại trai của mục đồng; thứ
hai là loại trai của Ni-kiền; thứ ba là Thánh trai tám chi.
"Này
Bà cư sĩ, thế nào là loại trai của mục đồng [5]
? Mục đồng buổi sáng thả trâu trong đầm, buổi xế dẫn
trâu về thôn. Khi về thôn, nó nghĩ rằng, ‘Ngày hôm nay ta
thả trâu ở chỗ này; ngày mai ta sẽ thả trâu ở chỗ kia.
Ngày hôm nay ta cho trâu uống ở chỗ này; ngày mai ta sẽ cho
trâu uống nước tại chỗ kia. Này Bà cư sĩ, nếu người
trì trai nghĩ rằng, ‘Ngày hôm nay ta ăn đồ ăn như vầy;
ngày mai ta sẽ ăn đồ ăn như kia. Ngày hôm nay ta uống thức
uống như vầy; ngày mai ta sẽ uống thức uống như kia. Ngày
hôm nay ta nuốt thức ăn như vầy; ngày mai ta sẽ nuốt thức
ăn như thế kia’. Người ấy ở đây trải qua ngày đêm hoan
lạc, đắm trước trong dục vọng như vậy. Đó gọi là loại
trai của mục đồng. Nếu trì loại trai mục đồng như vầy,
không thu hoạch được đại lợi, không được đại quả,
không có đại công đức, không được phát triển.
"Này
Bà cư sĩ, thế nào là loại trai của Ni-kiền [6]?
Nếu có người xuất gia học theo Ni-kiền, vị ấy khuyên người
rằng, ‘Ngươi đối với chúng sanh ở ngoài một trăm do-diên
về phía Đông, để ủng hộ chúng sanh ấy, hãy loại bỏ
dao gậy. Cũng vậy, đối với phương Tây, phương Nam và phương
Bắc, ngoài một trăm do-diên mà có chúng sanh nào, vì để
ủng hộ chúng sanh ấy, hãy loại bỏ dao gậy’. Người ấy
khuyến khích sách tấn người khác như vậy. Hoặc chúng sanh
có tưởng được thủ hộ, hoặc chúng sanh không có tưởng
không được ủng hộ, ngươi vào ngày mười lăm là ngày thuyết
Tùng giải thoát, cởi bỏ y phục, để mình trần truồng,
đứng ngay về phương Đông, nói như vầy, ‘Ta không có cha
mẹ, không thuộc về cha mẹ. Ta không có vợ con, không thuộc
về vợ con. Ta không có nô tỳ, không thuộc về nô tỳ’.
Này Bà cư sĩ, người ấy khuyến khích sách tấn bằng lời
nói chân thật, nhưng ngược lại sự khuyến khích sách tấn
trở thành những lời nói hư dối. Người ấy ngày ngày gặp
mặt cha mẹ mình và nghĩ rằng, ‘Đây là cha mẹ ta’. Cha
mẹ người ấy ngày ngày cũng thấy con mình cũng nghĩ rằng,
‘Đây là con ta’. Người ấy gặp mặt vợ con và nghĩ rằng,
‘Đây là vợ con ta’. Vợ con cũng thấy người ấy và cũng
nghĩ rằng ‘Đây là tôn trưởng của ta’. Người ấy gặp
mặt nô tỳ cũng nghĩ rằng, ‘Đây là nô tỳ của ta’. Nô
tỳ cũng thấy người ấy và cũng nghĩ rằng, ‘Đây là chủ
của ta’. Người ấy thọ dụng dục lạc này, không được
cho mà thọ dụng, chứ không phải được cho mà thọ dụng [7]
. Đó gọi là loại trai của Ni-kiền như vậy không thu hoạch
được đại lợi, không được đại quả, không được phát
triển.
"Này
Bà cư sĩ, thế nào là Thánh trai tám chi[8]
? Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán
chân nhân trọn đời xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, dẹp
bỏ dao gậy, có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho
tất cả cho đến côn trùng, vị ấy đối với sự sát sanh
tâm đã tịnh trừ. Tôi cũng trọn đời xa lìa sát sanh
[9] , đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy, có tàm có quý,
có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến côn trùng.
Đối với việc sát sanh nay tôi tịnh trừ tâm ấy.Tôi do chi
này mà đồng đẳng không khác với A-la-hán’[10]
. Ta coi chi này đồng đẳng không khác với A-la-hán,
cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời không lấy của không
cho, đoạn trừ sự lấy của không cho, những gì được cho
rồi mới lấy, vui thích trong việc lấy của được cho, thường
ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả, hoan hỷ, không bỏn
sẻn, không trông chờ báo đáp, không để sự trộm cắp che
lấp tâm mình, hay tự chế ngự. Vị ấy đối với việc không
cho mà lấy, tâm đã tịnh trừ. Tôi cũng trọn đời xa lìa
sự lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy của không cho,
những gì được cho mới lấy, vui thích trong việc lấy của
được cho, thường ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả,
hoan hỷ, không bỏn sẻn, thường không trông chờ sự báo
đáp, không để sự trộm cắp che lấp tâm mình hay tự chế
ngự. Đối với việc không cho mà lấy, nay tôi tịnh trừ
tâm ấy’. Ta coi chi này đồng đẳng không khác với A-la-hán,
cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa phi phạm hạnh,
đoạn trừ phi phạm hạnh, tu hành phạm hạnh, chí thành tâm
tịnh, sống không xú uế, ly dục, đoạn dâm, vị ấy đối
với phi phạm hạnh, tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngày
một đêm này xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh
tu hành phạm hạnh, chí thành tịnh tâm, sống không xú uế,
ly dục, đoạn dâm. Đối với phi phạm hạnh, nay tôi tịnh
trừ tâm ấy’. Ta coi chi này đồng đẳng không khác với
A-la-hán, cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời không nói láo, đoạn
trừ sự nói láo chỉ nói lời chắc thật, vui thích sự thật,
an trụ nơi sự thật, được mọi người tin tưởng, không
lừa gạt thế gian. Vị ấy đối với sự nói dối, tâm đã
tịch trừ. Tôi nay trọn đời không nói dối, đoạn trừ sự
nói dối, chỉ nói lời chắc thật, vui thích sự thật, an
trụ nơi sự thật, được mọi người tin tưởng, không lừa
gạt thế gian. Đối với sự nói dối, tôi nay tịnh trừ tâm
ấy’. Ta coi chi này đồng đẳng không khác với A-la-hán,
cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa việc uống
rượu buông lung, đoạn trừ sự uống rượu buông lung. Vị
ấy đối với việc uống rượu buông lung, tâm đã tịnh trừ.
Tôi nay cũng trọn đời xa lìa sự uống rượu buông lung, đoạn
trừ sự uống rượu buông lung. Đối với việc uống rượu
buông lung, nay tôi tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi này đồng
đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa giường lớn
cao rộng, đoạn trừ giường lớn cao rộng, vui thích nằm
ngồi chỗ thấp, hoặc giường hoặc trải cỏ. Vị ấy đối
với giường lớn cao rộng, tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong
một ngày một đêm này xa lìa giường lớn cao rộng, đoạn
trừ giường lớn cao rộng, vui thích nằm ngồi chỗ thấp,
hoặc giường hoặc trải cỏ. Đối với giường lớn cao rộng,
tôi nay tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi này đồng đẳng không
khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa tràng hoa anh
lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến
xem nghe. Đoạn trừ tràng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp,
ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Vị ấy đối với
tràng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ
và đi đến xem nghe tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngày
một đêm này xa lìa tràng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp,
ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Đoạn trừ tràng hoa
anh lạc, hương bột phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến
xem nghe. Đối với tràng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp,
ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe, nay tôi tịnh trừ
tâm ấy’. Ta coi chi này đồng đẳng không khác với A-la-hán,
cho nên nói là trai.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa sự ăn phi
thời, đoạn trừ sự ăn phi thời. Vị ấy đối với sự
ăn phi thời tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngày một
đêm xa lìa sự ăn phi thời, đoạn trừ sự ăn phi thời. Đối
với sự ăn phi thời, tôi nay tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi
này như của A-la-hán, ngang nhau không khác, do đó gọi là trai.
"Người
ấy sau khi đến với Thánh trai tám chi này rồi, để tiến
lên, lại nên tu tập năm pháp.
"Những
gì là năm? Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai
niệm tưởng Như Lai rằng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu[11]
, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự[12]
, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu[13]
’. Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy, ác tham
nếu có liền bị tiêu diệt. Những pháp tạp uế, ác bất
thiện, nếu có cũng bị diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh
đệ tử duyên nơi Như Lai cho nên tâm tĩnh, được hỷ, ác
tham lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện
nếu có cũng bị tiêu diệt. Cũng như một người trên đầu
có cáu ghét, do cao, nước nóng, sức người tắm gội cho nên
được sạch. Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai
niệm tưởng Như Lai rằng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật,
Chúng Hựu’. Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy
ác lam tham nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất
thiện nếu có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh
đệ tử duyên nơi Như Lai nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham
lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, bất thiện nếu
có cũng bị diệt. Đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ
trì trai giới Phạm thiên, cùng cộng hội với Phạm thiên,
nhân Phạm thiên cho nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu
có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng
bị diệt.
Này
Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Pháp
rằng, ‘Pháp này do Thế Tôn giảng thuyết toàn thiện, cứu
cánh, thường hằng, không biến đổi, được biết bởi chánh
trí, được thấy bởi chánh trí, được chứng giác bởi chánh
trí [14]’.
Người ấy sau khi niệm tưởng như vậy rồi, ác tham lam nếu
có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng
bị diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi pháp
nên tâm tĩnh, được hỷ; ác tham lam nếu có liền diệt, pháp
tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng bị diệt. Cũng như một
người trong mình có cấu ghét, nhờ bột tắm, nước nóng
và sức người tắm gội kỹ cho nên được sạch sẽ. Cũng
vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Pháp rằng,
‘Pháp này do Thế Tôn giảng thuyết toàn thiện, cứu cánh,
thường hằng, không biến đổi’. Người ấy sau khi niệm
pháp như vậy rồi, ác tham lam nếu có liền được diệt,
pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Này
Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi pháp cho nên tâm
tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp
tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Này Bà
cư sĩ, đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ trì pháp trai,
cùng cộng hội với pháp, nhân pháp cho nên tâm tĩnh, được
hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế,
bất thiện nếu có cũng được diệt.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm
tưởng Tăng rằng, ‘Tăng là đệ tử Thế Tôn, khéo thú hướng,
chất trực, hành yếu, hành thú, trong Tăng chúng của Như Lai
thật sự có A-la-hán thú, A-la-hán quả chứng, A-na-hàm thú,
A-na-hàm quả chứng, Tư-đà-hàm thú, Tư-đà-hàm quả chứng,
Tu-đà-hoàn thú, Tu-đà-hoàn quả chứng. Đó là bốn đôi,
tám hạng Thánh sĩ. Đó là chúng tăng đệ tử của Thế Tôn,
thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến,
xứng đáng mời gọi, xứng đáng thỉnh, xứng đáng cúng dường,
xứng đáng phụng sự, xứng đáng kính trọng, là ruộng phước
là ruộng phước tốt cho trời và người [15]
’. Người đó sau khi niệm tưởng như vậy rồi, ác tham lam
nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu
có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử
duyên nơi Tăng nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có
liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng
được diệt. Cũng như một người nơi áo có cấu ghét, bất
tịnh, nhờ tro, bột kết, bột giặt, nước nóng, sức người
giặt giũ, nên nó được sạch sẽ như vậy. Cũng vậy, Đa
văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Tăng rằng, ‘Tăng
là đệ tử Thế Tôn, khéo thú hướng, chất trực, hành yếu,
hành thú, trong Tăng chúng của Như Lai thật sự có A-la-hán
thú, A-la-hán quả chứng, A-na-hàm thú, A-na-hàm quả chứng.
Tư-đà-hàm thú, Tư-đà-hàm quả chứng, Tu-đà-hoàn thú, Tu-đà-hoàn
quả chứng. Đó là bốn đôi tám hạng Thánh sĩ, đó là Tăng
chúng của Thế Tôn, thành tựu, giới, định, tuệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến, xứng đáng mời gọi, xứng đáng thỉnh,
xứng đáng cung kính, xứng đáng cúng dường, xứng đáng phụng
sự, xứng đáng kính trọng, là ruộng phước tốt cho trời
và người’. Người ấy niệm tưởng Tăng như vậy, ác tham
lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện
nếu có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ
tử duyên nơi tăng nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu
có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có
cũng được diệt. Đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ
trì tăng trai, cùng tăng cộng hội, nhân tăng mà tâm tĩnh,
được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp
uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy
Giới mình đang thọ trì, không sứt, không thủng, không uế,
không ô, rất rộng, rất lớn, không trông chờ báo đáp, được
bậc trí khen ngợi, khéo trọn đủ, khéo thú hướng, khéo
thọ, khéo trì. Người ấy sau khi niệm tưởng Giới mình đang
thọ rồi, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp
uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ,
Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Giới, nên tâm tĩnh, được
hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế,
ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Cũng như một tấm
gương bụi nhơ, không sáng, nhờ đá, đá mài, ngọc oanh, và
sức người lau chùi, mài dũa mà được trong sáng. Cũng vậy,
Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Giới mình đang
thọ trì, không sứt, không thủng, không ô, không uế, rất
rộng, rất lớn, không trông chờ báo đáp, được bậc trí
khen ngợi, khéo trọn đủ, khéo thú hướng, khéo thọ, khéo
trì. Người ấy sau khi niệm tưởng Giới mình đang thọ trì
như vậy, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp
uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ,
Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Giới nên tâm tĩnh, được
hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt pháp tạp uế, ác
bất thiện nếu có cũng được diệt. Đó gọi là Đa văn
Thánh đệ tử thọ trì giới trai. Cùng Giới cộng hội, nhân
Giới, tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được
diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt.
"Lại
nữa, này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm
tưởng chư Thiên rằng, ‘Thật sự có Tứ vương thiên. Hàng
Thiên ấy, nếu thành tựu tín, mạng chung nơi này được sanh
nơi ấy. Tôi cũng có tín ấy. Hàng Thiên ấy, nếu thành tựu
giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi này được sanh nơi ấy.
Tôi cũng có tuệ ấy. Thật sự có Tam thập tam thiên, Diệm-ma
thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa lạc thiên.
Hàng Thiên ấy, thành tựu tín, mạng chung nơi này được sanh
nơi ấy, tôi cũng có tín ấy. Hàng Thiên ấy, nếu thành tựu
giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi này được sanh nơi ấy.
Tôi cũng thành tựu tuệ ấy’. Người ấy sau khi niệm tưởng
như vậy rồi, và chư Thiên có tín, giới, văn, thí, tuệ,
ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất
thiện nếu có cũng được diệt. Này Bà cư sĩ, Đa văn Thánh
đệ tử duyên nơi chư Thiên nên tâm tĩnh, được hỷ, ác
tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất
thiện nếu có cũng được diệt. Cũng như vàng ròng thượng
sắc, bị bụi đóng bất tịnh, nhờ lửa, bài, kiềm, chùy,
đất đỏ, sức người lau chùi mài dũa mà được minh tịnh.
Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng chư
Thiên rằng ‘Thật sự có Tứ vương thiên. Hàng Thiên ấy,
nếu thành tựu tín, mạng chung nơi này được sanh nơi kia,
tôi cũng có tín ấy. Hàng Thiên ấy, nếu thành tựu giới,
văn, thí, tuệ, mạng chung nơi này được sanh nơi kia, tôi
cũng có tuệ ấy. Thật sự có Tam thập tam thiên, Diệm-ma
thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa lạc thiên.
Hàng Thiên ấy, nếu thành tựu tín, mạng chung nơi này được
sanh nơi ấy. Tôi cũng thành tựu tín ấy. Hàng Thiên ấy, nếu
thành tựu giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi này được
sanh nơi ấy; tôi cũng thành tựu tuệ ấy’. Người ấy niệm
tưởng như vậy, và chư Thiên có tín, giới, văn, thí, tuệ,
ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất
thiện nếu có cũng được diệt.
"Này
Bà cư sĩ, nếu hành trì Thánh trai tám chi này như vậy và
ở đây với mười sáu đại quốc này, một là Ương-già,
hai là Ma-kiệt-đà, ba là Ca-thi, bốn là Câu-tát-la, năm là
Câu-lâu, sáu là Ban-xà-la, bảy là A-nhiếp-bối, tám là A-hòa-đàn-đề,
chín là Chi-đề, mười là Bạt-kỳ, mười một là Bạt-ta,
mười hai là Bạt-la, mười ba là Tô-ma, mười bốn là Tô-ma-tra,
mười lăm là Dụ-ni, mười sáu là Kiếm-phu. Trong các nước
này những sở hữu tiền tài, bảo vật, kim ngân, ma ni, chơn
châu, lưu ly, tương-già[16],
bích ngọc, san hô, lưu-thiệu [17]
, bệ-lưu[18]
, bệ-lặc[19],
mã não, đồi mồi, xích thạch, tuyền châu, và giả sử một
người làm vua trong đó, sẽ được xử dụng tự tại, tùy
ý. Nhưng người ấy so với người thọ trì Thánh trai tám
chi hoàn toàn không bằng một phần mười sáu.
"Này
Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú của nhân
vương không bằng lạc thú của chư Thiên’. Nếu nhân gian
năm mươi năm, ở trên Tứ vương thiên mới là một ngày một
đêm. Như vậy ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng
là một năm. Năm trăm năm như vậy là tuổi thọ của Tứ
vương thiên. Này Bà cư sĩ, tất có trường hợp này, là thiện
nam tử hay thiện nữ nhân, thọ trì Thánh trai tám chi, thân
hoại mạng chung sẽ sanh lên Tứ vương Thiên.
"Này
Bà cư sĩ, do đó mà ta nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương
không bằng lạc thú chư Thiên’. Nếu nhân gian sống một
trăm tuổi, thì ở Tam thập tam thiên mới một ngày một đêm.
Như vậy ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là
một năm và một nghìn năm như vậy là tuổi thọ của Tam
thập tam thiên. Này Bà cư sĩ, tất có trường hợp này là
thiện nam tử hay thiện nữ nhân, thọ trì Thánh trai tám chi
này, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Tam thập
tam thiên.
"Này
Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương
không bằng lạc thú chư Thiên’. Ở nhân gian hai trăm năm
thì Diệm-ma thiên mới là một ngày một đêm. Như vậy ba
mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm.
Hai nghìn năm như vậy là tuổi thọ của Diệm-ma thiên. Này
Bà cư sĩ, tất có trường hợp này, là thiện nam tử hay thiện
nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi, khi thân hoại mạng chung
sẽ được sanh lên trên Diệm-ma thiên.
"Này
Bà cư sĩ, ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú của nhân
vương không bằng lạc thú của chư Thiên’. Nhân gian bốn
trăm năm thì Đâu-suất-đà thiên mới là một ngày một đêm.
Như vậy, ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng
là một năm. Bốn ngàn năm như vậy là tuổi thọ của Đâu-suất-đà
thiên. Này Bà cư sĩ, tất có trường hợp này, là thiện nam
tử hay thiện nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi này, khi thân
hoại mạng chung sẽ được sanh lên Đâu-suất-đà thiên.
"Này
Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương
không bằng lạc thú chư Thiên’. Nhân gian sống tám trăm tuổi,
thì Hóa lạc thiên mới là một ngày một đêm. Như vậy ba
mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm,
tám ngàn năm như vậy là tuổi thọ của Hóa lạc thiên. Này
Bà cư sĩ, tất có trường hợp này, là thiện nam tử hay thiện
nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi này, khi thân hoại mạng
chung sẽ được sanh lên Hóa lạc thiên.
"Này
Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói rằng, ‘Lạc thú của nhân vương
không bằng lạc thú chư Thiên’. Nhân gian một ngàn sáu trăm
năm, thì Tha hóa lạc thiên mới một ngày một đêm. Như vậy
ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm,
một vạn sáu ngàn năm như vậy là tuổi thọ của Tha hóa
lạc thiên. Này Bà cư sĩ, tất có trường hợp này, là thiện
nam tử hay thiện nữ nhân thì trì Thánh trai tám chi này, khi
thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Tha hóa lạc thiên."
Lúc
bấy giờ Lộc Tử Mẫu Tì-xá-khư chắp tay hướng về Đức
Phật bạch rằng:
"Bạch
Thế Tôn, Thánh trai tám chi thật là kỳ diệu, thật là hy
hữu, đại lợi, đại quả, có đại công đức, có đại
quảng bố, con từ nay cho đến trọn đời xin thọ trì Thánh
trai tám chi này, tùy theo năng lực mà bố thí tu phước."
Rồi
Lộc Tử Mẫu sau khi nghe những lời Phật dạy, khéo thọ trì,
khéo tu tập, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, đi quanh ba vòng
rồi lui về.
Thế
Tôn thuyết như vậy, Lộc Tử Mẫu Tì-xá-khư và các Tỳ-kheo
sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
1.
Tương đương Pāli: A.8.43. Visākhā-sutta. Biệt dịch No.87 Phật
Thuyết Trai Kinh, Ngô, Chi Khiêm dịch; No.88 Ưu-ba-di Đọa-xá-ca
Kinh, khuyết danh dịch; và 89 Phật Thuyết Bát Quan Trai Kinh,
Lưu Tống, Trở Cừ Kinh Thanh dịch.
2.
Đông viên, Lộc tử mẫu giảng đường 東 園 鹿 子 母 講
堂. Pāli: Pubbārāme Migāramātupāsāde.
3.
Lộc tử mẫu Tì-xá-khư 鹿 子 母 毗 舍 佉. Pāli: Visākhā
Migāramātā.
4.
Nguyên Hán: Cư sĩ phụ 居 士 婦.
5.
Phóng ngưu nhi trai 放 牛 兒 齋. Pāli: gopālakūposatha.
6.
. Ni-kiền trai 尼 犍 齋. Pāli: Nigaṇṭhūposatha.
7.
Bỉ dụng thử dục bất dữ nhi dụng phi thị dữ dụng 彼
用 此 欲 不 與 而 用 非 是 與 用. Câu này không hiểu muốn
nói gì. No.87, có đoạn có thể đối chiếu lại không có
ý nghĩa quan hệ ngày hôm sau, vẫn gọi nhau (là cha mẹ, con
cái...) như cũ.
8.
Thánh bát chi trai 聖 八 支 齋. Pāli: atthaṅga samannāgato upasatho
hay ariyūposatha.
9.Bản
Hán có sự nhầm lẫn. Giới bát quan trai có thể tự phát
nguyện trong một ngày một đêm No.87 và bản Pāli cũng nói
chỉ phát nguyện trong một ngày một đêm. Pāli: yāvajīvaṃ
arahanto pāṇātipātaṃ pahāya... ahaṃ pajja imañca rattiṃ imañca
divasaṃ pāṇtipātaṃ pahāya..., A-la-hán trọn đời không sát
sanh... tôi nay một ngày một đêm không sát sanh...
10.
Câu chót này theo văn mạch bản Hán, phải hiểu lời kết
của Phật. Nhưng theo bản Pāli nó nằm trong lời phát nguyện.
Pāli: imināpaṅgena arahantaṃ anukaromi uposatho ca me upavuttho,
“Tôi noi gương A-la-hán với chi này, tôi sẽ thọ trì trai
giới".
11.
Hán: Minh Hành Thành Vi. Pāli: vijjācara-sampanno.
12.
Đạo Pháp Ngự 道 法 御; bản Hán đọc Dhammasārathi (người
đánh xe của Đạo pháp) và lược bỏ purisa (con người). Phật
hiệu theo Pāli: Purisadammasārathi (vị đánh xe, hay hướng dẫn
con người đã đươc huấn luyện): Điều ngự trượng phu.
13.
Chúng Hựu 眾 祐, tức Thế Tôn. Pāli: Bhagavā.
14.Tư
duy về Pháp bảo, đọc theo Pháp Uẩn (Đại 26, tr.462a) như
vầy: “Phật Chánh pháp thiện thuyết hiện kiến, vô nhiệt,
ứng thời, dẫn đạo, cận quán, trí giả nội chứng”.
15.
Tư duy về Tăng bảo, theo Pháp Uẩn (sđd., nt.) như vầy: “Phật
đệ tử, cụ túc diệu hành, chất trực hành, như lý hành,
pháp tùy pháp hành, hòa kỉnh hành, ở trong tăng này có Dự
lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả,
Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán
quả. Như vậy tổng có bốn song tám bối Bổ-đặc-già-la.
Phật đệ tử chúng giới cụ túc, ứng thỉnh, ứng khuất,
ứng cung kính, vô thượng phước điền, thế sở ứng cúng”.
16.
Tương-già 儴 伽. Pāli: saṃkha, vỏ sò hay xa-cừ.
17.
Lưu-thiệu 留 邵, không rõ ngọc gì.
18.
Bệ-lưu 鞞 留, không rõ ngọc gì.
19..
Bệ-lặc 鞞 勒, không rõ ngọc gì.