198.
KINH ĐIỀU NGỰ ĐỊA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại thành Vương xá, ở tại Trúc lâm, trong
vườn Ca-lan-đà.
Bấy
giờ Sa-di A-di-na-hòa-đề [2],
cũng ở tại thành Vương xá, tại một cốc thiền, trong khu
rừng vắng. Lúc bấy giờ Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na [3],
sau giờ trưa, thong dong đi đến Sa-di A-di-na-hòa-đề, cùng
chào hỏi xong, ngồi xuống một bên hỏi rằng:
"Hiền
giả A-kì-xá-na [4],
tôi có điều muốn hỏi, mong Hiền giả nghe cho chăng?”
Sa-di
A-di-na-hòa-đề nói:
"Hiền
Vương đồng tử, muốn hỏi xin cứ hỏi. Tôi nghe rõ rồi
sẽ suy nghĩ."
Vương
đồng tử hỏi:
"Hiền
giả A-kì-xá-na, phải chăng thật sự Tỳ-kheo ở trong Pháp
Luật này không phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến
nhất tâm chăng?”
Sa-di
đáp:
“Hiền
Vương đồng tử, thật sự như vậy, Tỳ-kheo ở trong Pháp
Luật này, không phóng dật, tu hành tinh cần sẽ đạt được
nhất tâm.”
Vương
đồng tử lại hỏi:
"Hiền
giả A-kì-xá-na, mong Hiền giả theo những điều đã nghe, đã
tụng tập, nói lại hết cho tôi rõ, như Tỳ-kheo trong Pháp
Luật này không phóng dật, tu hành tinh cần sẽ đạt đến
nhất tâm.”
Sa-di
đáp:
“Hiền
Vương đồng tử, tôi không đủ sức để theo những điều
đã nghe, đã tụng tập nói lại hết cho Vương tử, như Tỳ-kheo
ở trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ
đạt đến nhất tâm. Hiền Vương tử, nếu tôi theo những
điều đã nghe, đã tụng tập nói lại hết cho Vương tử,
như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành
tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm. Hoặc Hiền giả Vương
tử không thể hiểu được. Như vậy thì tôi nhọc công vô
ích."
Vương
đồng tử nói với Sa di:
"Hiền
giả A-kì-xá-na, Hiền giả chưa bị người khác chiết phục,
vì ý gì mà đã tự mình rút lui? Hiền giả A-kì-xá-na, mong
Hiền giả cứ theo những điều đã nghe, đã tụng tập, có
thể nói lại hết cho tôi, như Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật
này không phóng dật, tu hành tinh cần sẽ đạt đến nhất
tâm, nếu tôi hiểu được thì hay lắm, nhưng nếu tôi không
hiểu sẽ không hỏi thêm về các pháp nữa."
Rồi
thì Sa-di A-di-na-hòa-đề theo những pháp đã nghe, đã tụng
tập, nói lại cho Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na, như Tỳ-kheo
ở trong Pháp Luật này, không phóng dật, tu hành tinh cần,
sẽ đạt đến nhất tâm. Bấy giờ Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na
nói:
"Hiền
giả A-kì-xá-na, nếu Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không
phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm; không
bao giờ có trường hợp này."
Nói
xong, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, không nói lời từ giã
mà bỏ đi. Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na đi chưa bao lâu,
rồi Sa-di A-di-na-hòa-đề đi đến chỗ Phật, cúi đầu làm
lễ và ngồi sang một bên, đem những điều đã thảo luận
với Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na kể hết lại cho Đức
Phật. Đức Thế Tôn nghe xong, nói với Sa-di:
"A-kì-xá-na,
thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết được, khi Vương đồng
tử Kì-bà-tiên-na sống trong dục vọng, bị dục ái nhai nuốt,
bị dục vọng đốt cháy. Đối với sự đoạn trừ dục,
đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt cháy của dục, tình trạng
mà chỉ có địa vị[5]
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác;
địa vị ấy mà Vương đồng tử có thể biết được, thấy
được, không thể có trường hợp này. Vì sao vậy? Này A-kì-xá-na,
vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
"A-kì-xá-na,
cũng như trong bốn trường hợp điều ngự
[6]; điều ngự voi, điều ngự ngựa, điều ngự bò, điều
ngự người. Trong đó có hai trường hợp điều ngự có thể
điều ngự, và hai trường hợp điều ngự không thể điều
ngự
[7]. A-kì-xá-na, ý ngươi nghĩ sao? Nếu trong hai trường hợp
điều ngự không thể điều ngự ấy; ở đây chưa điều
phục tình trạng chưa điều phục, chưa được huấn luyện
mà tiếp nhận sự huấn luyện, trường hợp này không thể
có [8].
Nếu trong hai trường hợp điều ngự có thể điều ngự này,
khéo điều ngự; ở đây điều phục tình trạng chưa điều
phục, huấn luyện để tiếp nhận sự huấn luyện, trường
hợp này có thể có [9].
"Cũng
vậy, ở đây, A-kì-xá-na, thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết
được, khi Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na sống trong dục
vọng, bị dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt cháy. Đối
với sự đoạn trừ dục, đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt
cháy của dục, tình trạng mà chỉ có địa vị[10]
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác;
địa vị ấy mà Vương đồng tử có thể biết được, thấy
được, không thể có trường hợp này. Vì sao vậy? Này A-kì-xá-na,
vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
"A-kì-xá-na,
cũng như cách xóm không xa có một hòn núi đá lớn, không
sứt, không thủng, không trống, bền chặt, không lung lay, hợp
thành khối duy nhất. Giả sử có hai người đang muốn nhìn
ngắm, trong đó có một người leo nhanh lên núi, người thứ
hai đứng dưới chân núi. Người đứng trên núi đá nhìn
thấy bên kia núi đá có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược,
cây rừng, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn. Người
trên núi sau khi thấy, bèn hỏi người dưới núi rằng, ‘Bạn
có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược,
cây rừng, ao hoa, suối trong, sông dài, nước lớn chăng?’
Người dưới núi đáp, ‘Nếu tôi thấy hòn núi này, với
bên kia có khoảng đất bằng phẳng, vườn tược, cây rừng,
suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn, trường hợp này không
thể có.’ Rồi người trên núi leo nhanh xuống, nắm người
dưới núi dẫn lên trên hòn núi đá. Đến nơi rồi hỏi,
‘Bạn có thấy bên kia núi có khoảng đất bằng phẳng, vườn
tược, cây rừng, suối trong, ao hoa, sông dài, nước lớn chăng?’
Người kia đáp, ‘Bây giờ tôi mới thấy.’ Lại hỏi người
kia, ‘Vừa rồi bạn nói rằng không thể có trường hợp
này, nay lại nói là thấy có; thế nghĩa là sao?’ Người
kia đáp, ‘Vừa rồi tôi bị hòn núi che khuất nên không thấy.’
"Cũng
vậy, A-kì-xá-na, thôi đủ rồi. Làm sao có thể biết được,
khi Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na sống trong dục vọng, bị
dục ái nhai nuốt, bị dục vọng đốt cháy. Đối với sự
đoạn trừ dục, đoạn trừ ái, đoạn trừ sự đốt cháy
của dục, tình trạng mà chỉ có địa vị[11]
vô dục mới biết, vô dục mới hay, vô dục mới chứng giác;
địa vị ấy mà Vương đồng tử có thể biết được, thấy
được, không thể có trường hợp này. Vì sao vậy? Này A-kì-xá-na,
vì Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na thường sống trong dục
vọng vậy.
"Này
A-kì-xá-na, thuở xưa, vua Sát-lợi Đảnh Sanh có một người
thợ săn voi. Vua nói, ‘Này thợ săn voi. Hãy bắt voi rừng
về đây cho ta. Nếu bắt được rồi hãy báo cho ta hay.’
Bấy giờ thợ săn voi sau khi lãnh mạng của vua, bèn cỡi vương
tượng đi đến một khu rừng già. Ở trong khu rừng già này,
người thợ săn trông thấy một con voi rừng rất lớn. Sau
khi thấy, bèn bắt và cột vào cổ con vương tượng. Lúc bấy
giờ con vương tượng dẫn voi rừng ra ngoài khoảng đất trống,
còn người thợ săn voi thì đi đến vua Sát-lợi Đảnh Sanh
thưa rằng, ‘Tâu thiên vương, thần đã bắt được con voi
rừng, cột ở khoảng đất trống, xin theo ý thiên vương!”
Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nghe tâu, liền bảo rằng, ‘Này nài
voi giỏi, bây giờ ngươi hãy huấn luyện nhanh chóng con voi
rừng đó khiến nó khuất phục, khiến nó thành con voi được
huấn luyện kỹ. Nếu huấn luyện đã hoàn hảo rồi, hãy
trở về báo cho ta biết.’ Rồi người huấn luyện voi giỏi
sau khi vâng mạng vua, vác cây gậy rất lớn trên vai hữu,
đi đến chỗ con voi rừng. Người ấy cắm cây gậy xuống
đất, cột cổ voi rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi
rừng của nó, trừ khử tâm niệm ham muốn núi rừng, dứt
bỏ mệt nhọc núi rừng, khiến cho nó vui thích thôn ấp, tập
yêu người đời.
"Người
huấn luyện voi giỏi trước hết cho nó ăn uống. Này A-kì-xá-na,
khi voi rừng bắt đầu nghe theo thợ huấn luyện voi giỏi mà
chịu ăn uống, người huấn luyện voi giỏi bèn nghĩ rằng,
‘Bây giờ con voi rừng này có thể sống được rồi. Vì
sao vậy? Vì con voi rừng to lớn này bắt đầu chịu ăn uống.’
Khi voi rừng bắt đầu chịu ăn uống, nghe lời người huấn
luyện, người huấn luyện voi nói với nó bằng những lời
dịu dàng khả ái, bảo nó nằm xuống, đứng dậy, đi tới,
đi lui, lấy, bỏ, co lại, đuổi ra. Khi người luyện voi nói
với voi rừng bằng những lời dịu dàng khả ái, bảo nó
nằm xuống, đứng dậy, đi tới, đi lui, lấy bỏ, co lại
duỗi ra, và voi rừng làm y theo lời dạy của người huấn
luyện voi như vậy. Này A-kì-xá-na, khi voi rừng nghe theo lời
dạy của người huấn luyện voi, bấy giờ người huấn luyện
voi mới buộc hai chân trước, hai chân sau, hai bàn thối, hai
sườn hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai, ngà, và buộc
cả vòi nó lại, rồi sai người cầm móc câu cỡi lên đầu
nó; khiến một số đông người cầm dao, thuẫn, sảo, mâu,
kích, búa, việt, đứng phía trước, còn người huấn luyện
voi thì tay cầm một cây mâu nhọn đứng ngay trước voi mà
nói rằng, ‘Bây giờ ta trị ngươi, khiến ngươi không di
động. Ta trị ngươi chớ có di động.’ Khi voi rừng nghe
người huấn luyện voi sửa trị không di động, nó không giở
chân trước, cũng không động đậy chân sau, hai bàn thối,
hai sườn hông, đùi, xương sống, đầu, trán, tai ngà và vòi,
tất cả thảy đều không động đậy. Voi rừng nghe theo người
huấn luyện voi đứng im bất động như vậy.
"Này
A-kì-xá-na, khi voi rừng nghe theo người huấn luyện voi mà
không di động, lúc bấy giờ nó nhẫn chịu những dao, sảo,
mâu, kích, búa, việt, hô hoán to tiếng, hoặc gào thét, hoặc
thổi tù và, đánh trống, động chuông, nó có thể nhẫn chịu
tất cả. Khi voi rừng đã có thể kham nhẫn, bấy giờ nó
là con voi điều ngự, khéo điều ngự, thượng điều ngự,
tối thượng điều ngự, thượng nhanh nhẹn, tối thượng
nhanh nhẹn, có thể vào cho vua cỡi, ăn lẫm của vua, được
gọi là vương tượng.
"Cũng
vậy, A-kì-xá-na, nếu khi Như Lai xuất hiện thế gian, là Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên
Nhân Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu, vị ấy đối với thế
gian này, giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người
đến trời, mà tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu
an trụ. Vị ấy thuyết pháp phần đầu vi diệu, phần giữa
vi diệu, phần cuối cũøng vi diệu, có nghĩa có văn, đầy
đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh; pháp được vị ấy
nói, khi con nhà cư sĩ nghe được, và sau khi nghe thì có tín
tâm nơi pháp được Như Lai nói. Người này sau khi có tín
tâm, bèn cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, để học đạo. Này A-kì-xá-na,
đó là lúc Thánh đệ tử ra nơi khoảng đất trống, cũng
như vương tượng dẫn voi rừng ra. Và cũng như voi rừng còn
tham luyến ái dục, ái dục nơi đời sống trong rừng núi.
Này A-kì-xá-na, cũng vậy, chư Thiên và Nhân loại tham luyến
dục lạc ở nơi ngũ dục, sắc, thanh, hương, vị, xúc, Như
Lai bắt đầu điều ngự Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy thủ
hộ thân và mạng thanh tịnh. Hãy thủ hộ miệng ý và mạng
thanh tịnh.
"Khi
Thánh đệ tử thủ hộ thân và mạng thanh tịnh, thủ hộ
miệng, ý và mạng thanh tịnh. Như Lai lại điều phục Tỳ-kheo
ấy rằng, ‘Ngươi hãy quán nội thân như thân, cho đến quán
thọ, tâm, pháp như pháp.’ Khi Thánh đệ tử quán nội thân
như thân, quán thọ, tâm, pháp như pháp, thì bốn niệm xứ
này ở trong tâm của Hiền Thánh đệ tử, buộc trói tâm của
vị ấy lại, chế ngự tâm ý vui say theo thế tục, trừ khử
tâm niệm ham muốn thế tục, dứt trừ sự mệt nhọc thế
tục, khiến cho vui với Chánh pháp, tu tập Thánh giới. Này
A-kì-xá-na, cũng như người huấn luyện voi, sau khi vâng mạng
vua Sát-lợi Đảnh Sanh rồi, vác cây gậy rất lớn rồi trên
vai phải đi đến chỗ voi rừng, cắm cây xuống đất, cột
cổ voi rừng lại, chế ngự tâm ý vui thích núi rừng, trừ
khử tâm niệm ham muốn núi rừng, dứt bỏ sự mệt nhọc
núi rừng, khiến vui với thôn ấp, quen yêu thích nhân gian;
cũng vậy, này A-kì-xá-na,, bốn niệm xứ này ở trong tâm
của Hiền Thánh đệ tử, buộc trói tâm người ấy lại,
chế ngự tâm ta vui say thế tục, dứt bỏ sự mệt nhọc thế
tục, khiến vui với Chánh pháp, tu tập Thánh giới.
"Khi
Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán, thọ,
tâm, pháp như pháp, Như Lai điều phục Tỳ-kheo ấy rằng,
‘Ngươi hãy quán nội thân như thân, đừng suy niệm những
tư niệm tương ưng với dục, cho đến quán thọ, tâm, pháp
như pháp, không suy niệm những tư niệm tương ưng với phi
pháp.’ Và đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai vậy. Này
A-kì-xá-na, cũng như voi rừng nghe theo người huấn luyện voi,
bằng những lời dịu dàng khả ái, bảo nằm xuống, đứng
dậy, đi tới, đi lui, lấy, bỏ, co lại, duỗi ra. Voi rừng
tuân theo lời dạy của người huấn luyện voi như vậy. Cũng
vậy, này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử quán nội thân như
thân, không suy niệm tư niệm tương ưng với dục, cho đến
quán thọ, tâm, pháp như pháp, không suy niệm tư niệm tương
ưng với phi pháp. Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như
Lai như vậy.
"Khi
Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của Như Lai như vậy, Như
Lai lại điều phục Tỳ-kheo ấy rằng, ‘Ngươi hãy ly dục,
ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền
thành tựu và an trụ. Như vậy Thánh đệ tử vâng theo lời
dạy của Như Lai, an trụ không di động.’ Này A-kì-xá-na,
cũng như voi rừng vâng theo sự sửa trị của người huấn
luyện voi không di động, không giở hai chân trước, hai chân
sau, hai bàn thối, hai sườn hông, đùi xương sống, đầu,
tai, ngà và vòi, tất cả đều không di động. Voi rừng nghe
theo người huấn luyện voi đứng im không di động như vậy.
Cũng vậy, này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử ly dục, ly pháp
ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thành
tựu an trụ, như vậy Thánh đệ tử vâng theo lời dạy của
Như Lai mà an trụ không di động. Khi Thánh đệ tử vâng theo
lời dạy của Như Lai mà an trụ không di động, vị ấy lúc
bấy giờ có thể kham nhẫn đói, khát, nóng lạnh, muỗi, chí,
rận, gió, nắng bức bách, tiếng dữ, gậy đánh cũng đều
có thể kham nhẫn. Thân gặp những bệnh tật rất đau đớn,
gần như tuyệt mạng, và những điều không khả lạc, tất
cả đều có thể kham nhẫn. Này A-kì-xá-na, cũng như voi rừng
nghe theo người huấn luyện voi đứng im không di động, nó
lúc bấy giờ nhẫn chịu được dao, thuẫn, sảo, mâu, kích,
búa, việt, hô hoán to tiếng, hoặc gào thét, thổi tù và,
đánh trống, động chuông thảy đều có thể kham nhẫn. Cũng
vậy, này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo lời dạy
của Như Lai mà an trụ không di động, vị ấy lúc bấy giờ
có thể kham nhẫn đói, khát, lạnh, nóng, muỗi, chí, rận,
gió, nắng, bức bách, tiếng dữ, gậy đánh, cũng có thể
kham nhẫn, thân gặp những bệnh tật rất đau đớn, gần
như tuyệt mạng, và những điều không khả lạc, thảy đều
có thể kham nhẫn. Này A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo
lời dạy của Như Lai mà có thể kham nhẫn, vị ấy lúc bấy
giờ là vị điều ngự, thiện điều ngự, được thượng
điều ngự, tối thượng điều ngự, được thượng tịch
tịnh, tối thượng tịch tịnh. Vị ấy trừ bỏ các tà vạy,
sợ hãi, ngu si và siểm nịnh, thanh tịnh lắng đọng trần
lao, không cấu nhiễm không ô uế, xứng đáng tán thán, đáng
thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng đáng được
cúng dường, là ruộng phước cho tất cả chư Thiên và Nhân
loại. Này A-kì-xá-na, cũng như voi rừng đã có thể kham nhẫn.
Lúc bấy giờ nó là voi điều ngự, thiện điều ngự, thượng
điều ngự, tối thượng điều ngự, thượng nhanh nhẹn, tối
thượng nhanh nhẹn, có thể xung vào cho vua cỡi, được ăn
lẫm của vua, được gọi là vương tượng. Cũng vậy, này
A-kì-xá-na, khi Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà có thể kham
nhẫn, vị ấy lúc bấy giờ được gọi là điều ngự, thiện
điều ngự, được thượng điều ngự, tối thượng điều
ngự, thượng tịch tịnh, tối thượng tịch tịnh, trừ bỏ
các tà vạy, sợ hãi, ngu si và siểm nịnh, thanh tịnh lắng
đọng các trần lao, không cấu nhiễm, không ô uế, xứng đáng
tán thán, đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xứng
đáng cúng dường, là ruộng phước cho hết thảy chư Thiên
và Nhân loại.
"Này
A-kì-xá-na, con voi rừng còn nhỏ, không được điều ngự,
mà chết, thì đó gọi là cái chết không được điều ngự.
Con voi rừng trung niên, không được điều ngự mà chết, thì
gọi là cái chết không được điều ngự. Này A-kì-xá-na,
Thánh đệ tử niên thiếu không được điều mà mạng chung,
thì đó gọi là mạng chung không được điều ngự. Thánh
đệ tử trung niên không được điều ngự mà mạng chung thì
đó gọi là mạng chung không được điều ngự.
"Này
A-kì-xá-na, con voi rừng còn nhỏ được thiện điều ngự
mà chết thì đó gọi là cái chết thiện điều ngự. Con voi
rừng trung niên, được thiện điều ngự mà chết, thì đó
gọi là cái chết được thiện điều ngự. Này A-kì-xá-na,
Thánh đệ tử niên thiếu được thiện điều ngự mà mạng
chung, đó gọi là mạng chung thiện điều ngự. Thánh đệ
tử trung niêm được thiện điều ngự mà mạng chung, thì
đó gọi là mạng chung thiện điều ngự."
Phật
thuyết như vậy, Sa-di A-di-na-hòa-đề và các Tỳ-kheo sau khi
nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
1.
Tương đương Pāli, M.125. Dantabhūmi-suttaṃ.
2.
Sa-di A-di-na-hòa-đề 沙 彌
阿 夷
那 和
提. Pāli: Aciravato samaouddeso,
tân học Sa-môn Aciravata.
3.
Vương đồng tử Kì-bà-tiên-na 王 童
子 耆
婆 先
那. Pāli: Jayasena-Rājakūmāra.
4.
A-kì-xá-na 阿 奇
舍 那;
Pāli: Aggivassana: có thể tên của một bộ tộc chớ không
phải biệt danh của Tôn giả.
5.
Bản
Hán: địa, địa vị hay tình trạng; ý nghĩa sẽ thấy sau.
6.
Điều ngự 調 御;
Pāli: damma, được huấn luyện. Bản Pāli chỉ kể có ba: hatthidamma,
huấn luyện voi, assadamma, huấn luyện ngựa, godamma, huấn luyện
bò.
7.
Trong
bản Pāli, có hai con vật cần huấn luyện nhưng chưa được
huấn luyện, và hai con vật cần huấn luyện đã được huấn
luyện.
8.
Đoạn
này văn Hán hơi tối. Tham chiếu Pāli: api nu te adantāva dantakāraṇaṃ
gaccheyyuṃ, adantāva dantabhūmiṃ sampāpuṇeyyuṃ, seyyathāpi
te dve... sudantā suvinītā’ti? “Những con chưa được huấn
luyện này có thể làm công việc của con vật đã được
huấn luyện, có thể đạt đến địa vị của con vật đã
được huấn luyện, như hai con... đã được huấn luyện kỹ,
đã được khéo khuất phục kia?”
9.
Bản Hán hình như hiểu rằng có hai trường hợp có khả
năng huấn luyện, và hai trường hợp tuyệt đối không
khả năng.
10.
Bản
Hán: địa, địa vị hay tình trạng; ý nghĩa sẽ thấy sau.
11.
Xem
cht.10 trên.