196.
KINH CHÂU-NA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Bạt-kì, thôn Xá-di[2].
Bấy
giờ sa-di Châu-na[3], kiết hạ ở Ba-hòa[4]. Tại xứ Ba-hòa
có một Ni-kiền tên là Thân Tử[5]. Nơi đây, vị ấy qua đời.
Sau khi qua đời không bao lâu, các đệ tử Ni-kiền Thân Tử
chia rẽ và phá hoại nhau, nói những lời chia rẽ và phá hoại
nhau. Họ tranh đấu, kiện tụng, cột trói nhau, thù nghịch
nhau, tranh luận với nhau rằng, “Ta biết pháp này, ngươi
không biết. Ngươi biết pháp sao bằng chỗ ta biết? Ta nói
tề chỉnh, còn ngươi không tề chỉnh. Ta nói phù hợp, còn
ngươi không phù hợp. Điều đáng nói trước, ngươi nói sau;
điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Ta hơn, còn ngươi
không bằng. Ta hỏi việc ngươi, ngươi không thể trả lời
được. Ta đã chế phục ngươi, ngươi còn hỏi nữa. Nếu
ngươi động thủ, ta sẽ cột trói ngươi lại.” Họ kiêu
mạn và thách đố lẫn nhau. Ai cũng chỉ mong mình nói hơn,
mà không có người nào để khiển trách. Nếu có những người
bạch y tại gia, đệ tử của Ni-kiền Thân Tử, thấy vậy,
họ đều chán nản và lãng xa các đệ tử của Ni-kiền Thân
Tử này. Vì sao vậy? Bởi vì những điều họ nói ấy đều
là ác pháp luật, không phải là pháp xuất yếu, không dẫn
đến Chánh giác, cũng không phải là lời dạy của Đấng
Thiện Thệ. Nó là sự băng hoại, không thể đứng vững,
không nơi nương tựa và cậy nhờ. Bởi vì bậc thầy mà họ
tôn sùng không phải là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác.
Lúc
bấy giờ Sa-di Châu-na đã qua ba tháng an cư mùa mưa, sửa vá
lại y áo, rồi mang y cất bát đến thôn Xá-di, rồi qua phía
bắc thôn Xá-di, đến rừng Thi-nhiếp-hòa. Sa-di Châu-na đến
chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi đến nơi, đảnh lễ sát chân Tôn
giả A-nan, rồi ngồi qua một bên.
Tôn
giả A-nan hỏi[6]:
“Này
Hiền giả Châu-na, từ đâu đến đây? An cư mùa mưa ở đâu?”
Sa-di
Châu-na đáp:
“Bạch
Tôn giả A-nan, con từ Ba-hòa đến, và an cư mùa mưa ở Ba-
hòa. Bạch Tôn giả A-nan, tại xứ Ba-hòa có một Ni-kiền tên
là Thân Tử[7]. Nơi đây, vị ấy qua đời. Sau khi qua đời
không bao lâu, các đệ tử Ni-kiền Thân Tử chia rẽ và phá
hoại nhau, nói những lời chia rẽ và phá hoại nhau. Họ tranh
đấu, kiện tụng, cột trói nhau, thù nghịch nhau, tranh luận
với nhau rằng, ‘Ta biết pháp này, ngươi không biết. Ngươi
biết pháp sao bằng chỗ ta biết? Ta nói tề chỉnh, còn ngươi
không tề chỉnh. Ta nói phù hợp, còn ngươi không phù hợp.
Điều đáng nói trước, ngươi nói sau; điều đáng nói sau
ngươi lại nói trước. Ta hơn, còn ngươi không bằng. Ta hỏi
việc ngươi, ngươi không thể trả lời được. Ta đã chế
phục ngươi, ngươi còn hỏi nữa. Nếu ngươi động thủ,
ta sẽ cột trói ngươi lại.’ Họ kiêu mạn và thách đố
lẫn nhau. Ai cũng chỉ mong mình nói hơn, mà không có người
nào để khiển trách. Nếu có những người bạch y tại gia,
đệ tử của Ni-kiền Thân Tử, thấy vậy, họ đều chán
nản và lãng xa các đệ tử của Ni-kiền Thân Tử này. Vì
sao vậy? Bởi vì những điều họ nói ấy đều là ác pháp
luật, không phải là pháp xuất yếu, không dẫn đến chánh
giác, cũng không phải là lời dạy của đấng Thiện Thệ.
Nó là sự băng hoại, không thể đứng vững, không nơi nương
tựa và cậy nhờ. Bởi vì bậc thầy mà họ tôn sùng không
phải là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Tôn
giả A-nan nghe xong, nói rằng:
“Hiền
giả Châu-na, nhân dịp này, chúng ta có thể đến yết kiến
Đức Phật, đem sự việc này trình bày lên Thế Tôn. Này
Hiền giả Châu-na, bây giờ chúng ta cùng đi đến Đức Phật,
đem tất cả sự việc này trình lên cho Đức Thế Tôn. Thảng
hoặc, chúng ta có thể nhân đó mà được nghe pháp khác nữa
từ Đức Thế Tôn.”
Rồi
Tôn giả A-nan và Sa-di Châu-na cùng nhau đến chỗ Đức Phật,
chắp tay cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài, Tôn giả A-nan
đứng qua một bên và Sa-di Châu-na ngồi xuống một bên. Tôn
giả A-nan bạch với Đức Thế Tôn:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay Sa-di Châu-na đi đến chỗ con, cúi đầu đảnh
lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Con hỏi: ‘Hiền giả
Châu-na, từ nơi nào đến đây và an cư mùa mưa ở đâu?’
Sa-di Châu-na liền trả lời với con rằng: ‘Thưa Tôn giả
A-nan, con từ Ba-hòa đến, an cư mùa mưa ở Ba-hòa. Bạch Tôn
giả A-nan, tại Ba-hòa có một Ni-kiền tên là Thân Tử. Nơi
đây, vị ấy qua đời. Sau khi qua đời không bao lâu, các đệ
tử Ni-kiền Thân Tử chia rẽ và phá hoại nhau, nói những
lời chia rẽ và phá hoại nhau. Họ tranh đấu, kiện tụng,
cột trói nhau, thù nghịch nhau, tranh luận với nhau rằng, ‘Ta
biết pháp này, ngươi không biết. Ngươi biết pháp sao bằng
chỗ ta biết? Ta nói tề chỉnh, còn ngươi không tề chỉnh.
Ta nói phù hợp, còn ngươi không phù hợp. Điều đáng nói
trước, ngươi nói sau; điều đáng nói sau ngươi lại nói
trước. Ta hơn, còn ngươi không bằng. Ta hỏi việc ngươi,
ngươi không thể trả lời được. Ta đã chế phục ngươi,
ngươi còn hỏi nữa. Nếu ngươi động thủ, ta sẽ cột trói
ngươi lại.’ Họ kiêu mạn và thách đố lẫn nhau. Ai cũng
chỉ mong mình nói hơn, mà không có người nào để khiển
trách. Nếu có những người bạch y tại gia, đệ tử của
Ni-kiền Thân Tử, thấy vậy, họ đều chán nản và lãng xa
các đệ tử của Ni-kiền Thân Tử này. Vì sao vậy? Bởi vì
những điều họ nói ấy đều là ác pháp luật, không phải
là pháp xuất yếu, không dẫn đến chánh giác, cũng không
phải là lời dạy của đấng Thiện Thệ. Nó là sự băng
hoại, không thể đứng vững, không nơi nương tựa và cậy
nhờ. Bởi vì bậc thầy mà họ tôn sùng không phải là Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.’
“Bạch
Thế Tôn, con nghe rồi kinh sợ hãi hùng, toàn thân lông tóc
dựng đứng. Mong sau khi Thế Tôn khuất bóng, đừng có một
vị Tỳ-kheo nào ở trong chúng mà gây ra sự đấu tranh như
vậy. Sự đấu tranh ấy, không giúp gì cho ai mà chỉ gây khổ
cho mọi người. Nó không phải là sự thiện lợi và hữu
ích, không phải là sự an ổn và khoái lạc, cho đến loài
trời và loài người cũng phải chịu đau khổ và tai hoạn.
Bạch Thế Tôn, khi con thấy một vị Tỳ-kheo ngồi trước
Đức Thế Tôn chí tâm kính trọng Đức Thế Tôn, khéo hộ
trì Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn! Con thấy như vậy rồi liền
nghĩ, ‘Nếu sau này khi Thế Tôn khuất bóng mà vị Tỳ-kheo
ấy trong chúng gây sự đấu tranh, thì đấu tranh ấy không
giúp ích gì cho ai mà chỉ gây đau khổ cho mọi người, nó
không phải là sự thiện lợi và hữu ích, không phải là
sự an ổn và khoái lạc cho đến loài trời, loài người cũng
phải chịu đau khổ và tai hoạn’.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn hỏi:
“Ngươi
thấy những điều nào khiến chúng Tăng có sự đấu tranh,
sự đấu tranh ấy không giúp ích gì cho ai mà chỉ gây khổ
cho mọi người. Không phải là sự thiện lợi và hữu ích,
không phải là sự an ổn và khoái lạc cho đến loài trời,
loài người cũng phải chịu đau khổ và tai hoạn?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, đó là do tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng
thượng quán[8] mà phát sanh sự đấu tranh ở trong chúng. Bạch
Thế Tôn, sự đấu tranh ấy, không giúp gì cho ai mà chỉ gây
đau khổ cho mọi người. Nó không phải là sự thiện lợi,
không phải là sự hữu ích. Không phải là sự an ổn, khoái
lạc cho đến loài trời, loài người cũng phải chịu tai hoạn,
đau khổ.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
A-nan, nếu đấu tranh do bởi giới tăng thượng, tâm tăng thượng,
quán tăng thượng thì sự đấu tranh ấy quá nhỏ nhặt. Này
A-nan! Nếu có sự đấu tranh trong chúng Tăng do đạo và đạo
tích[9] thì sự đấu tranh ấy không giúp ích gì cho ai mà chỉ
gây khổ cho mọi người. Nó không phải là sự thiện lợi
và hữu ích, không phải là sự an ổn khoái lạc.
“Này
A-nan, khi ngươi thấy ở trong đấy có hai Tỳ-kheo vì mỗi
người có mỗi ý kiến khác nhau mà gây ra cuộc đấu tranh
mà nói rằng, ‘Đây là pháp, đây là phi pháp; đây là luật,
đây là phi luật; đây là phạm, đây là phi phạm; hoặc nhẹ,
hoặc nặng; có thể sám hối, không thể sám hối; có thể
thủ hộ, không thể thủ hộ; dư tàn, không dư tàn; khởi,
không khởi[10].
“Này
A-nan, ý ngươi nghĩ sao đối với pháp tụ mà Ta tự giác,
tự thân chứng ngộ, gồm Bốn niệm xứ, Bốn như ý túc,
Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Tám chi thánh đạo?
“Này
A-nan, Ni-kiền Thân Tử thật sự không phải là Nhất thiết
trí[11] nhưng tự cho là Nhất thiết trí.
“Này
A-nan, nếu Ni-kiền Thân Tử là vị biết tất cả, thấy tất
cả thì vị ấy đã vì đệ tử mà giảng giải sáu gốc rễ
của đấu tranh; nghĩa là, có thể nghe để đình chỉ[12].”
Bấy
giờ Tôn giả A Nan chắp tay hướng về Đức Phật bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn! Nay thật là đúng lúc. Bạch Thiện Thệ, nay thật
hợp thời, nếu Thế Tôn dạy về sáu gốc rễ của sự đấu
tranh cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn dạy
sẽ khéo léo thọ trì.”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
A-nan, hãy nghe kỹ; hãy suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt đầy
đủ.”
Tôn
giả A Nan bạch rằng:
“Kính
vâng, xin vâng lời lắng nghe.”
Đức
Phật dạy:
“Này
A-nan, ở đây có người bị kiết sử sân và não quấn chặt[13].
Này A-nan, người ấy bị kiết sử sân và não quấn chặt
cho nên không cung kính Tôn sư, không thấy pháp, không giữ
giới. Người ấy đã không cung kính Tôn sư, không thấy pháp,
không giữ giới, ở trong chúng nó gây ra sự đấu tranh như
vậy. Sự đấu tranh ấy không giúp gì cho ai mà chỉ gây khổ
cho mọi người, không phải sự thiện lợi và hữu ích, không
phải là sự an ổn khoái lạc, cho đến trời người phải
chịu đau khổ và tai hoạn. Này A-nan! Nếu ngươi thấy sự
đấu tranh như vậy, ở bên trong hay bên ngoài, mà không dứt
hết được, vậy, để đoạn trừ sự đấu tranh ấy, ngươi
phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh cần,
chánh niệm, chánh trí, kiên nhẫn, đừng để thối thất.
Này A-nan, ví như có người bị lửa đốt cháy đầu, đốt
cháy áo, thì phải cấp tốc tìm phương tiện để chữa cháy
đầu, chữa cháy áo. Cũng vậy, nếu ngươi thấy sự đấu
tranh như vậy, ở bên trong hay bên ngoài, mà không dứt hết
được, vậy để đoạn trừ sự đấu tranh ấy, ngươi phải
nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh cần, chánh
niệm chánh trí, kiên nhẫn đừng để thối thất.
“Này
A-nan, sự đấu tranh như vậy, bên trong hay bên ngoài, mà ngươi
thấy đã được chấm dứt, ngươi phải thủ hộ cái tâm
đó hơn nữa, luôn luôn không buông lung, vì để ngăn chặn
sự đấu tranh ấy vậy. Như vậy, sự tranh chấp này được
ngươi đoạn trừ từ gốc rễ. Này A-nan, ví như có người
bị lửa đốt cháy đầu, đốt cháy áo, thì phải cấp tốc
tìm phương tiện để chữa cháy đầu, chữa cháy áo. Cũng
vậy, sự đấu tranh như vậy, bên trong hay bên ngoài, mà ngươi
thấy đã được chấm dứt, ngươi phải thủ hộ cái tâm
đó hơn nữa, luôn luôn không buông lung, vì để ngăn chặn
sự đấu tranh ấy vậy. Như vậy, sự tranh chấp này được
ngươi đoạn trừ từ gốc rễ.
“Cũng
giống như vậy với các kiết sử phú tàng[14], bỏn sẻn,
tật đố, dua nịnh, dối trá, vô tàm, vô quý, ác dục, tà
kiến, và ác tánh không biết phục thiện[15].
“Này
A-nan, nếu một người nào có ác dục, tà kiến, ác tánh không
biết phục thiện thì không cung kính Tôn sư, không thấy pháp,
không giữ giới. Người ấy đã không cung kính Tôn sư, không
thấy pháp, không giữ giới, ở trong chúng nó gây ra sự đấu
tranh như vậy. Sự đấu tranh ấy không giúp gì cho ai mà chỉ
gây khổ cho mọi người, không phải sự thiện lợi và hữu
ích, không phải là sự an ổn khoái lạc, cho đến trời người
phải chịu đau khổ và tai hoạn. Này A-nan! Nếu ngươi thấy
sự đấu tranh như vậy, ở bên trong hay bên ngoài, mà không
dứt hết được, vậy, để đoạn trừ sự đấu tranh ấy,
ngươi phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh
cần, chánh niệm, chánh trí, kiên nhẫn, đừng để thối thất.
Này A-nan, ví như có người bị lửa đốt cháy đầu, đốt
cháy áo, thì phải cấp tốc tìm phương tiện để chữa cháy
đầu, chữa cháy áo. Cũng vậy, nếu ngươi thấy sự đấu
tranh như vậy, ở bên trong hay bên ngoài, mà không dứt hết
được, vậy để đoạn trừ sự đấu tranh ấy, ngươi phải
nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh cần, chánh
niệm chánh trí, kiên nhẫn đừng để thối thất.
“Này
A-nan, sự đấu tranh như vậy, bên trong hay bên ngoài, mà ngươi
thấy đã được chấm dứt, ngươi phải thủ hộ cái tâm
đó hơn nữa, luôn luôn không buông lung, vì để ngăn chặn
sự đấu tranh ấy vậy. Như vậy, sự tranh chấp này được
ngươi đoạn trừ từ gốc rễ. Này A-nan, ví như có người
bị lửa đốt cháy đầu, đốt cháy áo, thì phải cấp tốc
tìm phương tiện để chữa cháy đầu, chữa cháy áo. Cũng
vậy, nếu ngươi thấy sự đấu tranh như vậy, ở bên trong
hay bên ngoài, mà ngươi thấy đã được chấm dứt, ngươi
phải thủ hộ cái tâm đó hơn nữa, luôn luôn không buông
lung, vì để ngăn chặn sự đấu tranh ấy vậy. Như vậy,
sự tranh chấp này được ngươi đoạn trừ từ gốc rễ.
“Lại
nữa, này A-nan, có bảy phương pháp đình chỉ đấu tranh[16].
Bảy phương pháp đó là: một là ưng dữ diện tiền chỉ
tránh luật, hai là ưng dữ ức chỉ tránh luật, ba là ưng
dữ bất si chỉ tránh luật, bốn là ưng dữ phát lồ chỉ
tránh luật, năm là ưng dữ quân chỉ tránh luật, sáu là ưng
dữ triển chuyển chỉ tránh luật, bảy là ưng dữ như khí
phấn tảo chỉ tránh luật[17].
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ diện tiền chỉ tránh luật[18]?
Làm thế nào để đoạn trừ sự đấu tranh này? Tức là điều
luật đình chỉ đấu tranh bằng sự hiện diện. Này A-nan,
hoặc một người đối với một người, mà khuyến giáo,
khiển trách, thủ hộ bằng pháp luật như Tôn sư đã chỉ
giáo, với sự hiện diện khiến được hoan hỷ. Một người
đối với hai người, một người đối với nhiều người,
một người đối với chúng Tăng mà khuyến giáo, khiển trách,
được thủ hộ bằng pháp luật như Tôn sư đã chỉ giáo,
với sự hiện diện khiến được hoan hỷ. Hai người đối
với hai người mà khuyến giáo, khiển trách, thủ hộ bằng
pháp luật như Tôn sư đã chỉ giáo, với sự hiện diện khiến
được hoan hỷ. Hai người đối với nhiều người, hai người
đối với chúng Tăng, hai người đối với một người mà
khuyến giáo, khiển trách, thủ hộ bằng pháp luật như Tôn
sư đã chỉ giáo, với sự hiện diện khiến được hoan hỷ.
Nhiều người đối với nhiều người mà khuyến giáo, khiển
trách, thủ hộ bằng pháp luật như Tôn sư đã chỉ giáo,
với sự hiện diện khiến được hoan hỷ. Nhiều người đối
với chúng Tăng, nhiều người đối với một người, nhiều
người đối với hai người mà khuyến giáo, khiển trách,
được thủ hộ bằng pháp luật như Tôn sư đã chỉ giáo
với sự hiện diện khiến được hoan hỷ. Chúng Tăng đối
với một người, chúng Tăng đối với hai người, chúng Tăng
đối với nhiều người mà khuyến giáo, khiển trách, được
thủ hộ bằng pháp luật như Tôn sư đã chỉ giáo, với sự
hiện diện khiến được hoan hỷ. Này A-nan, như vậy gọi
là ưng dữ hiện tiền chỉ tránh luật. Sự đấu tranh ấy
được đoạn trừ như vậy, tức do luật chấm dứt đấu
tranh bằng sự hiện diện.
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ ức chỉ tránh luật[19]? làm thế
nào để đoạn trừ sự tranh đấu này? Tức là do đình chỉ
đấu tranh bằng nhớ lại. Này A-nan, nếu có một người nào
phạm giới mà không nhớ lại giới mình đã phạm. Các Tỳ-kheo
thấy vậy, nói với vị ấy rằng, ‘Thầy đã phạm giới
mà không nhớ lại giới mình đã phạm. Thầy hãy đến trong
chúng mà xin luật ức niệm. Tăng chúng sẽ ban cho Hiền giả
luật ức niệm.’ Này A-nan, nếu ở một nơi nào có Tăng
chúng hòa hợp mà nhóm họp vị Tỳ-kheo kia phải đến đó,
trịch vai áo, bỏ guốc, vào trong chúng, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân các bậc Trưởng lão thượng tôn Tỳ-kheo, chắp
tay quỳ mọp mà bạch với các trưởng lão thượng tôn rằng,
‘Bạch chư Tôn, mong các ngài nghe cho, con đã từng phạm giới
mà không nhớ, nay con từ nơi chúng Tăng cầu xin luật ức
niệm. Mong Tăng chúng hòa hợp ban cho con luật ức niệm.’
Này A-nan, Tăng chúng hòa hợp lại để ban cho vị Tỳ-kheo
này luật ức niệm, bằng Pháp và Luật như Tôn sư đã chỉ
dạy, với sự hiện diện khiến cho được hoan hỷ. Này A-nan,
như vậy gọi là ưng dữ ức chỉ tránh luật. Sự đấu tranh
ấy phải được đoạn trừ như vậy, tức do luật chấm dứt
đấu tranh bằng cách nhớ lại.
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ bất si chỉ tránh luật[20]? Làm
thế nào để đoạn trừ sự đấu tranh ấy? Tức là luật
đình chỉ đấu tranh bằng sự không si cuồng. Này A-nan, nếu
có một người do phát cuồng mà tâm điên đảo, nên làm nhiều
điều không thanh tịnh, không phải là pháp của Sa-môn, không
tùy thuận theo pháp hành mà nói vi phạm. Người ấy sau khi
trở lại tâm trạng như trước, gặp các Tỳ-kheo và được
bảo rằng: ‘Thầy đã phát cuồng và tâm điên đảo, do phát
cuồng và tâm điên đảo, nên làm nhiều điều không thanh
tịnh, không phải là pháp của Sa-môn, không tùy thuận theo
pháp hành mà nói vi phạm. Này Hiền giả, nếu Hiền giả sau
khi trở lại tâm trạng như trước, Hiền giả có thể đến
nơi chúng Tăng mà cầu xin luật bất si. Chúng Tăng sẽ ban
cho Hiền giả luật bất si.’ Này A Nan, nếu một nơi nào
đó Tăng chúng đang hòa hợp và nhóm hội, vị Tỳ-kheo ấy
nên đến đó, trịch vai áo, bỏ guốc, vào trong Tăng chúng,
cúi đầu lễ sát dưới chân các bậc Trưởng lão thượng
tôn Tỳ-kheo chắp tay quì mọp, mà bạch với các Trưởng lão
thượng tôn Tỳ-kheo rằng, ‘Bạch chư Tôn, xin nghe cho, con
đã từng phát cuồng và tâm điên đảo. Do con đã phát cuồng
và tâm điên đảo nên làm nhiều điều không thanh tịnh, không
phải là pháp của Sa-môn, không tùy thuận theo pháp hành mà
nói vi phạm. Về sau con trở lại tâm trạng như trước. Nay
con từ nơi chúng Tăng xin cầu luật bất si. Mong chúng Tăng
hòa hợp ban cho con luật bất si.’ Này A-nan, chúng Tăng cùng
hòa hợp và nhóm hội, ban cho vị Tỳ-kheo ấy luật bất si,
bằng Pháp và Luật như Tôn sư đã chỉ giáo, với sự hiện
diện, khiến được hoan hỷ. Này A-nan, đó gọi là ưng dữ
bất si chỉ tránh luật. Sự đấu tranh ấy được đoạn trừ
như vậy, tức do luật chấm dứt đấu tranh bằng sự không
si cuồng.
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ tự phát lồ chỉ tranh luật[21]?
Sự đấu tranh làm thế nào để chấm dứt? Tức do luật chấm
dứt đấu tranh bằng sự tự thú nhận. Này A-nan, nếu có
một người phạm giới, hoặc nói ra hay không nói ra, hoặc
có nhớ hay không nhớ. Này A-nan, nếu tại nơi nào đó có
chúng Tăng đang hòa hợp và nhóm hội. Vị Tỳ-kheo kia nên
đến đó, trịch vai áo, bỏ guốc, vào trong chúng, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân các bậc Trưởng lão thượng tôn Tỳ-kheo,
chắp tay quì mọp mà bạch rằng, “Bạch chư Tôn, xin nghe
cho, con phạm giới đó, con nay hướng về các bậc Trưởng
lão thượng tôn Tỳ-kheo, chí tâm phát lồ, tự mình nói và
trưng bày rõ, không dám che giấu, từ nay về sau sẽ khéo léo
hộ trì không tái phạm. Này A-nan, chúng Tỳ-kheo nên hỏi vị
ấy rằng, ‘Này Hiền giả, có tự thấy điều mình phạm
không?’ Vị Tỳ-kheo ấy đáp, ‘Con thật sự có thấy điều
con phạm.’ Đại chúng cũng nên nói với vị ấy rằng, ‘Hiền
giả nên cẩn thận giữ gìn đừng tái phạm.’ Này A-nan!
Đó là ưng dữ tự phát lồ chỉ tránh luật. Sự đấu tranh
ấy phải được đoạn trừ như vậy. Tức do luật chấm dứt
đấu tranh bằng sự từ thú nhận.
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ quân chỉ tranh luật[22]? Làm sao
để đoạn trừ sự đấu tranh ấy? Tức do luật chấm dứt
đấu tranh bằng chín đương nhân. Này A-nan! Nếu có người
không biết xấu hổ, không hối hận những tội bị thấy,
bị nghe và bị người khác nghi ngờ là ác dục. Người ấy
đã phạm giới rồi nói là mình biết ở một nơi, mình thấy
ở một nơi. Sau khi nói mình biết ở một nơi này, lại nói
mình thấy ở một nơi. Sau khi nói mình thấy ở một nơi,
lại nói mình biết ở một nơi. Ở trong Tăng chúng mà nói
là mình biết ở một nơi, ở trong Tăng chúng mà nói là mình
thấy ở một nơi. Nói mình biết ở một nơi, rồi lại nói
mình thấy ở một nơi. Nói mình thấy ở một nơi rồi lại
nói mình biết ở một nơi. Này A-nan! Vì vị Tỳ-kheo ấy,
Tăng chúng hòa hợp và nhóm họp mà ban quân luật, nói rằng:
‘Nhà ngươi không đạo lý, nhà ngươi ác bất thiện. Vì
sao? Vì ngươi đã phạm giới rồi lại nói mình biết ở một
nơi, mình thấy ở một nơi. Nói mình biết ở một nơi, rồi
lại nói mình thấy ở một nơi. Nói mình thấy ở một nơi,
rồi lại nói mình biết ở một nơi. Ở trong chúng mà nói
mình biết ở một nơi. Ở trong chúng mà nói mình thấy ở
một nơi. Nói mình biết ở một nơi rồi lại nói mình thấy
ở một nơi. Nói mình thấy ở một nơi rồi lại nói mình
biết ở một nơi.’ Này A-nan, như vậy gọi là ưng dữ quân
chỉ tránh luật. Sự đấu tranh ấy phải được đoạn trừ
bằng sự như vậy. Tức do luật chấm dứt đấu tranh bằng
chính đương nhân.
“Này
A-nan, thế nào là ưng dữ triển chuyển chỉ tránh luật? Làm
thế nào để đoạn trừ sự đấu tranh ấy? Tức là do luật
chấm dứt đấu tranh bằng sự diễn tiến. Này A-nan, ở đây,
giữa hai vị Tỳ-kheo vì một số ý kiến mà gây ra sự đấu
tranh như vầy, ‘Đây là pháp, đây là phi pháp; đây là luật,
đây là phi luật; đây là phạm, đây là phi phạm; đây là
nhẹ, đây là nặng; khả thuyết, không khả thuyết[23]; có
thể thủ hộ, không thể thủ hộ; dư tàn, không dư tàn; có
thể sám hối, không thể sám hối[24]. Này A-nan, Tỳ-kheo kia
ngay tại chỗ đang cãi vã ấy mà chấm dứt đấu tranh. Nếu
ngay tại chỗ cãi vã mà chấm dứt đấu tranh, thì sự đấu
tranh này được tuyên bố là chấm dứt. Nếu ngay tại chỗ
cãi vã mà không chấm dứt, có thể đưa sự đấu tranh ra
bạch với chúng Tăng. Nếu ở trong chúng Tăng mà chấm dứt,
thì sự đấu tranh ấy được tuyên bố là chấm dứt. Nếu
trong chúng Tăng không chấm dứt, thì này A-nan, gần đó có
Tỳ-kheo giỏi kinh, giỏi luật, giỏi luận[25], các Tỳ-kheo
kia cùng đến vị này thưa việc đấu tranh ấy. Nếu ngay trên
đường đi mà chấm dứt, thì sự đấu tranh được tuyên
bố là chấm dứt. Nếu ngay trên đường đi mà không chấm
dứt, lại hãy đem sự đấu tranh ấy nói trước chúng Tăng.
Nếu ở trước chúng Tăng mà chấm dứt, sự đấu tranh ấy
được tuyên bố là chấm dứt. Nếu ở tại chúng Tăng mà
không chấm dứt, thì này A-nan, nếu nhiều trợ bạn giỏi
kinh, giỏi luật, giỏi luận, thì các vị này phải chấm dứt
sự đấu tranh ấy bằng Pháp và Luật như Tôn sư đã chỉ
giáo, với sự hiện diện khiến được hoan hỷ. Này A-nan,
như vậy gọi là ưng dữ triển chuyển chỉ tránh luật. Sự
đấu tranh ấy phải được đoạn trừ như vậy, tức là do
luật chấm dứt đấu tranh bằng sự triển chuyển.
“Này
A-nan, thế nào gọi là ưng dữ như khí phấn tảo chỉ tránh
luật?[26] Làm sao để đoạn trừ sự đấu tranh ấy? Tức
là luật chấm dứt đấu tranh như quăng bỏ giẻ rách. Này
A-nan, nếu các vị Tỳ-kheo ở chung một chỗ tranh chấp, kiện
tụng nhau, thù nghịch nhau, oán ghét nhau, này A-nan, do đó các
Tỳ-kheo kia chia ra hai nhóm. Sau khi chia ra hai nhóm rồi, trong
một nhóm có bậc Trưởng lão thượng tôn Tỳ-kheo, hay dưới
trưởng lão một bậc; hoặc có người làm tông chủ hay nhỏ
hơn tông chủ một bậc. Này A-nan, vị Tỳ-kheo này nói với
các vị Tỳ-kheo kia rằng, ‘Này chư Hiền, xin nghe cho, chúng
ta không có đạo lý, chúng ta là người ác bất thiện. Vì
sao vậy? Vì chúng ta đối với Pháp và Luật được khéo giảng
dạy mà chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để
học đạo, nhưng chúng ta tranh chấp kiện tụng nhau, thù nghịch
nhau, oán ghét nhau, cãi vã nhau. Này chư Hiền, do sự tranh chấp
này mà chúng ta đã phạm giới, ngoại trừ tội Thâu-lan-giá[27]
và ngoại trừ tội tương ưng với hàng tại gia. Tôi vì chính
mình và cũng vì chư Hiền nữa, nên hướng đến chư Hiền
phát lồ, tự nói mà trình bày rõ ràng, không dám che giấu,
lại cẩn thận giữ gìn sau không tái phạm nữa.’ Này A-nan,
nếu ở trong nhóm này mà không có vị Tỳ-kheo nào ứng theo,
thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy nên đi đến nhóm thứ hai. Đến
nơi rồi, cúi đầu đảnh lễ các bậc Thượng tôn trưởng
lão Tỳ-kheo chắp tay quì mọp mà thưa rằng, ‘Thưa chư Tôn,
xin nghe cho, chúng ta không có đạo lý, chúng ta là người ác
bất thiện. Vì sao vậy? Vì chúng ta đối với Pháp và Luật
được khéo giảng dạy mà chí tín, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình để học đạo, nhưng chúng ta tranh chấp, kiện
tụng nhau, thù nghịch nhau, oán ghét nhau, cãi vã nhau. Này chư
Hiền, do sự tranh đấu này mà chúng ta đã phạm giới, ngoại
trừ tội Thâu-lan-giá, và ngoại trừ tội tương đương với
hàng tại gia. Tôi vì chính mình và cũng vì chính chư Hiền
nữa, nên hướng đến chư Hiền chí tâm phát lồ, tự nói
mà trình bày rõ ràng, không dám che giấu, lại cẩn thận giữ
gìn sau không tái phạm nữa.’ Này A-nan, các Tỳ-kheo kia nên
nói với vị Tỳ-kheo này như vầy, ‘Này Hiền giả, thầy
tự thấy mình phạm giới chăng?’ Vị Tỳ-kheo này đáp, ‘Quả
thật tôi tự thấy mình đã phạm giới.’ Tỳ-kheo kia nên
nói, ‘Vậy hãy cẩn thận giữ gìn, đừng để tái phạm.’
Nhóm thứ hai cũng làm như vậy. Này A-nan, như vậy gọi là
ưng dữ như khí phấn tảo chỉ tránh luật. Này A-nan! Sự
đấu tranh ấy phải được đoạn trừ như vậy. Tức do luật
chấm dứt đấu tranh như quăng bỏ giẻ rách.
“Này
A-nan! Nay ta nói cho ngươi sáu pháp ủy lao[28], hãy lắng nghe
kỹ, hãy khéo suy nghĩ kỹ.”
Tôn
giả A Nan bạch rằng:
“Kính
vâng, con xin vâng lời lắng nghe.”
Phật
nói:
“Thế
nào là sáu? Thân nghiệp từ hòa hướng đến các vị đồng
phạm hạnh, pháp ấy gọi là pháp ủy lao. Đó là pháp khả
ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng,
khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập,
khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm,
được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Khẩu
nghiệp nói năng từ hòa, ý nghiệp từ hòa, cũng vậy.
“Có
lợi lộc nào đúng pháp mà được, cho đến miếng cơm ở
chính trong bình bát của mình, với phần lợi như vậy, mang
chia xẻ cho các vị đồng phạm hạnh, pháp đó gọi là pháp
ủy lao, là pháp khả ái, pháp khả lạc, khiến cho ái niệm,
khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính,
khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác
thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Nếu
có giới nào không bị sứt mẻ, không bị hư thủng, không
bị dơ, không bị đen, vững vàng như mặt đất, được Thánh
khen ngợi, đầy đủ khéo thọ trì. Với giới phần như vậy,
cùng chia xẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp
ủy lao, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm,
khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính,
khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác
thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Nếu
có kiến giải của Thánh có sự xuất yếu, được thông suốt
bằng tuệ kiến, đưa đến sự chân chánh diệt khổ, với
kiến phần như vậy, cùng chia xẻ với các vị đồng phạm
hạnh, pháp đó là pháp ủy lao là pháp khả ái, là pháp khả
lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng
sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn
kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh
cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Này
A-nan, Ta vừa nói sáu pháp ủy lao, vì vậy mà ta giảng giải.
Này A-nan, nếu các ngươi đối với sáu gốc rễ của đấu
tranh mà đoạn tuyệt hoàn toàn, và với bảy pháp đình chỉ
đấu tranh, khi trong Tăng chúng khởi lên đấu tranh, thì chấm
dứt bằng luật đình chỉ đấu tranh như quăng bỏ giẻ rách,
rồi lại thực hành sáu pháp ủy lao ấy, thì này A-nan, như
vậy sau khi Ta khuất bóng, các con sống cộng đồng hòa hợp
hoan hỷ không tranh chấp, cùng đồng nhất trong một tâm, cùng
đồng nhất trong một giáo pháp, hòa hợp như nước với sữa,
khoái lạc du hành như lúc Ta còn tại thế.”
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và chư Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
[1].
Tương đương Pāli: M.103. Sāmagāmasuttaṃ. Hán, biệt dịch
No.85 Phật Thuyết Tức Tranh Nhân Duyên Kinh, Tống Thi Hộ dịch.
[2].
Bạt-kì 跋 耆, Xá-di 舍 彌. No.85: Xa-ma-ca tử tụ lạc. Pāli:
Sakkesu viharti (...) Sāmagāme, là một ngôi làng của giòng họ
Sakya.
[3].
Sa-di Châu-na 沙 彌 周 那. Pāli: Cunda samaṇuddesa. Được đồng
với Mahā-Cunda em ruột ngài Sāriputta và đắc quả A-na-hàm
trong lúc là Sa-di.
[4].
Ba-hòa 波 和. Pāli: Pāvā, một thị trấn của bộ tộc Malla.
Đoạn đường cuối cùng của Phật, đi từ Pāvā ñeán Kusinārā
và ngài dừng chân để nghỉ 25 lần trên đoạn đường ấy.
[5].
Ni-kiền danh Thân Tử 尼 犍 名 親 子. Pāli: Nigaṇṭha Nāṭaputta.
[6].
Ngài A-nan là Bổn sư của Châu-na.
[7].
Ni-kiền danh Thân Tử 尼 犍 名 親 子. Pāli: Nigaṇṭha Nāṭaputta.
[8].
Bản Pāli: do ajihājīva (tăng thượng hoạt mạng) và do adhipātimokkha
(tăng thượng giới bổn), tranh chấp các vấn đề liên hệ
sinh hoạt và giới bổn, cả hai đều chỉ liên hệ đến giới
luật. Bản Hán nói do cả giới, định, và tuệ.
[9].
Đạo và đạo tích. Pāli: magge vā hi patipadāya, tranh chấp
trong các vấn đề liên hệ Thánh đạo và sự tu tập Thánh
đạo.
[10].
Có 18 tránh sự, theo các Luật tạng. Trong đây chỉ nêu 16.
Hai điều thuyết và phi thuyết đề cập riêng.
[11].
Trong bản Hán: tát-vân-nhã 薩 云 若; Pāli: sabbaññu.
[12].
Khả văn nhi chỉ. Không rõ ý. Có lẽ, cần biết để dập
tắt tranh chấp.
[13].
Sân não kết triền 瞋 惱 結 纏, tức phẫn và hận. Pāli:
kodhano upanāhi, phẫn nộ và oán hận.
[14].
Trong nguyên bản, bất ngữ kết 不 語 結. Xem cht.6, kinh 183.
[15].
Ác tánh bất khả chế 惡 性 不 可 制, hoặc nói là ác tánh
bất thọ nhân ngữ 惡 性 不 受 人 語. Tánh ương ngạnh không
chịu nghe lời. Đoạn này tóm tắt, liệt kê các cặp kiết
sử làm nguyên nhân cho đấu tranh, có thể xếp loại theo thuật
ngữ thông dụng: Phẩn, hận; phú, não; tật, xan; cuồng, siểm;
vô tàm, vô quý; ác dục, tà kiến. Xem thêm, đối chiếu kinh
98 trên. Xem giải thích Tập Dị 15 (No.1536, Đại tr.431a-b).
[16].
Chỉ tránh 止 諍 hay nói là diệt tránh pháp 滅 諍 法; Pāli:
adhikaraṇa-samathā.
[17].
Thuật ngữ theo Luật Tứ Phần: 1. Hiện tiền tì-ni (Pāli:
sammukhāvinaya), 2. Ức niệm tì-ni (sativinaya), 3. Bất si tì-ni
(amūḷhavinaya), 4. Tự ngôn trị (paṭiññayā kāretabbaṃ),
5. Đa nhân ngữ (yebhuyyasikā), 6. Tội xứ sở (tassapāyikā),
7. Như thảo phú địa (tiṇavatthāraka)ø.
[18].
Ưng dữ diện tiền chỉ tránh luật 應 與 面 前 止 諍 律.
Xem cht.17 trên.
[19].
Ưng dữ ức chỉ tránh luật 應 與 憶 止 諍 律. Xem cht.17
trên.
[20].
Ưng dữ bất si chỉ tránh luật 應 與 不 癡 止 諍 律. Xem
cht.17 trên.
[21].
Ưng dữ phát lồ chỉ tránh luật應 與 發 露 止 諍 律. Xem
cht.17 trên.
[22].
Ưng dữ quân chỉ tránh luật 應 與 君 止 諍 律. Xem cht.17
trên. Quân luật 君 律. Luật áp dụng cho chính ngài”. Vì
vị này khi bị hỏi tội, cứ nói loanh quanh, nên Tăng chúng
phải chỉ định ngay tội danh: “Chính ngài đã phạm tội”.
[23].
Đoạn trên, bản Hán thiếu hai sự này.
[24].
Đoạn trên nói là khởi và không khởi. Khởi, hay cử tội,
nêu tội Tỳ-kheo; tức khởi tố.
[25].
Nguyên bản: trì mẫu 持 母; hay giỏi Ma-đắc-lặc-già (Pāli:
Mātikā), chỉ Luận tạng.
[26].
Ưng dữ như khí phấn tảo chỉ tránh luật 應 與 如 棄 糞
掃 止 諍 律. Xem cht.17 trên.
[27].
Trong bản, Thâu-la-chá 偷 羅 柘, thường nói là thâu-lan-giá.
Cố ý phạm các tọâi Ba-la-di và Tăng-già-bà-thi-sa mà chưa
thành tựu thì gọi là Thâu-lan-giá, thô tội. Pāli: thullavajja.
[28].
Ủy lao pháp 慰 勞 法, thường được biết là sáu pháp hòa
kỉnh hay lục hòa. Tập Dị 15 (No Đại 26.1536, tr.431b), gọi
là sáu pháp khả hỷ. Pāli: cha sārāṇiyā dhammā.