193.
KINH MÂU-LÊ-PHÁ-QUẦN-NA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na [2]
thường tu tập với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước
mặt Mâu-lê-phá-quần-na mà nói xấu , [3]
các Tỳ-kheo-ni, thầy liền sân hận, hằn học cho đến cãi
vã. Hoặc có vị nào trước mặt Tỳ-kheo-ni nói xấu Tỳ-kheo
Mâu-lê-phá-quần-na các Tỳ-kheo-ni nghe vậy liền sân hận
hằn học cho đến cãi vã. Một số đông các Tỳ-kheo nghe
như vậy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, ngồi
qua một bên thưa rằng:
"Bạch
Đức Thế Tôn, Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tụ tập
với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước mặt Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na
nói xấu các Tỳ-kheo-ni, thầy ấy nghe vậy liền sân hận,
hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt các
Tỳ-kheo nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na, các Tỳ-kheo-ni
nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã."
Đức
Thế Tôn nghe rồi liền bảo một Tỳ-kheo: “Hãy đến chỗ
Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na mà nói rằng: ‘Đức Thế Tôn
gọi thầy’."
Một
Tỳ-kheo nghe Phật dạy như vậy bèn thưa: "Kính vâng, bạch
Thế Tôn", rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
quanh ba vòng rồi ra đi.
Vị
Tỳ-kheo đó đến chỗ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nói rằng:
“Đức Thế Tôn gọi thầy.”
Tỳ-kheo
Mâu-lê-phá-quần-na nghe vậy liền đến chỗ Phật đảnh lễ
dưới chân ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn nói:
"Phá-quần-na,
có thật ngươi thường tụ hội cùng các Tỳ-kheo-ni? Và có
vị nào trước mặt ngươi nói xấu các Tỳ-kheo-ni, ngươi
nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có
vị nào trước mặt các Tỳ-kheo-ni nói xấu ngươi, các Tỳ-kheo-ni
ấy liền sân hận hằn học, cho đến cãi vã? Phá-quần-na,
có thật vậy không?"
Phá-quần-na
thưa rằng:
"Bạch
Thế Tôn! Điều đó có thật.”
Thế
Tôn liền hỏi:
"Phá-quần-na,
ngươi há không phải là chí tín, lìa bỏ gia đình sống không
gia đình mà học đạo?"
Phá-quần-na
đáp:
"Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật hỏi:
"Phá-quần-na,
như vậy, ngươi chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình mà học đạo, phải học như thế này, nếu có dục,
có niệm nào y cứ trên thế tục [4]
, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào y trên vô dục,
hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn. Phá-quần-na, ngươi
nên học như vậy."
Rồi
Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
"Các
ông có phải chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình
mà học đạo chăng?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
"Thưa
phải, bạch Thế Tôn."
Thế
Tôn lại bảo:
"Các
ông chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, mà học
đạo, hãy học như thế này, nếu có dục, có niệm nào y
trên thế tục, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào
y trên vô dục, hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn.
Các ngươi hãy học như vậy.
"Một
thời, Ta đã từng nói với các Tỳ-kheo rằng, ‘Này các Tỳ-kheo,
hoặc có Tỳ-kheo được nhiều người biết đến [5],
hoặc có Tỳ-kheo ít được biết đến, tất cả các vị ấy
hãy học Nhất tọa thực.[6]
. Học Nhất tọa thực rồi, vô vi, vô cầu, không bệnh tật,
thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn sảng khoái.’
Các Tỳ-kheo ấy, hoặc được biết đến nhiều, hoặc ít
được biết đến, tất cả đều học theo điều Nhất tọa
thực. Sau khi học theo điều Nhất tọa thực, vô vi, vô cầu,
không tật bệnh, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an
ổn, sảng khoái. Những Tỳ-kheo ấy hài lòng Ta. và Ta cũng
không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các Tỳ-kheo nhân
đó mà sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành [7]
"Cũng
như người điều khiển chiếc xe ngựa, tay trái cầm cương,
tay phải cầm roi, nó theo tám con đường mà di, muốn đến
nơi nào cũng được. Các Tỳ-kheo như vậy rất hài lòng Ta,
và Ta cũng không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các
Tỳ-kheo nhân đó sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành.
"Cũng
như khoảng đất tốt có rừng cây sa-la. Người dọn rừng
kia thông minh sáng suốt, không biếng nhác, tùy lúc mà dọn
sửa gốc rễ cây sa-la, thường cào bừa những rác rưới
và luôn luôn tưới nước, san bằng chỗ cao, lấp bằng chỗ
thấp, hai bên nếu cỏ dại mọc đầy thì nhổ bỏ đi, nếu
cây nào cong queo, xấu xí, không ngay thẳng, thì nhổ gốc bỏ
ra ngoài, nếu có nhánh nào đâm ngang và cong, thì chắt xuống
hoặc uốn lại, nếu gần biên vừa mới mọc thêm cây nào
đều đặn ngay thẳng, thì tùy lúc mà sửa soạn, thường
cào bừa đi những rác rưới và thường tưới nước. Như
vậy, trên khu đất tốt kia rừng cây sa-la càng ngày càng sầm
uất. Cũng vậy các Tỳ-kheo làm hài lòng Ta và Ta cũng khỏi
phải khuyến giáo, khiển trách nhiều.
"Ta
không nói các Tỳ-kheo là thiện ngữ, cung thuận do các nhu
dụng sinh sống, y bát, ẩm thực, giường chõng. Vì sao vậy?
Tỳ-kheo ấy nếu không nhận được các thứ ấy thì trả
lại bằng sự không thiện ngữ cung thuận, thành tựu đức
tánh không thiện ngữ cung thuận.
"Nếu
có Tỳ-kheo vì viễn ly, y trên viễn ly, sống nơi viễn ly,
mà thiện ngữ cung thuận, thành tựu đức tánh thiện ngữ
cung thuận, Ta nói ấy thật sự là thiện ngữ cung thuận.
Vì sao vậy? Ở đây, một Tỳ-kheo khéo thủ hộ, khéo an trú [8]
chỉ vì người khác không nói cộc cằn. Nếu người khác
ăn nói cộc cằn thì không phẫn nộ, cũng không thù nghịch,
cũng không ưu sầu, oán hận, không hằn học giận dữ, không
lộ vẻ hung bạo. Các Tỳ-kheo kia sau khi thấy vậy bèn nghĩ
rằng ‘Hiền giả thật là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi
chịu đựng, giỏi tự chủ, khéo định, khéo trầm tĩnh. Nếu
người khác ăn nói cộc cằn thì liền hằn học, thù nghịch,
ưu phiền, ôm hận, lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy
vậy bèn nói ‘Hiền giả này ngoan cố, nóng nảy, thô lỗ,
không định, không tự chủ, không trầm tĩnh.’ Vì sao vậy?
"Này
các Tỳ-kheo, có một nữ cư sĩ tên là Bệ-đà-đề,[9],
rất giàu sang sung sướng, có nhiều tiền tài, sản nghiệp
súc mục không thể kể xiết, phong hộ thực ấp, lúa gạo
đầy đủ, và biết bao nhu dụng sinh sống khác. Bấy giờ
nữ cư sĩ Bệ-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng
tốt như vầy ‘Nữ cư sĩ Bệ-đà-đề là người nhẫn nhục,
nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm
tịnh.’
"Bấy
giờ nữ cư sĩ ấy có một nữ tỳ tên là Hắc [10]
hầu hạ. Nữ tỳ ăn nói dịu dàng, ít nhiều hành thiện.
Hắc nữ tỳ ấy bèn nghĩ rằng ‘Chủ nhân ta, nữ cư sĩ
Bệ-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng tốt như
vầy ‘Nữ cư sĩ Bệ-đà-đề là người nhu thuận, nhẫn
nhục, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm
tịnh. Nay ta hãy thử xem chủ nhân nữ cư sĩ Bệ-đà-đề
thật sự có sân hay không sân.’
"Rồi
Hắc nô tỳ nằm ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc
tỳ, sao ngươi không dậy sớm?’ Hắc tỳ nghe vậy bèn nghĩ
rằng ‘Chủ nhân ta, nữ cư sĩ Bệ-đà-đề, sự thật có
sân chứ không phải không sân, nhưng vì ta giỏi lo liệu việc
nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, khiến cho chủ ta nữ cư
sĩ Bệ-đà-đề được vang danh với tiếng tốt như vầy ‘Nữ
cư sĩ Bệ-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa,
giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’ Nay ta
hãy thử thách hơn nữa xem chủ ta, nữ cư sĩ Bệ-đà-đề
thật sự có sân hay không sân.’
"Rồi
Hắc nữ tỳ ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc
tỳ, sao ngươi dậy quá trễ vậy?’
"Hắc
nữ tỳ nghe vậy bèn suy nghĩ, ‘Chủ ta, nữ cư sĩ Bệ-đà-đề
thật sự có sân chớ không phải không sân. Nhưng vì ta khéo
lo liệu việc nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, nên chủ ta
nữ cư sĩ Bệ-đà-đề mới có được vang danh với tiếng
tốt như vầy: ‘Nữ cư sĩ Bệ-đà-đề là người nhẫn nhục,
nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm
tịnh’. Nay ta lại thử thách thật lớn, xem chủ ta, nữ cư
sĩ Bệ-đà-đề thật sự có sân hay không sân.
“Rồi
Hắc nữ tỳ ngủ đến xế trưa mới dậy. Phu nhân gọi: ‘Hắc
tỳ, sao ngươi ngủ đến xế trưa mới dậy? Ngươi đã không
chịu làm việc, cũng không bảo người khác làm. Con Hắc tỳ
này không nghe ta dạy. Con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’ Bèn
thịnh nộ, hằn học, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn
nhó, tự mình đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay
cầm gậy đánh vào đầu nữ tỳ. Nó vỡ đầu chảy máu.
Với cái đầu, máu chảy, Hắc nữ tỳ chạy qua nói với hàng
xóm, lớn tiếng phân bua, nói xấu đủ điều rằng: “Này
các ngài, hãy xem việc làm của người nhẫn nhục, nhu thuận,
ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh là
như vậy chăng? Người ấy mắng chửi tôi: ‘Con Hắc tỳ
này không nghe lời ta dạy, con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’
Rồi thịnh nộ, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn nhó,
tự mình đi đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay cầm
gậy, đánh vào đầu tôi, vỡ đầu chảy máu.” Bấy giờ,
nữ cư sĩ Bệ-đà-đề được đồn xa với tiếng xấu như
vầy: ‘Nữ cư sĩ Bệ-đà-đề hung dữ, nóng nảy, thô lỗ,
không tự chế, không định tĩnh, không trầm tịnh.’
“Cũng
vậy, ở đây, một người khéo thủ hộ, khéo đi, khéo đến,
là do người khác không nói lời cộc cằn. Khi người khác
không nói lời cộc cằn, vị ấy không phẫn nộ, không hằn
học, không ưu phiền oán hận, không giận dữ thù nghịch,
không lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy vậy, bèn nghĩ:
‘Hiền giả này là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi chịu
đựng, khéo tự chế, khéo định tĩnh, khéo tịch tịnh.’
Nếu khi có người khác nói lời cộc cằn bèn phẫn nộ, hằn
học, ưu phiền oán hận, giận dữ, thù nghịch, lộ vẻ hung
dữ, các Tỳ-kheo khác thấy vậy bèn nghĩ rằng: ‘Hiền giả
này hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không định tĩnh, không tự
chế, không tịch tịnh."
Lại
nữa, có năm con đường của ngôn ngữ. [11],
hoặc nói đúng thời hay không đúng thời, hoặc nói chân thật
hay không chân thật hoặc nói dịu dàng hay cứng ngắt, hoặc
nói từ hòa hay sân nhuế, hoặc nói có nghĩa lợi hay không
nghĩa lợi.
Với
năm con đường ngôn ngữ này, các ngươi nếu khi người khác
nói mà với tâm bị biến đổi, có thể miệng phát ra lời
nói cộc cằn, Ta nói các ngươi do đó mà bị suy thoái.
Các
người hãy học, với năm con đường ngôn ngữ này, khi người
khác nói mà tâm không bị biến đổi, miệng không phát ra
lời nói cộc cằn, hãy hướng đến kẻ thù nghịch, hãy duyên
nơi kẻ thù nghịch mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với
từ biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy,
hai, ba, bốn phương tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả,
tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế,
không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và
hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế,
không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên khéo tu tập, biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học
như vậy.
Cũng
như một người cầm cái cuốc rất lớn đến và nói rằng:
"Tôi có thể làm cho cả mặt đất nay trở thành không phải
đất." Người ấy bèn đào chỗ này, chỗ kia, rồi nhổ nước
miếng, nước tiểu để làm dơ bẩn. Khi người nói lời thô
ác nói như vầy: “Mong cả mặt đất này không phải là đất."
Ý ngươi nghĩ sao? Người ấy do phương tiện ấy có thể làm
cho mặt đất trở thành không phải mặt đất được chăng?”
Các
Tỳ-kheo trả lời rằng:
"Không
thể được bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cõi đất này rất
sâu rất rộng, không thể lường được. Cho nên người kia
với phương tiện ấy không thể nào làm cho cõi đất này
trở thành không phải đất. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ
tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi."
"Cũng
vậy, với năm con đường ngôn ngữ này mà người khác nói,
đúng thời hay không đúng thời, chân thật hay không chân thật,
dịu dàng hay cứng ngắt, từ hòa hay sân nhuế, nói có nghĩa
lợi hay không có nghĩa lợi. Các ngươi đối với năm con đường
ngôn ngữ này, khi người khác nói mà tâm biến đổi, hay miệng
phát ra lời nói thô ác, Ta nói các ngươi do đó mà tất phải
suy thoái. Các ngươi hãy học, với năm con đường của ngôn
ngữ này. Khi người khác nói mà tâm không biến đổi, miệng
không phát ra lời nói thô ác, hướng đến người nói ấy,
duyên nơi người nói ấy mà khởi tâm từ mẫn, như mặt đất
tâm hành không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng
lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả
thế gian, thành tựu an trú. Các ngươi hãy học như vậy.
"Cũng
như một người cầm cây đuốc bằng cỏ rất lớn mà nói
như vầy: ‘Tôi với cây đuốc bằng cỏ này đun nóng sông
Hằng cho sôi sục lên’. Các ngươi nghĩ sao? Người ấy bằng
phương tiện ấy có thể làm cho sông Hằng nóng và sôi lên
chăng?"
Các
Tỳ-kheo trả lời rằng:
"Không
thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì sông Hằng kia
rất sâu, rất rộng không thể do lường được. Cho nên người
ấy với phương tiện ấy không thể làm cho sông Hằng nóng
và sôi sục lên được. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ tự
gây phiền nhọc vô ích mà thôi."
"Cũng
vậy, với năm con đường ngôn ngữ này, nếu người khác
nói đúng thời hay không đúng thời, nói chân thật hay không
chân thật, nói dịu dàng hay cứng ngắt, nói từ hòa hay sân
nhuế, nói có nghĩa lợi hay không nghĩa lợi; các ngươi đối
với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói,
hoặc tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời nói thô ác.
Ta nói các ngươi do đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học
năm con đường ngôn ngữ này, nếu khi người khác nói mà
tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng
đến người ấy, duyên nơi người ấy, khởi tâm từ mẫn,
tâm hành như sông Hằng, không kết, không oán, không nhuế,
không tranh, rộng lớn, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các người hãy
học như vậy.
"Cũng
như thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, tay cầm đủ các loại
màu và nói như thế này: ‘Ở nơi hư không này, tôi vẽ lên
các hình tượng, rồi y tô lên các loại màu’, các ngươi
nghĩ sao? Thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ ấy, bằng phương
tiện ấy, có thể vẽ lên hư không các hình tượng, rồi
tô lên các loại màu này chăng?"
Các
Tỳ-kheo đáp:
"Không
thể, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Hư không này không phải
là vật sắc, không thể thấy, không có đối ngại. Do đó,
thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, bằng phương tiện ấy
không thể vẽ lên hư không các hình tượng rồi tô lên các
loại màu. Thợ vẽ và đệ tử của thợ vẽ chỉ tự gây
phiền nhọc vô ích mà thôi."
"Cũng
vậy, bằng năm con đường ngôn ngữ này mà người khác nói,
hoặc đúng thời hay không đúng thời, hoặc chân thật hay
không chân thật, hoặc dịu dàng hay thô lỗ, hoặc từ hòa
hay sân nhuế, hoặc có nghĩa lợi hay không có nghĩa lợi, các
ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người
khác nói, tâm không biến đổi. Miệng không phát ra lời thô
ác, hướng đến người khác nói, duyên nơi người khác nói,
mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành hư không, không kết, không
oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên,
khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ.
Các ngươi hãy học như vậy.
"Cũng
như một cái túi bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất
mềm nhũn, hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp, và
có một người hoặc nắm hoặc đấm, hoặc lấy đá chọi,
hoặc dùng gậy đánh, hoặc lấy dao chém, hoặc đập xuống
đất, các ngươi nghĩ sao? Cái túi da mèo đã được thuộc
mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng xì xộp, không còn tiếng
xì xộp, bấy giờ lại phát ra tiếng kêu xì xộp nữa chăng?"
Các
Tỳ-kheo đáp:
"Không
thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cái túi ấy bằng
da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng
xì xộp, không còn tiếng xì xộp nữa, cho nên nó không còn
phát ra tiếng xì xộp nữa."
"Cũng
vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người khác, nắm tay đấm
các ngươi, hoặc vác đá chọi, hoặc xách gậy đánh, hoặc
lấy dao chém các ngươi, nếu khi bị người khác nắm tay đấm,
vác đá chọi, dùng gậy đánh, lấy dao chém, mà tâm biến
đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các ngươi nhân
đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như vậy. Nếu bị
người khác nắm tay đấm, vác đá chọi dùng gậy đánh, lấy
dao chém, tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô
ác, hướng đến người đánh đập, duyên nơi người đánh
đập mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành như cái túi da mèo, không
kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi, vô lượng,
vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu
an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.
"Nếu
có giặc cướp đến, bằng lưỡi cưa bén, cắt xẻ tay chân
chi tiết. Này các ngươi, nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi
cưa bén mà xẻ tay chân chi tiết các ngươi mà các ngươi hoặc
tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các
ngươi nhân đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như
vậy: nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cưa xẻ
tay chân các ngươi chi tiết, mà tâm không biến đổi, miệng
không phát ra lời thô ác, hướng đến người cắt xả ấy,
duyên nơi người cắt xả ấy mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương
ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng
vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy trên dưới, bao trùm tất
cả tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế,
không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và
hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế,
không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến
mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học
như vậy."
Rồi
bấy giờ Đức Thế Tôn tán thán các Tỳ-kheo:
"Lành
thay! Lành thay! Các Tỳ-kheo luôn luôn suy niệm về lưỡi cưa
bén cho giáo huấn của Sa-môn. Các ngươi sau khi luôn luôn suy
niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn của Sa-môn
rồi, các ngươi há còn thấy rằng: ‘Người kia nói lời
thô ác không khả ái đối với ta, sau khi ta nghe không thể
chịu đựng nổi chăng?’.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
"Không
có, bạch Thế Tôn!"
Đức
Thế Tôn lại tán thán các Tỳ-kheo:
"Lành
thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ
lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Sau khi luôn luôn suy niệm
về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, các ngươi
nếu sống ở phương Đông, chắc chắn được an lạc, không
có các khổ nạn. Nếu sống ở phương Nam, phương Tây và
phương Bắc, cũng chắc chắn được an lạc, không có các
khổ hoạn.
"Lành
thay! Lành thay! Các ngươi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi
cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Các ngươi sau khi suy niệm về
thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, đối với các
thiện pháp các ngươi đã an trụ, Ta còn không nói, huống
nữa là nói đến sự suy thoái. Chỉ còn sự tăng trưởng
thiện pháp ngày đêm, chứ không còn sự suy thoái nữa.
"Lành
thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ
lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn; các ngươi sau khi luôn
luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn
rồi, trong hai quả chắc chắn được một. Hoặc ngay trong
đời hiện tại mà chứng đắc Cứu cánh trí, hoặc chứng
A-na-hàm nếu còn hữu dư y."
Đức
Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong,
hoan hỷ phụng hành.
1.Tương
đương Pāli, M. 21. Kakacūpamasuttaṃ.
2.
Mâu-lê-phá-quần-na 牟 犁 破 群 那. Pāli: Moliyaphagguna.
3.
Đạo thuyết 道 說. Pāli: avaṇṇanaṃ bhāsati, nói điều
không tốt.
4.
. Nguyên Hán: y gia 依 家. Pāli: gehasita.
5.
Đa sở tri thức 多 所 知 識, chỉ người nổi tiếng.
6.
Nhất tọa thực 一 坐 食, ngữ nguyên không rõ, nhưng ý nghĩa:
ăn một ngày một lần. Xem thêm cht.2, kinh 194 dưới. Pāli:
ekāsana-bhojana.
7..
Nguyên Hán: sanh niệm hướng pháp thứ pháp. Pāli: satuppādakaraṇīyaṃ...
bhikkhusu, cần khơi dậy chánh niệm nơi các Tỳ-kheo.
8..
Thiện thệ hành 善 逝 行,Nguyên-Minh: thiện du hành 善 遊
行.
9.
Cư sĩ phụ Bệ-đà-đề 居 士 婦 鞞 陀 提. Pāli: Vedehikā
nāma gahapatānī.
10.
Tì danh Hắc 婢 名 黑. Pāli: Kāḷī nāma dāsī.
11.
Ngũ ngôn đạo 五 言 道 hay ngũ ngữ lộ 五 語 珞. Xem Tập
Dị 13, No.1536, Đại 26, tr.421c). Pāli: Pañca Vacanapathā.