190.
KINH TIỂU KHÔNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, tại Đông viên,
Lộc tử mẫu giảng đường.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan vào lúc xế, từ thiền tọa đứng dậy,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, lui
đứng sang một bên mà bạch rằng:
“Một
thời Thế Tôn du hành giữa những người họ Thích, trong thành
tên là Thích đô ấp.
Con lúc ấy được nghe Thế Tôn nói nghĩa như vầy, ‘Này
A-nan, Ta phần nhiều hành nơi không tánh’.
Thế Tôn! Phải là con biết rõ, nhận rõ và nhớ kỹ không?”
Khi
ấy Thế Tôn đáp rằng:
“Này
A-nan, lời nói của Ta đó, ông thật sự biết rõ, nhận rõ
và nhớ kỹ. Vì sao? Vì Ta tự bao giờ cho đến hôm nay phần
nhiều hành nơi không tánh.
“Này
A-nan, như giảng đường Lộc tử mẫu này trống không, không
có voi, ngựa, bò, dê, tài vật, lúa thóc, nô tỳ; nhưng có
cái không trống không. Đó là chỉ có chúng Tỳ-kheo. Cho nên,
này A-nan, nếu trong đó không có gì cả thì chính do đó mà
Ta thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái khác thì
Ta thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân
thật, không tánh, sự không điên đảo.
“Này
A-nan, Tỳ-kheo nào nếu muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo
ấy đừng tác đến ý tưởng về xóm làng, đừng tác ý đến
ý tưởng về người, mà hằng tác ý đến ý tưởng về duy
nhất tánh là ý tưởng về khu rừng.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về
xóm làng, trống không ý tưởng về người, nhưng có một
cái không trống không, đó là duy nhất tánh do ý tưởng về
khu rừng. Nếu có sự phiền nhọc
do ý tưởng về xóm làng, thì ở đây ta không có sự ấy.
Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về người, thì ở đây
ta không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc là do
duy nhất tánh ý tưởng về khu rừng’. Nếu trong đó không
có gì cả thì, thì chính do đó mà vị ấy thấy đó là trống
không. Nếu trong này còn có cái khác, thì vị ấy thấy là
chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, không
tánh, sự không điên đảo.
“Lại
nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh,
Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý tưởng về người, đừng
tác ý đến ý tưởng khu rừng mà hằng tác ý đến duy nhất
tánh là ý tưởng về đất. Tỳ-kheo ấy nếu thấy đất này
có cao có thấp, có ổ rắn, có bụi gai, có cát, có đá, núi
chởm, sông sâu thì chớ có tác ý đến. Nếu thấy đất này
bằng phẳng như lòng bàn tay, chỗ trông ra được rõ ràng,
thì hãy thường tác ý đến.
“Này
A-nan, ví như da bò, lấy một trăm cây đinh mà căng ra; sau
khi căng rất thẳng, nó không nhăn, không rút lại. Nếu thấy
chỗ đất này có cao có thấp, có ổ rắn, có bụi gai, có
cát, có đá, núi chởm, sông sâu thì đừng tác ý đến. Nếu
thấy chỗ đất này bằng phẳng như lòng bàn tay, chỗ trông
ra được rõ ràng, thì hãy thường tác ý. Vị ấy biết như
vậy, biết rằng, ‘Trống không ý tưởng về người, trống
không ý tưởng về khu rừng, nhưng có một cái không trống
không, đó là duy nhất ý tưởng về đất. Nếu có sự phiền
nhọc do ý tưởng về người, thì ở đây ta không có sự
ấy. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về khu rừng, thì
ở đây ta không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc
do duy nhất tánh là ý tưởng về đất’. Nếu trong đó không
có gì cả, thì chính do đó mà vị ấy thấy là trống không.
Nếu trong này còn có cái khác thì vị ấy thấy là chân thật
có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, không tánh,
sự không điên đảo.
“Lại
nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh,
Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý tưởng về khu rừng, đừng
tác ý đến ý tưởng về đất, mà hằng tác ý đến duy nhất
tánh là ý tưởng thuần nhất về vô lượng không xứ.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về
khu rừng, trống không ý tưởng về đất, nhưng có cái không
trống không, đó là duy nhất ý tưởng về vô lượng không
xứ. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về khu rừng, thì
ở đây ta không có sự đó. Nếu có sự phiền nhọc do ý
tưởng về đất, thì ta không có sự đó. Ở đây chỉ có
sự phiền nhọc do duy nhất tánh là ý tưởng về vô lượng
không xứ’. Nếu trong đó không có gì cả, thì chính do đó
mà vị ấy thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái
khác, thì vị ấy thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là
hành trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo.
“Lại
nữa, này A-nan, Tỳ-kheo muốn hành nhiều trong không tánh, Tỳ-kheo
ấy đừng tác ý đến ý tưởng về khu rừng, đừng tác ý
đến ý tưởng về đất, đừng tác ý về ý tưởng vô lượng
không xứ, hãy hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng
về vô lượng thức xứ.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về
khu rừng, trống không ý tưởng về đất, trống không ý tưởng
về vô lượng không xứ, nhưng có một cái không trống không,
đó là duy nhất ý tưởng về vô lượng thức xứ. Nếu có
sự phiền nhọc do ý tưởng về khu rừng, thì ở đây ta không
có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về đất,
thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do
ý tưởng về vô lượng không xứ, thì ở đây ta không có
sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất tánh
là ý tưởng về vô lượng thức xứ.’ Nếu trong đó không
có gì cả, thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là trống không.
Nếu trong này còn có một cái khác, thì vị ấy thấy là chân
thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, tánh không,
không điên đảo.
“Lại
nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh,
Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý tưởng về vô lượng không
xứ, đừng tác ý đến ý tưởng về vô lượng thức xứ,
mà hãy hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng về vô
sở hữu xứ.
Vị ấy niệm biết như vầy, ‘Trống không vô lượng không
xứ, trống không vô lượng thức xứ, nhưng có một cái không
trống không. Đó là duy nhất ý tưởng về vô sở hữu xứ.
Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về vô lượng không xứ,
thì ở đây ta không có sự ấy. Nếu có sự phiền nhọc do
ý tưởng về vô lượng thức xứ, thì ở đây ta không có
sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do duy nhất tánh
là ý tưởng về vô sở hữu xứ’. Nếu trong đó không có
gì cả, thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là trống không.
Nếu trong đó còn có cái khác, thì vị ấy thấy là chân thật
có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, tánh không,
không điên đảo.
“Lại
nữa, này A-nan, Tỳ-kheo nếu muốn hành nhiều trong không tánh,
Tỳ-kheo ấy đừng tác ý đến ý tưởng về vô lượng thức
xứ, đừng tác ý đến ý tưởng về vô sở hữu xứ, mà
hãy hằng tác ý đến duy nhất tánh là ý tưởng về vô tưởng
tâm định.
Vị ấy nhận biết như vầy, ‘Trống không ý tưởng về
vô lượng thức xứ, trống không ý tưởng về vô sở hữu
xứ, nhưng có cái không trống không, đó là duy nhất tánh
do vô tưởng tâm định. Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng
về vô lượng thức xứ, thì ở đây ta không có sự ấy.
Nếu có sự phiền nhọc do ý tưởng về vô sở hữu xứ,
thì ở đây ta cũng không có sự ấy. Ở đây chỉ có sự
phiền nhọc do duy nhất là về tưởng tâm định’. Nếu trong
đó không có gì cả, thì chính vì vậy mà vị ấy thấy là
trống không. Nếu trong này còn có cái khác, thì vị ấy thấy
là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật,
tánh không, không điên đảo.
“Vị
ấy lại suy nghĩ như vầy, ‘Vô tưởng tâm định mà ta đã
có đây vốn là sở hành, vốn là sở tư.
Nếu nó vốn là sở hành, vốn là sở tư thì ta không ái lạc
nó,
không mong cầu nó, không an trụ trên nó’.
“Vị
ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu,
tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Giải thoát rồi,
thì biết là mình đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’. Vị ấy biết như vầy, ‘Trống
không là dục lậu, trống không là hữu lậu, trống không
là vô minh lậu; nhưng có cái không trống không, đó là
chỉ có thân này của ta với sáu xứ cho mạng tồn tại. Nếu
có sự phiền nhọc do dục lậu, thì ta không có sự ấy. Nếu
có sự phiền nhọc do hữu lậu và vô minh lậu, ta cũng không
có sự ấy. Ở đây chỉ có sự phiền nhọc do nơi thân này
của ta và sáu xứ cho mạng tồn tại’.
Nếu trong đó không có gì cả thì chính vì vậy mà vị ấy
thấy là trống không. Nếu trong này còn có cái khác thì vị
ấy thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự
chân thật, tánh không, không điên đảo. Đó là lậu tận,
vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này
A-nan, trong quá khứ, nếu có các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, các vị ấy tất cả đều hành
trong sự chân thật, tánh không, không điên đảo này; đó
là lậu tận, vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này
A-nan, trong vị lai, nếu có các Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác, các vị ấy tất cả đều hành trong sự
chân thật, tánh không, không điên đảo này; đó là lậu tận,
vô lậu, vô vi, tâm giải thoát.
“Này
A-nan, trong hiện tại, Ta là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, Ta cũng hành trong sự chân thật, tánh không, không
điên đảo này; đó là lậu tận, vô lậu, vô vi, tâm giải
thoát.
“Cho
nên, này A-nan, hãy học như vậy.”
Phật
thuyết như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Pāli:
Sakkesu (.....) nagarakam nāma sakyānaṃ nigamo, giữa những người
họ Thích, một thị trấn của họ Thích ca, tên là Nagaraka.
Hành
không 行空.
Pāli: suññatāvihāra, không trụ, sự an trụ nơi tánh
không, sống trong trạng thái không tánh.
Hành
chân thật không bất điên đảo. Pāli: Yathābhuccā avipallatthā
parisuddhā sunnatāvakkam. Thâm nhập không tánh, chân thật, thanh
tịnh, không điên đảo. Bốn từ này ở đây được coi là
đồng nghĩa.
Hán:
niệm nhất vô sự tưởng 念一無事想.
Pāli: araññasaññaṃ paṭicca manasi karoti ekattaṃ, duyên vào
ý tưởng về khu rừng mà tác ý cái một. Duyên vào ý tưởng
rừng mà tập trung trên một đối tượng duy nhất, nhất tánh.
Bổn
sở hành, bổn sở tư 本所本所思.
Pāli: ayampi kho animoitto cetosamādhi abhsaṅkhato abhisañcetayito,
vô tướng tâm định này là thắng hữu vi, được tư duy.
Thắng hữu vi, thuộc hữu vi, vì những thù thắng, siêu
việt hơn. Trong bản Hán, đọc là abhisaṃkhāra (bổn sở
hành hay thắng hành) thay vì là abhisaṃkhata. Bổn sở tư
(abhisañcetayita), ở đây hiểu là cái được tạo ra do tư
niệm, tư sở tác.