189.
KINH THÁNH ĐẠO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Câu-lâu-lấu, ở Kiếm
Ma-sắt-đàm, đô ấp Câu-lâu.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Có
một con đường khiến chúng sanh được thanh tịnh, xả bỏ
ưu sầu, than khóc, dứt hết buồn khổ ảo não, chứng được
như pháp. Đó là Thánh chánh định, có tập, có trợ
và cũng có cụ,
bao gồm bảy chi.
“Thế
nào là Thánh chánh định nói tập, nói trợ và nói cụ gồm
bảy chi? Đó là, chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm. Nếu do bảy chi
này mà có tập, có trợ và có cụ,
khéo hướng đến tâm chuyên nhất,
đó gọi là Thánh chánh định có tập, có trợ và có cụ.
Vì sao vậy? Chánh kiến sanh chánh chí, chánh chí sanh chánh
ngữ, chánh ngữ sanh chánh nghiệp, chánh nghiệp sanh chánh mạng,
chánh mạng sanh chánh phương tiện, chánh phương tiện sanh
chánh niệm, chánh niệm sanh chánh định. Hiền thánh đệ tử
tâm được chánh định như vậy lập tức dứt sạch dâm,
nộ, si. Hiền thánh đệ tử chánh tâm giải thoát như thế,
lập tức biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái
sanh nữa’.
“Trong
các chi ấy, chánh kiến đứng ngay hàng đầu. Nếu thấy rõ
tà kiến là tà kiến thì đó gọi là chánh kiến. Nếu thấy
rõ chánh kiến là chánh kiến thì đó cũng gọi là chánh kiến.
“Thế
nào là tà kiến?
“Đó
là cho rằng không có bố thí, không có trai tự, không có chú
thuyết, không có thiện, ác nghiệp, không có quản báo của
thiện, ác nghiệp, không có đời này đời sau, không có cha,
không có mẹ, không có bậc chân nhân ở trên đời đi đến
thiện xứ, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng đến cõi kia,
tự tri, tự giác, trong đời này hay đời sau mà tự tác chứng,
thành tựu an trụ. Như vậy gọi là tà kiến.
“Thế
nào gọi là chánh kiến?
“Đó
là thấy rằng có bố thí, có trai tự, có chú thuyết, có
thiện, ác nghiệp, có quả báo của thiện, ác nghiệp, có
đời này đời sau, có cha có mẹ, có bậc chân nhân ở trên
đời đi đến thiện xứ, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng
đến cõi kia, trong đời này hay đời sau tự tri, tự giác,
tự tác chứng, thành tựu an trụ. Như vậy gọi là chánh kiến.
“Đó
gọi rằng thấy tà kiến là tà kiến thì đó là chánh kiến.
Thấy chánh kiến là chánh kiến; đó cũng gọi là chánh kiến.
Khi biết rõ như thế, liền phải cầu học, muốn đoạn trừ
tà kiến, thành tựu chánh kiến. Đó gọi là chánh phương
tiện. Tỳ-kheo suy niệm về sự đoạn trừ nơi tà kiến, thành
tựu chánh kiến. Đó gọi là chánh niệm. Cả ba chi này đi
theo kiến phương tiện, do phương tiện của kiến. Vì thế
cho nên bảo chánh kiến là đứng ngay ở hàng đầu.
“Nếu
thấy tà chí là tà chí, thì đó là chánh chí. Nếu thấy chánh
chí là chánh chí thì đó cũng là chánh chí.
“Thế
nào gọi là tà chí? Đó là niệm dục, niệm nhuế, niệm hại,
được gọi là tà chí.
“Thế
nào gọi là chánh chí? Đó là niệm vô dục, niệm vô nhuế,
niệm vô hại, được gọi là chánh chí.
“Thấy
rõ tà chí là tà chí, thì đó là chánh chí. Thấy rõ chánh
chí là chánh chí, thì đó cũng là chánh chí. Biết như thế
rồi, liền phát tâm cầu học, muốn đoạn trừ tà chí, thành
tựu chánh chí. Đó gọi là chánh phương tiện. Tỳ-kheo suy
niệm sự đoạn trừ nơi tà chí, thành tựu chánh chí. Đó
gọi là chánh niệm.
“Tất
cả ba chi này đi theo chánh chí, do phương tiện của kiến,
vì thế nên bảo chánh kiến đứng hàng đầu.
“Nếu
thấy rõ tà ngữ là tà ngữ, thì đó là chánh ngữ. Nếu thấy
chánh ngữ là chánh ngữ, thì đó cũng chính là chánh ngữ.
“Sao
gọi là tà ngữ? Nói dối, nói hai lưỡi, lời nói thô ác,
lời nói thêu dệt, đó gọi là tà ngữ.
“Thế
nào là chánh ngữ? Xa lìa sự nói dối, nói hai lưỡi, nói
lời thô ác, thêu dệt, đó gọi là chánh ngữ. Đó cũng gọi
là thấy tà ngữ là tà ngữ, thì gọi là chánh ngữ. Thấy
chánh ngữ là chánh ngữ, cũng gọi là chánh ngữ. Biết như
vậy rồi liền phát tâm cầu học, muốn đoạn trừ tà ngữ,
thành tựu chánh ngữ. Đó là chánh phương tiện. Tỳ-kheo suy
niệm sự đoạn trừ nơi tà ngữ, thành tựu chánh ngữ, gọi
là chánh niệm. Cả ba chi này đi theo chánh ngữ, do phương
tiện của kiến, vì thế nên bảo chánh kiến đứng hàng đầu.
“Nếu
thấy tà nghiệp là tà nghiệp, thì đó là chánh nghiệp. Nếu
thấy chánh nghiệp là chánh nghiệp, thì đó cũng chính là
chánh nghiệp.
“Thế
nào gọi là tà nghiệp? Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, gọi
là tà nghiệp. Thế nào gọi là chánh nghiệp? Lìa sát sanh,
trộm cướp, tà dâm, gọi là chánh nghiệp. Đó gọi rằng
thấy tà nghiệp là tà nghiệp thì gọi là chánh nghiệp. Thấy
chánh nghiệp là chánh nghiệp, cũng gọi là chánh nghiệp. Biết
như thế rồi liền phát tâm cầu học, muốn đoạn trừ tà
nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, gọi là chánh phương tiện.
Tỳ-kheo suy niệm sự đoạn trừ nơi tà nghiệp, thành tựu
chánh nghiệp, gọi là chánh niệm. Cả ba chi này đi theo chánh
nghiệp, do phương tiện của kiến, vì thế nên bảo chánh
kiến đứng hàng đầu.
“Nếu
thấy tà mạng là tà mạng, thì đó gọi là chánh mạng. Nếu
thấy chánh mạng là chánh mạng, thì cũng gọi là chánh mạng.
“Thế
nào là tà mạng? Nếu có sự mong cầu mà không mãn ý; bằng
nhiều loại chú thuật súc sanh, bằng tà mạng mà nuôi sống.
Nó không như pháp mà tìm kiếm áo chăn, mà lại bằng phi pháp;
không như pháp mưu cầu ẩm thực, giường chõng, thuốc thang,
các tư cụ sanh hoạt, mà bằng phi pháp. Đó là tà mạng. Thế
nào là chánh mạng? Nếu không có sự mong cầu không mãn ý;
không dùng các thứ chú thuật, tà mạng để nuôi sống. Người
ấy như pháp mà tìm kiếm áo chăn, thì đó là pháp vậy; như
pháp mà mưu cầu ẩm thực, giường chõng, thuốc thang, các
tư cụ sanh hoạt, thì đó là pháp vậy. Đó gọi là chánh
mạng. Đó là nói rằng, thấy tà mạng là tà mạng thì gọi
là chánh mạng; thấy chánh mạng là chánh mạng, cũng gọi
là chánh mạng. Kia biết như vậy rồi, bèn cầu học để
đoạn trừ tà mạng, thành tựu chánh mạng; đó là chánh phương
tiện. Tỳ-kheo suy niệm nơi sự đoạn trừ tà mạng, thành
tựu chánh mạng, đó gọi là chánh niệm. Ba chi này đi theo
chánh mạng, do phương tiện của kiến, vì thế nên bảo chánh
kiến đứng hàng đầu.
“Thế
nào là chánh phương tiện? Tỳ-kheo để đoạn trừ ác pháp
đã sanh mà phát khởi ý dục tìm cầu phương tiện, tinh cần
dốc tâm trừ diệt; vì để ác pháp chưa sanh thì không sanh,
nên phát khởi ý dục tìm cầu phương tiện, tinh cần dốc
tâm mà trừ diệt; để pháp thiện chưa sanh thì sanh nên phát
khởi ý dục tìm cầu phương tiện, tinh cần dốc tâm trừ
diệt; để thiện pháp đã sanh tồn tại, không bị quên, không
thối thất, càng lúc càng phát triển rộng rãi, tu tập biến
mãn đầy đủ, nên phát khởi ý dục tìm cầu phương tiện,
tinh cần dốc tâm mà trừ diệt; đó gọi là chánh phương
tiện.
“Thế
nào là chánh niệm? Tỳ-kheo quán nội thân như thân; quán,
cho đến, thọ, tâm, pháp như pháp; đó gọi là chánh niệm.
“Thế
nào là chánh định? Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp,
cho đến, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ;
đó gọi là chánh định.
“Thế
nào là chánh giải thoát? Tỳ-kheo, tâm giải thoát khỏi dục,
tâm giải thoát khỏi nhuế, si; đó gọi là chánh giải thoát.
Thế nào là chánh trí? Tỳ-kheo biết tâm giải thoát dục,
tâm giải thoát nhuế, si; gọi là chánh trí.
“Đó
là bậc hữu học thành tựu tám chi. Lậu tận A-la-hán thành
tựu mười chi.
“Thế
nào là hữu học thành tựu tám chi? Là học từ chánh kiến
cho đến chánh định. Đó là hữu học thành tựu tám chi.
“Thế
nào là lậu tận A-la-hán thành tựu mười chi? Đó là vô học
chánh kiến cho đến vô học chánh trí. Đó là lậu tận A-la-hán
thành tựu mười chi. Vì sao vậy? Vì chánh kiến là đoạn
trừ tà kiến. Nếu nhân tà kiến sanh vô lượng ác pháp bất
thiện, vị ấy phải đoạn trừ nó. Nếu nhân chánh kiến
sanh ra vô lượng thiện pháp, vị ấy tu tập được sung mãn.
Cho đến chánh trí đoạn trừ tà trí. Nếu nhân tà trí sanh
vô lượng pháp ác bất thiện, vị ấy đoạn trừ nó. Nếu
nhân chánh trí sanh vô lượng pháp thiện, vị ấy tu tập để
được sung mãn.
“Đó
là hai mươi phẩm thiện và hai mươi phẩm bất thiện. Tức
là tuyên thuyết bốn mươi đại pháp phẩm được chuyển
vận nơi Phạm luân mà không một ai có thể chế ngự mà bài
xích, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên, Ma, Phạm, và các
loại thế gian khác.
“Đối
với bốn mươi đại pháp phẩm mà Ta tuyên thuyết được
chuyển vận nơi Phạm luân ấy, không một ai có thể chận
đứng, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên và Ma, Phạm, và
các loại thế gian khác; mà nếu có Sa-môn, Phạm chí nào phi
bác, người ấy đối với như pháp có mười trường hợp
đáng bị chỉ trích.
“Những
gì là mười? Hoặc chê bai chánh kiến, khen ngợi tà kiến.
Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào có tà kiến, mà hoặc cúng dường
vị ấy, hoặc tán thán vị ấy, thì đối với bốn mươi
đại pháp phẩm mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi
Phạm luân, không một ai có thể chận đứng, dù là Sa-môn,
Phạm chí, chư Thiên, Ma, Phạm và các loại thế gian khác ấy,
mà nếu có Sa-môn, Phạm chí nào phi bác, vị ấy đối với
như pháp đây là trường hợp thứ nhất đáng bị chỉ trích.
“Hoặc
chê bai, cho đến chánh trí, khen ngợi tà trí. Nếu có Sa-môn,
Phạm chí nào có tà trí mà hoặc cúng dường vị ấy, hoặc
tán thán vị ấy, thì đối với bốn mươi đại pháp phẩm
mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi Phạm luân, không
một ai có thể chận đứng, dù là Sa-môn, Phạm chí, chư Thiên,
Ma, Phạm và các loại thế gian khác ấy, mà nếu có Sa-môn,
Phạm chí nào phi bác, vị ấy đối với như pháp đây trường
hợp thứ mười đáng bị chỉ trích.
“Đó
gọi là đối với như pháp có mười trường hợp đáng bị
chỉ trích. Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đối với bốn mươi
đại pháp phẩm mà Ta tuyên thuyết, được chuyển vận nơi
Phạm luân, không một ai có thể chận đứng, dù là Sa-môn,
Phạm chí, chư Thiên, Ma, Phạm, và các loại thế gian khác
ấy, mà phi bác; thì người ấy đối với như pháp có mười
điều bị chỉ trích.
“Lại
có những Sa-môn, Phạm chí khác sống ngồi chồm hổm,
thuyết giảng sự ngồi chồm hổm. Sống vô sở hữu, thuyết
giảng vô sở hữu, thuyết vô nhân, thuyết vô tác, thuyết
vô nghiệp; nghĩa là đối với thiện ác được tạo tác bởi
người này hay người kia mà chủ trương đoạn tuyệt, phá
hoại ở kia hay ở đây, những người ấy đối với bốn
đại pháp phẩm mà Ta tuyên thuyết được chuyển vận nơi
Phạm luân, không một ai có thể chận đứng, dù là Sa-môn,
Phạm chí, chư Thiên, Ma, Phạm và các loại thế gian khác,
những người ấy cũng có sự chỉ trích, lo lắng, sợ hãi.”
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Hữu
tập hữu trợ 有習有助.
Pāli: sa-upanisa, cùng với sự thân cận, hay phương tiện, sa-parikkhāra
cùng với sự hỗ trợ hay tư trợ.
Hữu
cụ 有具.
Bản Pāli không có từ tương xứng, nhưng nội dung tương đồng.
Nghĩa là một chi Thánh đạo này bao gồm bảy chi Thánh đạo
còn lại.