188.
KINH A-DI-NA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trú tại Đông
viên, giảng đường Lộc tử mẫu.
Bấy
giờ, vào lúc xế chiều, Đức Thế Tôn từ tĩnh tọa đứng
dậy, bước xuống giảng đường, đi kinh hành trên khoảng
đất trống, trong bóng mát của giảng đường và thuyết giảng
rộng rãi về pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo nghe.
Lúc
ấy, dị học A-di-na,
đệ tử của Sa-môn Man-đầu,
từ xa thấy Đức Thế Tôn từ tĩnh tọa dậy, bước xuống
giảng đường, đi kinh hành trên khoảng đất trống, trong
bóng mát của giảng đường và thuyết giảng rộng rãi về
pháp thậm thâm vi diệu cho các Tỳ-kheo nghe; Dị học A-di-na,
đệ tử của Sa-môn Man-đầu đến chỗ Phật, chào hỏi và
kinh hành theo Phật.
“Đức
Thế Tôn quay lại hỏi rằng:
“Dị
học A-di-na, Sa-môn Man-đầu có thật sự tư duy với năm trăm
tư duy; nếu có dị học, Sa-môn, Phạm chí nào là vị nhất
thiết tri, nhất thiết kiến, tự cho là ‘Ta biết không sót
cái gì’,
nhưng nếu có lầm lẫn thì cũng phải tự nhận là lầm lẫn.”
Dị
học A-di-na, đệ tử của Sa-môn Man-đầu đáp rằng:
“Thưa
Cù-đàm, Sa-môn Man-đầu thật sự tư duy với năm trăm tư
duy; nếu có dị học, Sa-môn, Phạm chí nào là vị nhất thiết
tri, nhất thiết kiến, tự cho là “Ta biết không sót thứ
gì’, nhưng nếu có lầm lẫn thì cũng phải tự nhận là
lầm lẫn.”
Đức
Thế Tôn lại hỏi rằng:
“A-di-na,
thế nào là Sa-môn Man-đầu thật sự tư duy với năm trăm
tư duy; nếu có dị học, Sa-môn, Phạm chí nào là vị nhất
thiết tri, nhất thiết kiến, tự cho là “Ta biết không sót
cái gì’, nhưng nếu có lầm lẫn thì cũng phải tự nhận
là lầm lẫn?”
Dị
học A-di-na, đệ tử của Sa-môn Man-đầu, đáp rằng:
“Thưa
Cù-đàm! Sa-môn Man-đầu nói như vầy, ‘Nếu khi đi, khi đứng,
khi nằm, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, lúc tối hay ban ngày
vẫn thường không chướng ngại tri kiến. Nhưng cũng có khi
gặp voi chạy càn, ngựa phóng đại, xe ruỗi nhanh, lính bại
trận, con trai chạy trốn, con gái chạy trốn, hoặc đi trên
con đường nào đó mà gặp voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó
dữ, hoặc gặp ổ rắn, hoặc bị ném đất, hoặc bị gậy
đánh, hoặc lọt xuống rãnh, hoặc rơi vào hầm xí, hoặc
đạp lên bò đang nằm, hoặc sa xuống hầm sâu, hoặc đâm
vào bụi gai, hoặc thấy thôn ấp mà phải hỏi tên đường,
hoặc gặp kẻ trai người gái phải hỏi họ hỏi tên, hoặc
nhìn lầm nhà trống, hoặc vào dòng họ nào đó và khi vào
rồi được hỏi rằng: ‘Ông ở đâu đến?’ Ta đáp rằng,
‘Này chư Hiền, tôi đi lộn đường’.’
“Thưa
Cù-đàm! Sa-môn Man-đầu đại loại như vậy, tư duy với năm
trăm tư duy, và nếu có dị học Sa-môn, Phạm chí nào là bậc
nhất thiết trí, nhất thiết kiến, tự cho rằng: “Ta biết
không sót cái gì’, nhưng vị ấy cũng có những lầm lẫn
như vậy.”
Rồi
Đức Thế Tôn đi kinh hành đến mút đường, dừng lại, trải
tọa cụ, ngồi kiết già, hỏi các Tỳ-kheo:
“Những
sự kiện trí tuệ
được Ta nói đến, các người thọ trì chăng?
Các
Tỳ-kheo im lặng không đáp. Đức Thế Tôn hỏi như vậy đến
ba lần:
“Những
sự kiện trí tuệ được Ta nói đến, các ngươi thọ trì
chăng?”
Các
Tỳ-kheo cũng ba lần im lặng không đáp.
Lúc
ấy có một Tỳ-kheo liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch
vai áo, chắp tay hướng đến Phật bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nay thật là đúng lúc! Bạch Thiện Thệ, nay thật
là đúng lúc! Nếu Thế Tôn nói những sự kiện trí tuệ cho
các Tỳ-kheo nghe thì các Tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn nói sẽ
khéo léo thọ trì.”
Thế
Tôn nói:
“Này
Tỳ-kheo, hãy nghe rõ và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ phân tích đầy
đủ cho các ngươi.”
Bấy
giờ các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Chúng
con kính vâng lời, lắng nghe.”
Đức
Phật lại bảo rằng:
“Có
hai chúng, một là chúng pháp, hai là chúng phi pháp.
“Sao
gọi là chúng phi pháp? Hoặc có người làm việc phi pháp,
nói lời phi pháp và chúng ấy cũng làm việc phi pháp, nói
lời phi pháp. Người phi pháp ấy đứng đầu trong chúng phi
pháp, theo những điều chính mình đã biết, nhưng lại bằng
những lời hư vọng, không chân thật mà hiển thị, phân biệt,
quy định hành vi, lưu bố, tuần tự thuyết pháp, muốn đoạn
trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác, bị cật vấn thì
không thể trả lời được. Đối với trong Chánh pháp luật
không thể xứng lập những điều chính mình đã biết. Nhưng
người phi pháp đứng đầu trong chúng phi pháp, tự cho là
‘Ta có trí tuệ, hiểu biết tất cả’. Ở nơi nào mà sự
kiện trí tuệ được nói đến như vậy, ở đó được gọi
là chúng phi pháp.
“Sao
gọi là chúng pháp? Hoặc có người làm đúng pháp, nói như
pháp và chúng ấy cũng làm đúng pháp, nói như pháp. Người
đúng pháp ấy đứng đầu trong chúng pháp, theo những điều
chính mình đã biết, không bằng những lời hư vọng mà bằng
sự chắc thật, hiển thị, phân biệt, quy định hành vi, lưu
bố, tuần tự thuyết pháp, muốn đoạn trừ sự xấu xa trong
tâm ý người khác, khi bị cật vấn thì có thể trả lời
được, đối với Chánh pháp luật có thể xứng lập những
điều chính mình đã biết, và người ấy đứng đầu trong
chúng pháp, tự cho là ta có trí tuệ, hiểu biết tất cả’.
Ở nơi nào mà sự kiện trí tuệ được nói đến như vậy,
ở đó được gọi là chúng pháp.
“Cho
nên, các ngươi nên biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa.
Sau khi đã chứng biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa
rồi, các ngươi nên học pháp như thật và nghĩa như thật.”
Phật
thuyết như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào
tịnh thất tĩnh tọa.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo liền suy nghĩ: “Chư Hiền nên biết, Đức
Thế Tôn chỉ nói vắn tắt ý nghĩa này, không phân biệt rộng
rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào tịnh thất tĩnh
tọa; nói rằng, ‘Cho nên các
ngươi nên biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa. Sau khi
đã biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa rồi, các ngươi
nên học pháp như thật và nghĩa như thật’.”
Họ
lại nghĩ rằng: “Này chư Hiền, ai có thể phân biệt rộng
rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã thuyết vắn tắt?”
Họ
lại nghĩ rằng: “Tôn giả A-nan là thị giả của Phật, hiểu
biết ý Phật, thường được Thế Tôn và các vị Phạm hạnh
có trí khen ngợi. Tôn giả A-nan có thể phân biệt rộng rãi
ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã thuyết vắn tắt. Này chư Hiền,
chúng ta cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả A-nan để yêu cầu
nói ý nghĩa bày. Nếu được Tôn giả A-nan phân biệt cho,
chúng ta sẽ khéo léo thọ trì.”
Rồi
các Tỳ-kheo đi đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi xong, ngồi
xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả A-nan, xin biết cho! Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt
ý nghĩa này, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, vào tịnh thất tĩnh tọa, rằng ‘Cho nên các
ngươi nên biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa. Sau khi
đã biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa rồi, các ngươi
nên học pháp như thật và nghĩa như thật’.
“Chúng
tôi lại nghĩ, ‘Này chư Hiền! Ai có thể phân biệt rộng
rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã thuyết vắn tắt?’ Chúng
tôi lại nghĩ rằng: ‘Tôn giả A-nan là thị giả của Phật,
hiểu biết ý Phật, thường được Thế Tôn và các vị Phạm
hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả A-nan có thể phân biệt rộng
rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã thuyết vắn tắt’. Cúi
mong Tôn giả A-nan vì lòng từ mẫn mà phân biệt rộng rãi
cho.”
Tôn
giả A-nan bảo rằng:
“Này
chư Hiền, hãy lắng nghe tôi nói ví dụ. Người có trí sau
khi nghe ví dụ thì sẽ hiểu rõ ý nghĩa:
“Này
chư Hiền, ví như có người muốn tìm lõi cây, vì muốn tìm
lõi cây nên xách búa vào rừng. Người ấy thấy một gốc
cây to, đã đầy đủ rễ, thân, đốt, cành, lá, hoa và lõi.
Người ấy không đụng đến rễ, thân, đốt, lõi, mà chỉ
đụng đến cành, lá. Những điều mà chư Hiền nói cũng giống
như vậy. Đức Thế Tôn đang còn đó, sao chư Hiền lại bỏ
đi mà tìm đến tôi để hỏi ý nghĩa này? Vì sao vậy?
Chư
Hiền nên biết,Thế Tôn là Con Mắt, là Trí, là Nghĩa, là
Pháp, là Pháp chủ, là Pháp tướng, là Bậc nói nghĩa Chân
đế. Mọi cứu cánh được chỉ bày do bởi Thế Tôn ấy.
Chư Hiền nên đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi ý nghĩa này,
‘Bạch Thế Tôn, điều này là thế nào? Điều này có ý
nghĩa gì?’ Đúng như những lời Thế Tôn nói, chư Hiền hãy
khéo léo thọ trì.”
Lúc
ấy các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Bạch
Tôn giả A-nan, vâng, Đức Thế Tôn là Con Mắt, là Trí, là
Nghĩa, là Pháp, là Pháp chủ, là Pháp tướng, là bậc nói
nghĩa Chân đế. Mọi cứu cánh được chỉ bày do bởi Thế
Tôn ấy. Nhưng Tôn giả A-nan là thị giả của Phật, hiểu
biết ý Phật, thường được Thế Tôn và các vị Phạm hạnh
có trí khen ngợi. Bạch Tôn giả A-nan, Tôn giả có thể phân
biệt rộng rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã thuyết một
cách vắn tắt. Cúi mong Tôn giả A-nan vì lòng từ mẫn mà
phân biệt rộng rãi cho.”
Tôn
giả A-nan nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Này
chư Hiền, vậy hãy cùng nghe tôi nói.
“Này
chư Hiền, tà kiến là phi pháp, chánh kiến là pháp. Nếu điều
nào nhân bởi tà kiến mà sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện,
đó gọi là phi nghĩa. Nếu nhân bởi chánh kiến mà sanh ra
vô lượng pháp thiện, đó gọi là nghĩa.
“Này
chư Hiền, cho đến tà trí là phi pháp, chánh trí là pháp.
Nếu nhân bởi tà trí mà sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện,
đó gọi là phi nghĩa. Nếu nhân bởi chánh trí mà sanh ra vô
lượng pháp thiện, đó gọi là nghĩa.
“Này
chư Hiền! Sự kiện Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt ý nghĩa
này, không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, vào tịnh thất tĩnh tọa, rằng ‘Cho nên các ngươi
nên biết pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa. Sau khi đã biết
pháp và phi pháp, nghĩa và phi nghĩa rồi, các ngươi nên học
pháp như thật và nghĩa như thật’.
“Ý
nghĩa mà Đức Thế Tôn chỉ nói vắn tắt chứ không phân
biệt rộng rãi này, tôi bằng câu ấy, bằng văn ấy mà diễn
rộng ra như vậy. Chư Hiền có thể đến trình bày đầy đủ
lên Đức Phật. Nếu đúng như ý nghĩa mà Đức Thế Tôn nói
thí chư Hiền hãy thọ trì.”
Bấy
giờ các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Tôn giả A-nan nói, khéo
léo thọ trì, đọc thuộc, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
nhiễu quanh Tôn giả A-nan ba vòng rồi đi. Khi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, vừa rồi Thế Tôn chỉ nói vắn tắt ý nghĩa này,
không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
vào tịnh thất tĩnh tọa. Tôn giả A-nan đã bằng câu ấy,
bằng văn ấy mà diễn rộng ra.
Đức
Thế Tôn nghe xong, khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Trong hàng đệ tử của Ta có những vị có
Mắt, có Trí, có Pháp, có Nghĩa. Vì sao vậy? Vì Tôn sư nói
ý nghĩa này cho đệ tử một cách vắn tắt mà không phân
biệt rộng rãi, đệ tử ấy bằng câu ấy, bằng văn ấy
mà diễn rộng ra.
“Đúng
như những gì A-nan nói, các ngươi hãy như vậy mà thọ trì.
Vì sao vậy? –Vì thuyết quán nghĩa phải như vậy.”
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Đông
viên, Lộc tử mẫu giảng đường, xem các kinh số 118, 144,
154,v.v. Pāli: Pubbārāma Migāramātu-pāsāda.
Sa-môn
Man-đầu 沙門蠻頭.
Pāli, Chính lời của Ajita nói: amhakam pandito nāma sabrahmacārī,
vị đồng phạm hạnh của chúng tôi thật sự là Paṇḍita
(thông thái, trí tuệ; hay tên là Paṇḍita, Man-đầu?).
Đoạn
này và vấn đề liên hệ ở dưới, không có trong bản Pāli
đối chiếu này, nhưng văn và nghĩa chính xác, có thể thấy
trong M.76 (trang 519).