184.
KINH NGƯU GIÁC SA-LA LÂM (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa đến Bạt-kì-sấu,
trong rừng Ngưu giác sa-la,
cùng với số đông các Đại đệ tử Tỳ-kheo thượng tôn
tri thức, như Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả
A-na-luật-đà, Tôn giả Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan.
Các Tỳ-kheo Đại đệ tử là những vị thượng tôn tri thức
như vậy cũng cùng đi đến Bạt-kì-sấu, trong rừng Ngưu giác
sa-la, cùng ở gần bên ngôi nhà láù của Phật.
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp,
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, sau khi
đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê
Tử. Tôn giả A-nan từ xa trông thấy các bậc Thượng tôn
đã đi qua, bạch rằng:
“Hiền
giả Ly-việt-đa, nên biết, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả
A-na-luật-đà, sau khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đi
đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử. Hiền giả Ly-việt-đa, bây
giờ chúng ta có thể cùng với các bậc Thượng tôn đi đến
chỗ Tôn giả Xá-lê Tử, hoặc giả có thể nhân cơ hội này
mà được nghe pháp ít nhiều nơi Tôn giả Xá-lê Tử.
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp,
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả
Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan, sau khi đêm đã qua, vào buổi sáng
sớm, đi đến chỗ Tôn giả Xá-lê Tử.
Tôn
giả Xá-lê Tử sau khi từ xa thấy các vị Thượng tôn đi
đến, Tôn giả Xá-lê Tử nhân các vị Thượng tôn ấy, nói
rằng:
“Kính
chào A-nan, kính chào A-nan! Người là thị giả của Thế Tôn,
hiểu được ý nghĩa, thường được Đức Thế Tôn và các
bậc trí tuệ phạm hạnh khen ngợi. Nay tôi có lời hỏi Hiền
giả A-nan, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm
có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví
như hoa trời’. Hiền giả A-nan, những Tỳ-kheo nào làm rực
sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả A-nan đáp rằng:
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo học rộng, nghe nhiều,
nhớ mãi không quên, tích lũy sự nghe nhiều. Với những pháp
sơ khởi vi diệu, khoảng giữa vi diệu và kết thúc cũng vi
diệu, có nghĩa lý, có văn chương, toàn vẹn thanh tịnh, hiển
hiện phạm hạnh; những pháp như vậy được vị ấy học
rộng, nghe nhiều, tụng tập đến ngàn lần, chuyên ý tư duy,
kiến giải thông suốt. Vị ấy thuyết pháp gọn gàng, lưu
loát, hoàn toàn tương ưng với mục đích đoạn trừ các kết
sử. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như thế làm rực
sáng khu rừng Ngưu giác sa-la này.”
Tôn
giả Xá-lê Tử hỏi:
“Hiền
giả Ly-việt-đa, Hiền giả A-nan đã nói theo hiểu biết của
mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả Ly-việt-đa, ‘Khả ái thay,
rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la
đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả
Ly-việt-đa, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la?”
Tôn
giả Ly-việt-đa đáp rằng :
“Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo ưa yển tọa,
bên trong tu hành nội tâm tĩnh chỉ,
không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường thích
nhàn cư, ưa chỗ yên tĩnh. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo
như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi:
“Hiền
giả A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-đa Tỳ-kheo đã nói
theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả
A-na-luật-đà, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban
đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả A-na-luật-đà đáp rằng:
“Tôn
giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành
tựu thiên nhãn, ở trong một ngàn thế giới, với một ít
phương tiện,
vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê
Tử, ví như người có mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu
đất trống có một ngàn gò nỗng với một ít phương tiện,
vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê
Tử, cũng vâïy, nếu Tỳ-kheo có được thiên nhãn, thành tựu
thiên nhãn, ở trong một ngàn thế giới với một ít phương
tiện, vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả
Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi:
“Hiền
giả Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà Tỳ-kheo đã nói
theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả
Ca-chiên-diên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban
đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả Ca-chiên-diên đáp rằng:
“Tôn
giả Xá-lê Tử, ví như hai Tỳ-kheo pháp sư cùng bàn luận
về A-tỳ-đàm thâm áo. Những điều được hỏi đều được
thấu hiểu tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt,
sự thuyết pháp thì lưu loát. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo
như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi:
“Tôn
giả Đại Ca-diếp, Hiền giả Ca-chiên-diên Tỳ-kheo đã nói
theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Tôn giả Đại
Ca-diếp, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm
có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví
như hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả Đại Ca-diếp đáp rằng:
“Hiền
giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo tự mình sống nơi vô sự
khen ngợi ở nơi vô sự; tự mình có thiểu dục, khen ngợi
sự thiểu dục; tự mình tri túc, khen ngợi sự tri túc; tự
mình thích sống cô độc viễn ly và khen ngợi cô độc viễn
ly; tự mình tu hành tinh tấn, khen ngợi sự tu hành tinh tấn;
tự mình lập chánh niệm chánh trí, khen ngợi sự lập chánh
niệm chánh trí; tự mình đắc định, khen ngợi sự đắc
định; tự mình có trí tuệ, khen ngợi sự có trí tuệ; tự
mình các lậu đã sạch, khen ngợi các lậu đã sạch; tự
mình khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, khen ngợi
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Hiền giả Xá-lê
Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại hỏi:
“Hiền
giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp đã nói theo sự
hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả Mục-kiền-liên,
‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có trăng
sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’.
Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng
khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên đáp rằng:
“Tôn
giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo nào có đại như ý túc, có
đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, được
tự tại vô lượng như ý túc, thực hành vô lượng như ý
túc, có thể biến một thành nhiều, hợp nhiều làm thành
một, một thì trụ trên một, được biết, được thấy;
không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không;
chìm xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như
đi trên đất; ngồi xếp kiết già mà bay trên không như chim
bay liệng; với mặt trời và mặt trăng này vốn có đại
như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa
tay bắt nắm, thân cao đến trời Phạm thiên. Tôn giả Xá-lê
Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la.”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên hỏi:
“Tôn
giả Xá-lê Tử, tôi và các vị Thượng tôn mỗi người đã
tự nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Tôn
giả Xá-lê Tử, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban
đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát,
ví như hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
Tôn
giả Xá-lê Tử đáp rằng:
“Hiền
giả Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo tùy dụng tâm tự tại,
chứ không phải tùy tâm.
Nếu muốn trú định nào,
vị ấy vào buổi sáng an trú
định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay
buổi chiều, tức thì vị ấy an trú trụ định ấy vào buổi
trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, ví như y phục
của vua và các quan rất nhiều màu sắc rực rỡ, nếu họ
muốn mặc thứ nào vào buổi sáng, liền lấy mặc vào. Nếu
họ muốn mặc thứ nào vào buổi trưa hay buổi chiều, liền
lấy mặc. Hiền giả Mục-kiền-liên, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo
nào tùy dụng tâm tự tại, chứ không phải tùy tâm. Nếu
muốn trú định nào, vị ấy vào buổi sáng an trú định ấy.
Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa hay buổi chiều,
tức thì vị ấy an trú trụ định ấy vào buổi trưa hay buổi
chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị Tỳ-kheo như vậy làm
rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bảo rằng:
“Hiền
giả Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi người đã nói
theo sự hiểu biết của mình. Hiền giả Mục-kiền-liên, chúng
ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ Phật để biết trong
những điều vừa thảo luận ấy, vị nào nói hay.”
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn
giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật-đà,
Tôn giả Ly-việt-đa, Tôn giả A-nan, tất cả cùng đi đến
chỗ Phật. Các Tôn giả đều cúi đầu lễ sát chân Phật
rồi ngồi qua một bên. Tôn giả A-nan cũng cúi đầu lễ sát
chân Phật rồi lui đứng một bên. Tôn giả Xá-lê Tử bạch
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay có Hiền giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại
Ca-diếp, Hiền giả Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà,
Hiền giả Ly-việt-đa, Hiền giả A-nan, vào buổi sáng sớm
tất cả đều đi đến chỗ con.
“Con
thấy chư Hiền đến, nhân đó mới nói rằng:
“‘Kính
chào A-nan, kính chào A-nan! Người là thị giả của Thế Tôn,
hiểu được ý nghĩa, thường được Đức Thế Tôn và các
bậc trí tuệ phạm hạnh khen ngợi. Nay tôi có lời hỏi Hiền
giả A-nan, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm
có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví
như hoa trời’. Hiền giả A-nan, những Tỳ-kheo nào làm rực
sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Tôn
giả A-nan đáp rằng, ‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo
học rộng, nghe nhiều, nhớ mãi không quên, tích lũy sự nghe
nhiều. Với những pháp sơ khởi vi diệu, khoảng giữa vi diệu
và kết thúc cũng vi diệu, có nghĩa lý, có văn chương, toàn
vẹn thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh; những pháp như vậy
được vị ấy học rộng, nghe nhiều, tụng tập đến ngàn
lần, chuyên ý tư duy, kiến giải thông suốt. Vị ấy thuyết
pháp gọn gàng, lưu loát, hoàn toàn tương ưng với mục đích
đoạn trừ các kết sử. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo
như thế làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la này’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như thật lời Tỳ-kheo A-nan
đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo A-nan đã thành tựu Đa-văn.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Hiền giả A-nan nói như vậy rồi, con lại hỏi,
‘Hiền giả Ly-việt-đa, Hiền giả A-nan đã nói theo hiểu
biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền giả Ly-việt-đa, ‘Khả
ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các
cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả Ly-việt-đa, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng
Ngưu giác sa-la?’
“Hiền
giả Ly-việt-đa đáp con rằng, ‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử,
nếu có Tỳ-kheo ưa yển tọa, bên trong tu hành nội tâm tĩnh
chỉ, không bỏ tọa thiền, thành tựu quán tưởng, thường
thích nhàn cư, ưa chỗ yên tĩnh. Thưa Tôn giả Xá-lê Tử,
vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ly-việt-đa
đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo Ly-việt-đa ưa Tọa thiền.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Hiền giả Ly-việt-đa nói như vậy rồi, con lại
hỏi, ‘Hiền giả A-na-luật-đà, Hiền giả Ly-việt-đa Tỳ-kheo
đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền
giả A-na-luật-đà, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm
ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả A-na-luật-đà, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Hiền
giả A-na-luật-đà liền đáp lại con rằng, ‘Tôn giả Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo đạt được thiên nhãn, thành tựu thiên
nhãn, ở trong một ngàn thế giới, với một ít phương tiện,
vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê
Tử, ví như người có mắt ở trên lầu cao nhìn xuống khu
đất trống có một ngàn gò nỗng với một ít phương tiện,
vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả Xá-lê
Tử, cũng vâïy, nếu Tỳ-kheo có được thiên nhãn, thành tựu
thiên nhãn, ở trong một ngàn thế giới với một ít phương
tiện, vị ấy trong chốc lát có thể thấy tất cả. Tôn giả
Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu
giác sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo A-na-luật-đà
đã nói. Vì sao? Vì A-na-luật-đà Tỳ-kheo đã thành tựu Thiên
nhãn.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Hiền giả A-na-luật-đà nói như vậy rồi, con lại
hỏi, ‘Hiền giả Ca-chiên-diên, Hiền giả A-na-luật-đà Tỳ-kheo
đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền
giả Ca-chiên-diên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm
ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả Ca-chiên-diên, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Hiền
giả Ca-chiên-diên liền đáp lại con rằng, ‘Tôn giả Xá-lê
Tử, ví như hai Tỳ-kheo pháp sư cùng bàn luận về A-tỳ-đàm
thâm áo. Những điều được hỏi đều được thấu hiểu
tường tận, những lời giải đáp thì thông suốt, sự thuyết
pháp thì lưu loát. Tôn giả Xá-lê Tử, vị Tỳ-kheo như vậy
làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ca-chiên-diên
đã nói. Vì sao? Vì Ca-chiên-diên Tỳ-kheo là Phân biệt pháp
sư.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Hiền giả Ca-chiên-diên nói như vậy rồi, con lại
hỏi, ‘Tôn giả Đại Ca-diếp, Hiền giả Ca-chiên-diên Tỳ-kheo
đã nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Tôn
giả Đại Ca-diếp, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm
ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?”
“Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên liền đáp lại con rằng, ‘Hiền giả
Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo tự mình sống nơi vô sự khen
ngợi ở nơi vô sự; tự mình có thiểu dục, khen ngợi sự
thiểu dục; tự mình tri túc, khen ngợi sự tri túc; tự mình
thích sống cô độc viễn ly và khen ngợi cô độc viễn ly;
tự mình tu hành tinh tấn, khen ngợi sự tu hành tinh tấn; tự
mình lập chánh niệm chánh trí, khen ngợi sự lập chánh niệm
chánh trí; tự mình đắc định, khen ngợi sự đắc định;
tự mình có trí tuệ, khen ngợi sự có trí tuệ; tự mình
các lậu đã sạch, khen ngợi các lậu đã sạch; tự mình
khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, khen ngợi khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Hiền giả Xá-lê Tử,
vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Ca-diếp đã
nói. Vì sao? Vì Đại Ca-diếp Tỳ-kheo thường tu hạnh Vô sự.”
Tôn
giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Đại Ca-diếp nói như vậy rồi, con lại
hỏi ‘Hiền giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp đã
nói theo sự hiểu biết của mình. Bây giờ tôi hỏi Hiền
giả Mục-kiền-liên, ‘Khả ái thay, rừng Ngưu giác sa-la này,
ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm
ngát, ví như hoa trời’. Hiền giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo
nào làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?’
“Hiền
giả Đại Mục-kiền-liên liền đáp lại con rằng, ‘Tôn
giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo nào có đại như ý túc, có
đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, được
tự tại vô lượng như ý túc, thực hành vô lượng như ý
túc, có thể biến một thành nhiều, hợp nhiều làm thành
một, một thì trụ trên một, được biết, được thấy;
không bị trở ngại bởi vách đá, cũng như đi trong hư không;
chìm xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như
đi trên đất; ngồi xếp kiết già mà bay trên không như chim
bay liệng; với mặt trời và mặt trăng này vốn có đại
như ý túc, đại phước hựu, đại oai thần mà có thể đưa
tay bắt nắm, thân cao đến trời Phạm thiên. Tôn giả Xá-lê
Tử, vị Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác
sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử, đúng như lời Tỳ-kheo Mục-kiền-liên
đã nói. Vì sao? Vì Tỳ-kheo Mục-kiền-liên có Đại như ý
túc.”
Bấy
giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy,
trịch áo một bên, chấp tay mà bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con và chư Tôn giả nói như vậy rồi, liền bạch
Tôn giả Xá-lê Tử rằng, ‘Tôn giả Xá-lê Tử, tôi và các
vị Thượng tôn mỗi người đã tự nói theo sự hiểu biết
của mình. Bây giờ tôi hỏi Tôn giả Xá-lê Tử, ‘Khả ái
thay, rừng Ngưu giác sa-la này, ban đêm có trăng sáng, các cây
sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời’. Hiền
giả Đại Ca-diếp, những Tỳ-kheo nào làm rực sáng khu rừng
Ngưu giác sa-la?’
“Tôn
giả Xá-lê Tử liền đáp lại lời con rằng, ‘Hiền giả
Mục-kiền-liên, nếu có Tỳ-kheo tùy dụng tâm tự tại, chứ
không phải tùy tâm. Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào
buổi sáng an trú định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào
buổi trưa hay buổi chiều, tức thì vị ấy an trú trụ định
ấy vào buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên,
ví như y phục của vua và các quan rất nhiều màu sắc rực
rỡ, nếu họ muốn mặc thứ nào vào buổi sáng, liền lấy
mặc vào. Nếu họ muốn mặc thứ nào vào buổi trưa hay buổi
chiều, liền lấy mặc. Hiền giả Mục-kiền-liên, cũng vậy,
nếu có Tỳ-kheo nào tùy dụng tâm tự tại, chứ không phải
tùy tâm. Nếu muốn trú định nào, vị ấy vào buổi sáng
an trú định ấy. Nếu muốn an trú trụ định vào buổi trưa
hay buổi chiều, tức thì vị ấy an trú trụ định ấy vào
buổi trưa hay buổi chiều. Hiền giả Mục-kiền-liên, vị
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la’.”
Thế
Tôn khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Mục-kiền-liên, đúng như lời Tỳ-kheo Xá-lê
Tử đã nói. Vì sao? Vì Xá-lê Tử Tỳ-kheo tùy dụng Tâm tự
tại.”
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch
áo một bên mà bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con và chư Hiền nói như vậy rồi, bảo rằng, ‘Hiền
giả Mục-kiền-liên, tôi và chư Hiền mỗi ngườøi đã tự
trình bày theo sự hiểu biết của mình. Hiền giả Mục-kiền-liên,
chúng ta hãy cùng với chư Hiền đi đến chỗ Đức Phật để
biết trong những điều vừa bàn luận ấy vị nào nói hay.
Bạch Thế Tôn, trong chúng con, ai nói hay?”
Thế
Tôn đáp rằng:
“Này
Xá-lê Tử, tất cả đều hay. Vì sao? Vì các pháp đó chính
là những điều Ta nói. Xá-lê Tử, hãy nghe Ta nói. Vị Tỳ-kheo
như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la. Này Xá-lê
Tử, nếu có Tỳ-kheo tùy theo chỗ ở hoặc thành quách, thôn
ấp, vào buổi sáng sớm mang y cầm bát vào thôn khất thực,
khéo thủ hộ thân, khéo thúc liễm các căn, khéo giữ tâm
niệm. Vị ấy sau khi khất thực xong, sau giờ ngọ, thâu xếp
y bát, rửa chân tay, lấy tọa cụ vắt lên trên vai, đến
chỗ vô sự, hoặc dưới gốc cây, hay chỗ thanh vắng, trải
ni-sư-đàn mà ngồi kiết già, ngồi luôn cho đến chứng lậu
tận mới giải kiết già. Vị ấy không giải kiết già cho
đến khi nào chưa chứng được lậu tận. Này Xá-lê Tử,
Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.”
Phật
thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Ngưu
giác sa-la lâm 牛角娑羅林;
Pāli: Gosiṅgasālavanadāya, một khu rừng ở gần Nādika, xứ
Vajjī, mà bản Hán âm là Bạt-kì-sấu: Vajjīsu, giữa những
người Bạt-kỳ.
Các
đệ tử Thượng tọa nổi tiếng (abhiññātehi abiññātehi
therehi sāvakehi): Tôn giả Xá-lê Tử (Sāriputta), Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên (Mahā-Moggakāna), Tôn giả Đại Ca-diếp (Mahā-Kassapa),
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên (Mahā-Kaccayāna, bản Pāli không
kể), Tôn giả A-na-luật-đà (Anuruddha), Tôn giả Ly-việt-đa
(Revata), Tôn giả A-nan (Ānanda).
Hán:
nhất tắc trụ nhất, hữu tri hữu kiến 一則住一有知有見.
Nghĩa không rõ. Tập Dị (nt): hoặc ẩn hoặc hiện. Pāli: āvibhāvaṃ
tirobhāvaṃ.
Pāli:
cittaṃ vasaṃ vatteti, no... cittassa vasena vatteti, (Tỳ-kheo chế
ngự tâm chứ không phải bị tâm chế ngự).
Hán:
trú chỉ 住止;
Pāli: vihārasamāpattiyā. Bản Hán, samāpatti (định, hay đẳng
chí) được hiểu là samatha, chỉ.