181.
KINH ĐA GIỚI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng
lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư
duy, tâm khởi lên ý nghĩ này: “Những ai có sợ hãi, tất
cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những
ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si
mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.”
Rồi
Tôn giả A-nan vào lúc xế chiều, từ tĩnh tọa dậy, đi đến
chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, rồi đứng sang một
bên, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay con một mình trong tịnh thất, tĩnh tọa tư
duy, tâm khởi lên ý nghĩ này: “Những ai có sợ hãi, tất
cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những
ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si
mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ”.
Thế
Tôn nói rằng:
“Thật
vậy, A-nan, những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu
si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn,
ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải
từ trí tuệ.
“Này
A-nan, cũng như lửa dậy từ bụi lau, bụi cỏ, cháy luôn cả
lầu các, điện đường. Này A-nan, cũng vậy, những ai có
sợ hãi, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ
trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng
đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này
A-nan, trong quá khứ, nếu những ai có sợ hãi, tất cả chúng
đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Nếu những
ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si
mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này
A-nan, trong thời vị lai, nếu những ai có sợ hãi, tất cả
chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Nếu
những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ
ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
“Này
A-nan, trong thời hiện tại, những ai có sợ hãi, tất cả
chúng đều từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những
ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si
mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.“Này
A-nan, đó gọi là, ngu si có sợ hãi, trí tuệ không sợ hãi;
ngu si có vấp ngã, tai hoạn, ưu não; trí tuệ không có vướng
tai hoạn, ưu não.
“Này
A-nan, những ai có sợ hãi, vướng tai hoạn, ưu não, tất cả
chúng có thể tìm thấy nơi ngu si chứ không phải nơi trí
tuệ.
Lúc
bấy giờ, Tôn giả A-nan buồn rầu, khóc lóc, nước mắt chảy,
chấp tay hướng về Đức Phật, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo ngu si, không phải trí tuệ?”
Thế
Tôn đáp rằng:
“Này
A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào không biết giới, không biết xứ,
không biết nhân duyên, không biết thị xứ phi xứ.
A-nan, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải trí tuệ.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là ngu si, không phải là trí tuệ.
Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo trí tuệ, không phải
ngu si?”
Thế
Tôn đáp rằng:
“A-nan,
nếu Tỳ-kheo nào biết giới, biết xứ, biết nhân duyên, biết
thị xứ phi xứ; A-nan, Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không
phải ngu si”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo như vậy là trí tuệ, không phải ngu si.
Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo biết giới?”
Thế
Tôn nói:
“Này
A-nan, nếu Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười
tám giới: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới,
thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức
giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới,
xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.
A-nan, thấy và biết như thật về mười tám giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: địa giới,
thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: dục giới,
nhuế giới, hại giới, vô dục giới, vô nhuế giới, vô hại
giới. A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về sáu giới: lạc giới,
khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới. A-nan,
thấy và biết như thật về sáu giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về bốn giới: thọ giới,
tưởng giới, hành giới, thức giới. A-nan, thấy và biết
như thật về bốn giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: dục giới,
sắc giới, vô sắc giới. A-nan, thấy và biết như thật về
ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: sắc giới,
vô sắc giới, diệt giới. A-nan, thấy và biết như thật về
ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: quá khứ
giới, vị lai giới, hiện tại giới. A-nan, thấy và biết
như thật về ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: diệu giới,
bất diệu giới, trung giới. A-nan, thấy và biết như thật
về ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: thiện giới,
bất thiện giới, vô ký giới. A-nan, thấy và biết như thật
về ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về ba giới: học giới,
vô học giới, phi học vô học giới. A-nan, thấy và biết
như thật về ba giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về hai giới: hữu lậu
giới, vô lậu giới. A-nan, thấy và biết như thật về hai
giới này.
“Lại
nữa, A-nan, thấy và biết như thật về: hữu vi giới, vô
vi giới. A-nan, thấy và biết như thật về hai giới này.
“Này
A-nan, thấy và biết như thật về sáu mươi hai giới này.
A-nan, Tỳ-kheo thấy và biết như thật về giới như vậy”.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo biết giới như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn,
thế nào là Tỳ-kheo biết xứ?”
Thế
Tôn đáp:
“Nếu
Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười hai xứ: nhãn
xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt
xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ. A-nan, thấy
và biết như thật về mười hai xứ này. Này A-nan, Tỳ-kheo
biết xứ như vậy.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Tỳ-kheo
biết xứ như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo
biết nhân duyên?”
Thế
Tôn đáp:
“Nếu
Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về nhân duyên và pháp
khởi từ nhân duyên, rằng ‘Nhân cái này có, cái kia có;
cái này không, cái kia không. Cái này sanh, cái kia sanh; cái
này diệt cho nên cái kia diệt’. Tức là duyên vô minh có
hành..., cho đến duyên sanh có già, chết. Nếu vô minh diệt
thì hành diệt, cho đến sanh diệt thì già, chết diệt. A-nan,
Tỳ-kheo biết nhân duyên như vậy.
Tôn
giả A-nan bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo biết nhân duyên như vậy. Nhưng, bạch Thế
Tôn, thế nào là Tỳ-kheo biết thị xứ phi xứ?”
Thế
Tôn đáp:
“Nếu
Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về xứ là xứ, phi xứ
là phi xứ. Này A-nan, nếu trong đời có hai vị Chuyển luân
vương cùng cai trị, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu
trong đời có một Chuyển luân vương cai trị, trường hợp
này tất có.
“Này
A-nan, nếu trong đời có hai Đức Như Lai, trường hợp này
hoàn toàn không. Nếu trong đời này có một Đức Như Lai,
trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, nếu một người đã thấy đế lý
mà có ý sát hại cha mẹ, giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng,
ác tâm với Phật, làm Như Lai đổ máu, trường hợp này hoàn
toàn không có. Nếu một người phàm phu cố ý hại cha mẹ,
giết A-la-hán, phá hoại Thánh chúng, ác tâm với Phật, làm
Như Lai đổ máu, trường hợp này tất có xảy ra.
“A-nan,
nếu một người đã thấy đế lý mà cố tình phạm giới,
xả giới, bỏ đạo, trường hợp này hoàn toàn không có.
Nếu một người phàm phu cố ý phạm giới, xả giới, bỏ
đạo, trường hợp này tất có.
“Nếu
có một người đã thấy đế lý mà xả ly nội đạo này,
tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền ở đó, trường
hợp này hoàn toàn không có. Nếu một người phàm phu xả
ly nội đạo này, tôn thờ ngoại đạo, mong cầu phước điền
ở đó, trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, nếu một người đã thấy đế lý mà theo các Sa-môn,
Phạm chí khác nói như vầy: ‘Các ngài thấy điều đáng
thấy, biết điều đáng biết’, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu người phàm phu theo các Sa-môn, Phạm chí khác,
nói rằng: ‘Các ngài thấy điều đáng thấy, biết điều
đáng biết’, trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, nếu người đã thấy đế lý mà còn tin bói toán, hỏi
cát hung, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu người
phàm phu tin bói toán, hỏi cát hung, trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, nếu người đã thấy đế lý theo các Sa-môn, Phạm chí
khác mà bói toán, hỏi cát hung, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu người phàm phu theo các Sa-môn, Phạm chí khác
mà bói toán, hỏi cát hung, trường hợp này tất có.
“A-nan,
nếu ngườøi thấy đế lý mà phát sanh sự cực khổ, rất
khổ, trọng đại khổ, không thể ái, không thể lạc, không
thể tư, không thể niệm, cho đến đoạn mạng, bèn xả ly
nội đạo này, cầu cứu ở ngoại đạo. Hoặc có Sa-môn,
Phạm chí trì một câu, hai câu, ba câu, bốn câu, nhiều câu,
trăm ngàn câu, ‘Mong giải trừ sự khổ cho tôi’, đó là
đi tìm sự khổ, tập khởi sự khổ, dẫn đến sự khổ mà
nói là dứt khổ, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu
một người phàm phu xả ly nội đạo này mà cầu cứu ngoại
đạo, hoặc có Sa-môn, Phạm chí trì chú một câu, hai câu,
ba câu, bốn câu, nhiều câu, trăm ngàn câu, ‘Mong giải trừ
sự khổ cho tôi’, đó là đi tìm sự khổ, tập khởi sự
khổ, dẫn đến sự khổ, mà nói là dứt khổ, trường hợp
này tất có.
“A-nan,
nếu người thấy đế lý mà tái sanh lần thứ tám, trường
hợp này hoàn toàn không có. Nếu một người phàm phu tái
sanh lần thứ tám, trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, nếu ai có thân ác hành, khẩu và ý ác hành, do duyên
này thân hoại mạng chung đi đến thiện xứ, sanh lên cõi
trời, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân
ác hành, khẩu và ý ác hành, do duyên này thân hoại mạng
chung đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục, trường hợp này
tất có.
“A-nan,
nếu ai có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành, do duyên
này thân hoại mạng chung đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục,
trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân diệu
hành, khẩu và ý diệu hành, do duyên này thân hoại mạng chung
đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, trường hợp này tất
có.
“A-nan,
nếu ai có thân ác hành, khẩu và ý ác hành mà thọ lạc báo,
trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân ác hành,
khẩu và ý ác hành mà thọ khổ báo, trường hợp này tất
có.
“A-nan,
nếu ai có thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ khổ
báo, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu ai có thân diệu
hành, khẩu và ý diệu hành mà thọ lạc báo, trường hợp
này tất có.
“Này
A-nan, nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm
tâm ô uế, tuệ yếu kém, mà tâm có thể an trụ vững vàng
trên bốn niệm xứ, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu
ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ
yếu kém mà tâm an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, trường
hợp này tất có.
“A-nan,
nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm
ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững vàng trên bốn
niệm xứ mà muốn tu bảy giác chi, trường hợp này hoàn toàn
không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm
tâm ô uế, tuệ yếu kém, tâm an trụ vững vàng trên bốn
niệm xứ mà tu bảy giác ý, trường hợp này tất có.
“A-nan,
nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm
ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững vàng trên bốn
niệm xứ, không tu bảy giác ý mà muốn chứng đắc Vô thượng
chánh đẳng giác, trường hợp này hoàn toàn không có. Nếu
ai đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ
yếu kém, an trụ vững vàng trên bốn niệm xứ, tu bảy giác
ý, chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác, trường hợp
này tất có.
“A-nan,
nếu ai không đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm
ô uế, tuệ yếu kém, tâm không an trụ vững vàng trên bốn
niệm xứ, không tu bảy giác ý, không chứng đắc Vô thượng
chánh đẳng giác mà đạt đến khổ biên, trường hợp này
hoàn toàn không có. Nếu ai đoạn trừ năm triền cái, những
thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, an trụ vững vàng trên
bốn niệm xứ, tu bảy giác ý, chứng đắc Vô thượng chánh
đẳng giác, đạt đến khổ biên, trường hợp này tất có.
“Này
A-nan, Tỳ-kheo biết thị xứ, phi xứ như vậy”.
Lúc
bấy giờ Tôn giả A-nan chấp tay hướng về Đức Phật bạch:
“Bạch
Thế Tôn, kinh này tên gọi là gì? Nên phụng trì như thế
nào?”
Thế
Tôn đáp:
“Này
A-nan, hãy thọ trì pháp này, là đa giới, pháp giới, cam lộ
giới, đa cổ, pháp cổ, cam lộ cổ, là pháp kính, là tứ
phẩm.
Do đó kinh này được gọi là Đa Giới”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Tương
đương Pāli, M.115 Bahudhātuka-sutta. Đối chiếu Pháp Uẩn 10
(No.1537, Đại 26 trang 501b - 505a).
Bản
Hán này và Pháp Uẩn tương đương. Bản Pāli, đây là lời
Phật nói với các Tỳ-kheo.