180.
KINH CÙ-ĐÀM-DI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Thích-ki-sấu, ở tại Gia-bệ-la-vệ,
trong vườn Ni-câu-loại.
Bấy
giờ, Ma-ha Bá-la-xà-bát-đề Cù-đàm-di
đem một chiếc y mới sắc vàng, dệt bằng kim tuyến, đến
chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, ngồi
xuống một bên rồi thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, chiếc y mới sắc vàng dệt bằng kim tuyến này,
tôi tự cắt may cho Thế Tôn. Mong Thế Tôn thương xót tôi
mà thâu nạp cho.
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Cù-đàm-di, hãy đem y này dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo. Dâng
cúng cho chúng Tỳ-kheo tức là đã cúng dường Ta, cũng như
đã cúng dường đại chúng.
Lần
thứ hai, rồi lần thứ ba. Đại Sanh Chủ
Cù-đàm-di vẫn thưa:
“Bạch
Thế Tôn, chiếc y mới sắc vàng dệt bằng kim tuyến này,
tôi tự cắt may cho Thế Tôn. Mong Thế Tôn thương xót tôi
mà thâu nạp cho.
Lần
thứ hai, rồi lần thứ ba, Đức Thế Tôn cũng vẫn nói:
“Này
Cù-đàm-di, hãy đem y này dâng cúng cho chúng Tỳ-kheo. Dâng
cúng cho chúng Tỳ-kheo tức là đã cúng dường Ta, cũng như
đã cúng dường đại chúng.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan đứng phía sau Đức Thế Tôn, cầm quạt
hầu Phật, liền thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, đại Sanh Chủ Cù-đàm-di đã đem lại cho Thế Tôn
nhiều lợi ích, đã bảo dưỡng Thế Tôn sau khi thân mẫu
Thế Tôn qua đời”.
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
A-nan, thật sự như vậy. Này A-nan, thật sự như vậy. Đại
Sanh Chủ Cù-đàm-di đã đem lại cho Ta nhiều lợi ích, đã
bảo dưỡng Ta sau khi thân mẫu Ta qua đời. Nhưng này A-nan,
ta cũng đem lại cho Đại Sanh Chủ Cù-đàm-di nhiều lợi ích.
Vì sao vậy? Đại Sanh Chủ Cù-đàm-di nhờ Ta mà được quy
y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo, thành tựu tín, giới, đa văn, bố
thí, trí tuệ, xa lìa nghiệp sát, đoạn trừ nghiệp sát, không
cho mà lấy, tà dâm, nói dối, xa lìa nghiệp uống rượu, đoạn
trừ nghiệp uống rượu. A-nan, nếu có người nhờ ngưới
mà được quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ
ba ngôi tôn quý, không nghi ngờ Khổ, Tập, Diệt, Đạo, thành
tựu tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, xa lìa nghiệp sát,
đoạn trừ nghiệp sát, không cho mà lấy, tà dâm, nói dối,
xa lìa nghiệp uống rượu, đoạn trừ nghiệp uống rượu,
thì người này cúng dường lại người kia, dù cho đến suốt
đời, uống ăn, áo chăn, giường chõng, thuốc thang và đủ
các thứ vật dụng cho đời sống, vẫn chưa thể đền ơn.
“Lại
nữa, này A-nan, có bảy loại bố thí cho Tăng chúng, và có
mười loại bố thí riêng cho từng người, sẽ được đại
phước, được đại quả, được đại công đức, được
quả báo rộng lớn.
“Này
A-nan, thế nào gọi là bảy loại bố thí cho Tăng chúng sẽ
đượïc đại phước, được đại quả, được đại công
đức, được quả báo rộng lớn?
“Thiện
nam tử hay thiện nữ nhân có tín tâm
khi Phật còn tại thế, Phật là vị đứng đầu, mà bố thí
cho Phật và chúng Tỳ-kheo, như vậy gọi là loại bố thí
thứ nhất cho Tăng chúng sẽ được đại phước, được đại
quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn.
“Thiện
nam tử hay thiện nữ nhân có tín tâm, sau khi Thế Tôn nhập
Niết-bàn không lâu, bố thí cho cả hai bộ chúng, bố thí
cho chúng Tỳ-kheo, bố thí cho chúng Tỳ-kheo-ni; đi vào tinh
xá Tỳ-kheo bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở đây
cử ra một số Tỳ-kheo để chúng con được bố thí’; đi
vào tinh xá Tỳ-kheo-ni bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng
ở đây cử ra một số Tỳ-kheo-ni để chúng con được bố
thí’. Như vậy gọi là loại bố thí thứ năm cho Tăng chúng,
sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công
đức, được quả báo rộng lớn.
“Này
A-nan, trong thời tương lai, có Tỳ-kheo thuộc loại danh tánh,
khoác áo cà-sa mà không tinh tấn, vị ấy đã không tinh tấn,
không tinh cần mà vẫn được bố thí vì có ở trong chúng,
duyên nơi chúng, ở trên chúng, nhân nơi chúng, Ta nói lúc bấy
giờ thí chủ sẽ được phước vô lượng không thể đếm,
không thể kể, được thiện, được lạc; huống nữa là
bố thí cho Tỳ-kheo thành tựu hành sự,
thành tựu trừ sự,
thành tựu cả hành sự và trừ sự, thành tựu chất trực,
thành tựu nhu nhuyến, thành tựu cả chất trực và nhu nhuyến,
thành tựu nhẫn, thành tựu lạc, thành tựu cả nhẫn và lạc,
thành tựu tương ưng, thành tựu kinh kỹ, thành tựu cả tương
ưng và kinh kỹ, thành tựu oai nghi, thành tựu hành lai du,
thành tựu cả oai nghi và hành lai du,
thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu đa văn, thành tựu
thí, thành tựu tuệ, thành tựu cả tín, giới, đa văn, thí,
tuệ. Như vậy gọi là loại bố thí thứ bảy cho Tăng chúng,
sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công
đức, được quả báo rộng lớn.
“Đó
gọi là bảy loại bố thí cho Tăng chúng sẽ được đại
phước, được đại quả, được đại công đức, được
quả báo rộng lớn.
“Này
A-nan, thế nào gọi là mười bốn loại bố thí riêng cho từng
người sẽ được đại phước, được đại quả, được
đại công đức, quả báo rộng lớn?
“Thiện
nam tử hay thiện nữ có tín nhân bố thí cho Đức Như Lai,
bố thí cho Duyên giác, bố thí cho A-la-hán, bố thí cho A-la-hán
hướng, bố thí cho A-na-hàm, bố thí cho A-na-hàm hướng, bố
thí cho Tư-đà-hàm, bố thí cho Tư-đà-hàm hướng, bố thí
cho Tu-đà-hoàn, bố thí cho Tu-đà-hoàn hướng, bố thí cho
Tiên nhân ngoại đạo ly dục, bố thí cho người tinh tấn,
bố thí cho người không tinh tấn, bố thí cho súc sanh.
“Này
A-nan, bố thí cho súc sanh được phước trăm lần hơn.
“Bố
thí cho người không tinh tấn được phước ngàn lần hơn.
“Bố
thí cho người tinh tấn được phước trăm ngàn lần hơn.
“Bố
thí cho Tiên nhân ngoại đạo ly dục được phước ức trăm
ngàn lần hơn.
“Bố
thí cho vị Tu-đà-hoàn hướng được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị đắc Tu-đà-hoàn được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị Tư-đà-hàm hướng được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị đắc Tư-đà-hàm được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị A-na-hàm hướng được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị đắc a-na-hàm được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị A-la-hán hướng được phước vô lượng.
“Bố
thí cho vị đắc A-la-hán được phước vô lượng.
“Huống
nữa là bố thí cho Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác.
“Đây
là mười bốn loại bố thí riêng cho từng người, sẽ được
đại phước, được đại quả, được đại công đức, được
đại quảng báo.
“Lại
nữa, này A-nan, có bốn loại bố thí và chỉ ba loại được
thanh tịnh.
“Những
gì là bốn? Có loại bố thí do thí chủ thanh tịnh, không
phải do người thọ nhận. Có loại bố thí do người thọ
nhận thanh tịnh, chứ không phải do thí chủ. Có loại bố
thí không phải do thí chủ thanh tịnh, cũng không phải do người
thọ nhận. Có loại
bố thí do thí chủ thanh tịnh và người thọ nhận cũng vậy.
“Này
A-nan, thế nào gọi là loại bố thí do thí chủ thanh tịnh,
không phải do người thọ nhận? Là thí chủ thì tinh tấn,
tu hành diệu pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo.
Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Có sự bố thí,
có quả báo của sự bố thí’. Còn người thọ nhận thì
không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy có đời sau, không
thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng
‘Không có sự bố thí, không có quả báo của sự bố thí’.
Như vậy gọi là loại bố thí do thí chủ thanh tịnh, không
phải do người thọ nhậïn.
“Này
A-nan, thế nào gọi là loại bố thí do người thọ nhận thanh
tịnh, không phải do thí chủ? Là thí chủ thì không tinh tấn,
tu hành ác pháp, không thấy có đời sau, không thấy có quả
báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Không có sự
bố thí, không có quả báo của sự bố thí’. Còn người
thọ nhận thì tinh tấn, tu hành diệu pháp, thấy có đời
sau, thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy,
rằng ‘Có sự bố thí, có quả báo của sự bố thí’. Như
vậy gọi là loại bố thí do người thọ nhận thanh tịnh,
không phải do thí chủ.
“Này
A-nan, thế nào gọi là loại bố thí không phải do thí chủ
thanh tịnh, cũng không phải do người thọ nhận? Là thí chủ
thì không tinh tấn, tu hành ác pháp, không thấy có đời sau,
không thấy có quả báo. Do thấy như vậy nên nói như vậy,
rằng ‘Không có sự bố thí, không có quả báo của sự bố
thí’. Và người thọ nhận cũng không tinh tấn, tu hành ác
pháp, không thấy có đời sau, không thấy có quả báo. Do thấy
như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Không có sự bố thí, không
có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là loại bố
thí không phải do thí chủ thanh tịnh, cũng không phải do người
thọ nhận.
“Này
A-nan, thế nào gọi là loại bố thí do thí chủ thanh tịnh
và người thọ nhận cũng vậy? Là thí chủ thì tinh tấn,
tu hành diệu pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo. Do
thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Có sự bố thí, có
quả báo của sự bố thí’. Và người thọ nhận cũng tinh
tấn, tu hành diệu pháp, thấy có đời sau, thấy có quả báo.
Do thấy như vậy nên nói như vậy, rằng ‘Có sự bố thí,
có quả báo của sự bố thí’. Như vậy gọi là loại bố
thí do thí chủ thanh tịnh và người thọ nhận cũng vậy.”
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ rằng:
Người
tinh tấn thí người không tinh tấn
Thí
đúng pháp được tâm hoan hỷ
Vì
tin có nghiệp và quả báo
Loại
thí này thí chủ thanh tịnh.
Không
tinh tấn thí người tinh tấn
Không
đúng pháp, không tâm hoan hỷ
Vì
không tin nghiệp và quả báo
Loại
thí này người nhận thanh tịnh.
Người
giải đãi thí không tinh tấn
Không
đúng pháp, không tâm hoan hỷ
Vì
không tin nghiệp và quả báo
Loại
thí này không được quảng báo
Người
tinh tấn thí người tinh tấn
Là
đúng pháp, được tâm hoan hỷ
Vì
tin có nghiệp và quả báo
Loại
thí này đạt được quảng báo.
Kẻ
nô tỳ và kẻ bần cùng
Hoan
hỷ tự mình làm bố thí
Vì
tin có nghiệp, có quả báo
Bố
thí như vậy thiên nhân khen.
Khéo
léo giữ gìn cả thân miệng
Đưa
tay cầu xin đúng Chánh pháp
Người
ly dục thí người ly dục
Đó
chính là tài thí đệ nhất.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Tương
đương Pāli, M.142 Dakkhiṇāvibhaṅga-sutta. Hán, biệt dịch,
No.84 Phật Thuyết Phân Biệt Bố Thí Kinh, Tống Thi Hộ dịch.
Thích-ki-sấu,
Ca-bệ-la-vệ, Ni-câu-loại thọ viên 釋羈瘦, 加鞞羅衛, 尼拘顃樹園.
Pāli: Sakkesu viharati Kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme, sống những
người họ Thích, trong tinh xá (vườn) Nigrodha, Ca-tì-la-vệ.
Ma-ha
Bá-la-xà-bát-đề Cù-đàm-di 摩訶簸邏闍鉢提瞿曇彌.
Thường đọc theo phiên âm là Ma-ha Ba-xà-ba-đề, dịch là
Đại Ái Đạo; đoạn dưới dịch là Đại Sanh Chủ. Xem kinh
116. Pāli: Mahā-Pajāpati Gotamī.
Trừ
sự, trong kinh 215, tám
thắng xứ được gọi là tám trừ xứ, nhưng ở đây trừ
sự có thể chỉ cho bốn thông hành (xem kinh số 215 ở sau).
Hành
lai du, tham khảo Pháp
Uẩn 3 (No.1537, Đại 26, trang 463 b), được gọi là Pháp
tùy, tức tám chi Thánh đạo. Chúng đệ tử của Phật
tùy thuận du lịch thiệp hành trong đó.
Mười
sự thành tựu trên đây, trừ những thành tựu: nhu nhuyến,
nhẫn và lạc, còn lại có thể so với những đức
tánh Tăng bảo thường được tán thán, mà theo văn của Tập
Dị và Pháp Uẩn như vầy: “Cụ túc diệu hành, chất trực
hành, pháp tùy pháp hành, hòa kỉnh hành, tùy pháp hành”.