179.
KINH NGŨ CHI VẬT CHỦ[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Ngũ Chi Vật chủ
vào buổi sáng sớm rời khỏi nước Xá-vệ, đi đến chỗ
Phật để cúng dường lễ bái. Ngũ Chi Vật chủ suy nghĩ:
“Dù có đến chỗ Đức Phật thì Đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo
vẫn còn đang thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn của
Dị học Nhất Sa-la Mạt-lị.”
Rồi
thì Ngũ Chi Vật chủ bèn ghé lại chỗ du hí hoan lạc gần
hàng cây Cân-đầu-a-lê,
đi đến khu vườn Dị học nhất sa-la mạt-lị.
Bấy
giờ, trong khu vườn Dị học nhất sa-la mạt-lị có một dị
học tên là Sa-môn Văn-kì Tử,
là đại tông chủ ở trong chúng đó, là tôn sư của nhiều
người, được nhiều người kính trọng, thống lãnh một
đại chúng gần năm trăm dị học sư. Ông đang ở giữa đám
đông ồn ào, lớn tiếng, âm thanh huyên náo, luận bàn đủ
mọi đề tài súc sanh,
như: bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn chuyện
đấu tranh, bàn chuyện ăn uống, bàn chuyện áo chăn, bàn chuyện
phụ nữ, bàn chuyện đàn bà, bàn chuyện con gái, bàn chuyện
dâm nữ, bàn chuyện thế gian, bàn chuyện tà đạo, bàn chuyện
trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập luận bàn đủ
mọi đề tài súc sanh.
Dị
học Sa-môn Văn-kì Tử trông thấy Ngũ Chi Vật chủ từ xa
đang đi đến, liền ra lệnh bảo chúng của mình im lặng,
rằng:
“Các
người hãy im lặng, đừng nói nữa. Hãy tự thu liễm. Có
đệ tử của Sa-môn Cù-đàm là Ngũ Chi Vật chủ sắp đến
đây. Trong số những đệ tử tại gia của Sa-môn Cù-đàm
ở nước Xá-vệ này không ai hơn được Ngũ Chi Vật chủ.
Vì sao vậy? Vì ông ấy ưa thích sự im lặng, ca ngợi sự
im lặng. Nếu ông ấy thấy hội chúng đây im lặng, có thể
sẽ đến thăm”.
Bấy
giờ, Dị học Sa-môn Văn-kì Tử bảo hội chúng im lặng rồi,
tự mình cũng im lặng.
Khi
ấy, Ngũ Chi Vật chủ đi đến chỗ Dị học Sa-môn Văn-kì
Tử, cùng nhau chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên. Dị học
Sa-môn Văn-kì Tử nói:
“Này
Vật chủ,
nếu có bốn sự, ta chủ trương rằng người ấy thành tựu
thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc
đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực. Những gì là bốn?
Là thân không tạo nghiệp ác, miệng không nói ác, không sống
bằng tà mạng và không suy niệm niệm ác. Này Vật chủ, nếu
có bốn sự này, ta chủ trương rằng người ấy thành tựu
thiện, đệ nhất thiện, bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc
đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực”.
Ngũ
Chi Vật chủ nghe Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói, không cho
là phải, không cho là trái, từ chỗ ngồi đứng dậy, bước
đi với ý niệm: “Với lời như vậy, ta phải đích thân
đi đến Thế Tôn thưa hỏi nghĩa này”. Rồi ông đi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi xuống mộït bên, đem
những điều đã bàn luận với Dị học Sa-môn Văn-kì Tử
thuật lại hết với Đức Phật.
Đức
Thế Tôn nghe xong, nói rằng:
“Này
Vật chủ, theo lời Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói, nếu quả
thật như vậy thì trẻ sơ sanh tay chân mềm yếu, nằm ngửa
mà ngủ, cũng sẽ thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc
Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất
trực. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về
thân, huống nữa là tạo nghiệp ác của thân. Nó chỉ có
thể cử động thân. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không
có tưởng về miệng, huống nữa là nói ác. Nó chỉ biết
khóc. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về niệm,
huống nữa là niệm ác duy chỉ biết bập bẹ.
Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về mạng,
huống nữa là sống tà mạng, duy chỉ suy niệm đến sữa
mẹ. Này Vật chủ, theo lời Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói,
như vậy thì trẻ sơ sanh cũng thành tựu thiện, đệ nhất
thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa,
là Sa-môn chất trực.
“Này
Vật chủ, nếu người nào có bốn sự, Ta chủ trương rằng
người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, nhưng không
phải là bậc Vô thượng sĩ, không thể chứng đắc đệ nhất
nghĩa, cũng không phải là Sa-môn chất trực.
“Những
gì là bốn? Là thân không tạo nghiệp ác, miệng không nói
ác, không sống tà mạng và không suy niệm niệm ác. Này Vật
chủ, nếu người nào có bốn sự, Ta chủ trương rằng người
ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, nhưng không phải là
bậc Vô thượng sĩ, không thể chứng đắc đệ nhất nghĩa,
cũng không phải là Sa-môn chất trực.
“Này
Vật chủ, thân nghiệp, khẩu nghiệp, ta chủ trương đó là
giới.
“Này
Vật chủ, niệm, Ta chủ trương đó là tâm sở hữu đi theo
với tâm.
“Này
Vật chủ, ta nói nên biết giới bất thiện. Nên biết giới
bất thiện phát sanh từ đâu? Nên biết giới bất thiện bị
diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không
còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm
thế nào để diệt trừ giới bất thiện.
“Này
Vật chủ, ta nói nên biết giới thiện. Nên biết giới thiện
phát sanh từ đâu? Nên biết giới thiện bị diệt không còn
dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ
nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm thế nào để diệt
trừ giới thiện.
“Này
Vật chủ, ta nói nên biết niệm bất thiện. Nên biết niệm
bất thiện phát sanh từ đâu? Nên biết niệm bất thiện bị
diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không
còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm
thế nào để diệt trừ niệm bất thiện.
“Này
Vật chủ, ta nói nên biết niệm thiện. Nên biết niệm thiện
phát sanh từ đâu? Nên biết niệm thiện bị diệt trừ không
còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở
chỗ nào. Nên biết Hiền Thánh làm thế nào để diệt trừ
niệm thiện.
“Này
Vật chủ, thế nào gọi là giới bất thiện?
“Thân
hành bất thiện, miệng, ý hành bất thiện. Đó gọi là giới
bất thiện.
“Này
Vật chủ, giới bất thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ
phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tâm. Thế nào
gọi là tâm? Nếu tâm có dục, có nhuế, có si, nên biết giới
bất thiện phát sanh từ tâm này.
“Này
Vật chủ, giới bất thiện bị diệt trừ, không còn dư tàn
ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào?
Đa văn Thánh đệ tử xả bỏ nghiệp bất thiện về thân,
tu tập nghiệp thiện về thân; xả bỏ nghiệp bất thiện
về miệng, ý, tu tập nghiệp thiện về miệng, ý. Đây là
giới bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại
hoại không còn dư tàn.
“Này
Vật chủ, đệ tử Hiền thánh làm thế nào diệt trừ giới
bất thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như
thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp. Như vậy là Hiền
thánh đệ tử đã diệt trừ giới bất thiện.
“Này
Vật chủ, thế nào gọi là giới thiện? Thân hành thiện,
miệng, ý hành thiện. Đó gọi là giới thiện.
“Này
Vật chủ, giới thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát
sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tâm. Thế nào gọi
là tâm? Nếu tâm không có dục, không có nhuế, không có si,
nên biết giới thiện phát sanh từ tâm này.
“Này
Vật chủ, giới thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở
chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nếu
Đa văn Thánh đệ tử hành trì giới mà không dính trước
nơi giới, đây là giới thiện bị diệt trừ không còn dư
tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.
“Này
Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ
giới thiệïn? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như
thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp. Như vậy là Hiền
thánh đệ tử đã diệt trừ giới thiện.
“Này
Vật chủ, thế nào gọi là niệm bất thiện? Suy niệm về
niệm dục, niệm nhuế, niệm hại. Đó gọi là niệm bất
thiện.
“Này
Vật chủ, niệm bất thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ
phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tưởng. Thế
nào gọi là tưởng? Ta nói hành trạng của tưởng có nhiều
loại, đa chủng, vô lượng chủng, hoặc dục tưởng, nhuế
tưởng, hại tưởng.
“Này
Vật chủ, chúng sanh do tưởng dục giới
mà sanh niệm bất thiện tương ưng với dục giới. Nếu có
tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm bất thiện
tương ưng với dục giới.
“Này
Vật chủ, chúng sanh do tưởng nhuế giới, hại giới cho nên
sanh niệm bất thiện tương ưng với nhuế và hại giới. Nếu
có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm bất
thiện tương ưng với nhuế, hại giới. Đó là niệm bất
thiện phát sanh từ tưởng này.
“Này
Vật chủ, niệm bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn
ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào?
Nếu Đa văn Thánh đệ tử ly dục, ly pháp ác bất thiện,
có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ
thiền, thành tựu và an trụ, đây là niệm bất thiện bị
diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.
“Này
Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ
niệm bất thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân
như thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp; như vậy
là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm bất thiện.
“Này
Vật chủ, thế nào gọi là niệm thiện? Suy niệm về niệm
vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại.
Đó gọi là niệm thiện.
“Này
Vật chủ, niệm này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát sanh
của chúng, nên biết là phát sanh từ tưởng. Thế nào gọi
là tưởng? Ta nói hành trạng của tưởng có nhiều loại,
đa chủng, vô lượng chủng, hoặc vô dục tưởng, vô nhuế
tưởng, vô hại tưởng.
Này
Vật chủ, chúng sanh do tưởng trong vô dục giới cho nên sanh
niệm thiện tương ưng với vô dục giới. Nếu có tưởng
thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm thiện, tương
ưng với vô dục giới.
“Này
Vật chủ, chúng sanh do tưởng trong vô nhuế, vô hại giới
cho nên sanh niệm thiện tương ưng với vô nhuế, vô hại giới.
Nếu có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm
thiện tương ưng với vô nhuế, vô hại giới. Đó là niệm
thiện phát sanh từ tưởng này.
“Này
Vật chủ, niệm thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở
chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào? Nếu
Đa văn Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ
vốn đã có, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng
đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ, đây là niệm
thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không
còn dư tàn.
“Này
Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ
niệm thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như
thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp, như vậy là Hiền
thánh đệ tử đã diệt trừ niệm thiện.
“Này
Vật chủ, nếu Đa văn Thánh đệ tử do tuệ quán sát biết
đúng như thật giới bất thiện, biết đúng như thật giới
bất thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật giới bất
thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại
không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật
như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới bất
thiện.
“Do
tuệ mà quán sát biết đúng như thật giới thiện, biết đúng
như thật giới thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật
giới thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại
hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như
thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới
thiện.
“Do
tuệ mà quán sát biết đúng như thật niệm bất thiện, biết
đúng như thật niệm bất thiện phát sanh từ đâu, biết đúng
như thật niệm bất thiện này đã bị diệt trừ không còn
dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát
biết đúng như thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã
diệt trừ niệm bất thiện.
“Do
tuệ mà quán sát biết đúng như thật niệm thiện, biết đúng
như thật niệm thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật
niệm thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại
hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như
thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm
thiện.
“Vì
sao vậy? Vì nhân chánh kiến nên sanh chánh chí,
nhân chánh chí nên sanh chánh ngữ, nhân chánh ngữ nên sanh
chánh nghiệp, nhân chánh nghiệp nên sanh chánh mạng, nhân chánh
mạng nên sanh chánh phương tiện,
nhân chánh phương tiện nên sanh chánh niệm, nhân chánh niệm
nên sanh chánh định. Hiền thánh đệ tử đã định tâm như
vậy rồi, liền giải thoát tất cả dâm, nộ, si.
“Này
Vật chủ, Hiền thánh đệ tử đã chánh tâm giải thoát như
vậy rồi, liền biết đúng như thật rằng ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không
còn tái sanh nữa’. Đó gọi là học kiến đạo
thành tựu tám chi, và A-la-hán lậu tận đã thành tựu mười
chi.
“Này
Vật chủ, thế nào gọi là học kiến đạo thành tựu tám
chi? Đó là học chánh kiến cho đến chánh định. Như vậy
gọi là học kiến đạo thành tựu tám chi.
“Thế
nào gọi là A-la-hán lậu tận thành tựu mười chi? Đó là
vô học chánh kiến cho đến vô học chánh trí.
Như vậy gọi là A-la-hán lậu tận thành tựu mười chi.
“Này
Vật chủ, nếu người nào có mười chi, Ta chủ trương rằng
người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô
thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực”.
Phật
thuyết như vậy. Ngũ Chi Vật chủ và các Tỳ-kheo sau khi nghe
Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nhất
sa-la mạt-lị dị học viên 一娑邏未利異學園;
Pāli: yena samayappavādo tindukāciro ekasālako Mallikāya aeāmo tena…,
đi đến khu vườn Mallika, tại nhà hội Ekasālaka có hàng cây
tinduka bao quanh (xem chú thích 5 ở dưới).
Mallikārāma,
là một khu rừng để thưởng ngoạn ở trong thành Sāvatthi
của hoàng hậu Mallikā (Mạt-lị phu nhân). Tại đây, trước
tiên chỉ có một ngôi nhà độc nhất, nhưng sau được du
sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda dựng lên nhiều cái nữa, do đó
được gọi là Ekasālaka (Hán: Nhất sa-la); với hàng
rào bằng cây Tinduka (tên khoa học: Diospyros embryopters) nên
cũng được gọi là Tindukācirā ( Hán: cân-đầu-a-lê).
Khu vườn cũng được gọi là Samayappavālaka, một hội trường
để tranh luận các vấn đề tà chánh.
Sa-môn
Văn-kì Tử 娑門文祁子.
Pāli: Samaṇamaṇḍikāputta, con trai của Samaṇamaṇḍikā,
tên thật là Uggāhamana.
Súc
sanh luận 畜生論.
Pāli: tiracchāna-kathā, luận bàn phiếm, vô ích. Đoạn kế
kể các đề tài được nói là Súc sanh luận.
Dục
giới tưởng; đây không chỉ cho giới hệ hay cõi, mà là giới
loại. Đoạn kinh này đề cập ba bất thiện giới: dục
giới, sân giới, hại giới (Pāli: tisso akisala-dhātuyo, kāma-dhātu,
vyāpāda-dhātu, vihiṃsa-dhātu). Xem Pháp Uẩn Túc Luận 11 (No.1537,
Đại 26, trang 503c).
Tám
vô học chi của Thánh đạo, thứ 9 vô học chánh giải thoát
và 10 vô học chánh trí (xem giải thích Tập dị 20 Đại
26, trang 452 c).