178.
KINH LẠP SƯ[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại thành Vương xá, trong rừng Trúc
lâm, vườn Ca-lan-đà.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Người
thợ săn khi bẫy mồi nai, không có tâm như vầy ‘Mong cho
nai được béo mập, được tốt đẹp, được sức lực, được
sung sướng, sống lâu’. Nhưng người thợ săn bẫy mồi nai
với tâm như vầy ‘Bẫy mồi là chỉ muốn chúng đến gần
để ăn; đã đến gần để ăn thì sẽ kiêu loạn phóng dật,
mà đã kiêu sa phóng dật thì sẽ tùy thuộc thợ săn và quyến
thuộc thợ săn’. Người thợ ăn bẫy mồi nai với tâm như
vậy.
“Đàn
nai thứ nhất đến gần đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng
đến gần để ăn, bèn sanh kiêu sa phóng dật rồi do kiêu
loạn phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi
cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn
nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đã đến gần
để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để
ăn, bèn sanh kiêu loạn phóng dật, rồi do kiêu sa phóng dật
nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như
vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới thợ
săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta đừøng ăn đồ ăn của
thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương nơi rừng vắng an
toàn,
ăn cỏ uống nước được chăng?’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai
thứ hai liền bỏ mặc đồ mồi của thợ săn, tránh xa chỗ
đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước.
Đến tháng cuối mùa Xuân,
cỏ nước đều hết, thân thể chúng rất gầy ốm, khí lực
hao mòn và rồi lại bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn.
“Như
vậy là đàn nai thứ hai cũng không thoát khỏi cảnh giới
của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn
nai thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất và thứ
hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy tránh xa thợ săn và quyến
thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không xa, sau đó hãy ăn
đồ ăn của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không
đến gần thì không kiêu sa phóng dật. Do không kiêu loạn
phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn’. Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ ba liền tránh xa thợ
săn và quyến thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không xa. Sau
đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Ăn mà
không đến gần nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không
kiêu sa phóng dật nên không tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn.
“Người
thợ săn và quyến thuộc thợ săn nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ
ba này khôn lanh kỳ lạ! Quả thật, rất khôn lanh! Vì sao?
Vì chúng ăn đồ ăn của ta mà ta không thể bắt được. Nay
ta hãy bủa vòng lưới chạy dài. Sau khi bủa lưới chạy dài
chắc sẽ biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn
nai thứ ba này’. Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc
thợ săn liền bủa vòng lưới chạy dài và sau đó biết được
chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba. Như vậy, đàn
nai thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn
nai thứ tư lại suy nghĩ, ‘Đàn nai thứ nhất, thứ hai và
thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ
săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy nương ở một nơi
mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không đến được. Sau
đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà đừng đến gần. Đã
ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật. Do không
kiêu sa phóng dật, sẽ không bị tùy thuộc thợ săn và quyến
thuộc thợ săn’. Sau
khi suy nghĩ, đàn nai thứ tư liền nương ở một nơi mà thợ
săn và quyến thuộc thợ săn không thể đến được, sau đó
ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà
không đến gần nên không kiêu sa phóng dật, rồi do không
kiêu sa phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và quyến
thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn
lại suy nghĩ rằng: “Đàn nai thứ tư này ranh mãnh xảo trá
kỳ lạ! Quả thật ranh mãnh xảo trá, nếu ta xua đuổi chúng,
chắc chắn không thể được, vì những nai con khác sẽ kinh
sợ bỏ chạy tán loạn. Vậy ta hãy cứ bỏ mặc đàn nai thứ
tư này’. Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn
liền bỏ mặc.
“Như
vậy là đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn.
“Này
Tỳ-kheo, ta nói thí dụ này là muốn các giải rõ ý nghĩa.
Nay Ta nói đây, các ngươi hãy quán sát nghĩa lý:
“Đồ
mồi của thợ săn, nên biết, đó là năm công đức của dục:
mắt biết sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm
vị, thân xúc chạm. Đồ mồi của thợ săn, nên biết, đó
là năm niệm công đức của dục. Người thợ săn, nên biết,
đó chính là Ác ma vương. Quyến thuộc của thợ săn, nên
biết, đó chính là quyến thuộc của Ma vương. Đàn nai, nên
biết đó chính là Sa-môn, Phạm chí vậy.
“Sa-môn,
Phạm chí thứ nhất đến gần ăn đồ mồi của Ma vương,
là ăn của tín thí thế gian. Những vị ấy sau khi đến gần
đồ ăn bèn sanh kiêu loạn phóng dật. Rồi do kiêu loạn phóng
dật nên bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương.
Như vậy là Sa-môn, Phạm chí thứ nhất không thoát khỏi cảnh
giới của Ma vương và quyến thuộc của Ma vương.
“Ví
như đàn nai thứ nhất đến gần để ăn đồ mồi của thợ
săn. Sau khi chúng đến gần để ăn bèn sanh kiêu loạn phóng
dật, rồi do kiêu sa phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn
và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không
thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ
săn. Các ngươi hãy quán sát các Sa-môn, Phạm chí kia cũng
giống như vậy.
“Sa-môn,
Phạm chí thứ hai lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Phạm chí thứ
nhất đến gần ăn đồ mồi của Ma vương, là ăn của tín
thí thế gian. Những vị ấy sau khi đến gần đồ ăn bèn
sanh kiêu loạn phóng dật. Rồi do kiêu sa phóng dật nên bị
tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là
Sa-môn, Phạm chí thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của
Ma vương và quyến thuộc của Ma vương. Nay ta hãy từ bỏ
đồ mồi của tín thí thế gian, tránh xa chỗ đáng sợ, nương
ở nơi rừng vắng an toàn, chỉ ăn trái cây và rễ cây’.
Sau khi suy nghĩ, Sa-môn, Phạm chí thứ hai liền từ bỏ đồ
ăn của tín thí thế gian, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở
nơi rừng vắng an toàn, chỉ ăn trái cây và rễ cây. Đến
tháng cuối Xuân, trái cây và rễ cây đều hết, thân thể
những vị ấy rất gầy ốm, khí lực hao mòn, nên tâm giải
thoát, tuệ giải thoát cũng hao mòn. Và tâm giải thoát, tuệ
giải thoát đã hao mòn nên trở lại bị tùy thuộïc Ma vương
và quyến thuộc của Ma vương. Như vậy là Sa-môn, Phạm chí
thứ hai cũng không thoát khỏi cảnh giới của Ma vương và
quyến thuộc của Ma vương.
“Ví
như đàn nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đến
gần để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần
để ăn bèn sanh kiêu sa phóng dật, rồi do kiêu sa phóng dật
nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như
vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của
thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy từ bỏ đồ
mồi của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng
vắng an toàn, ăn cỏ uống nước được chăng? Sau khi suy nghĩ,
đàn nai thứ hai liền từ bỏ đồ mồi của thợ săn, tránh
xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ
uống nước. Đến tháng cuối Xuân, cỏ nước đều hết,
thân thể chúng rất gầy ốm, khí lực hao mòn, và rồi lại
bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy
là đàn nai thứ hai không thoát khỏi cảnh giới của thợ
săn và quyến thuộc thợ săn. Các ngươi hãy quán sát Sa-môn,
Phạm chí thứ hai kia cũng giống như vậy.
“Sa-môn,
Phạm chí thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Phạm chí thứ
nhất và thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới
của Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Nay ta hãy tránh xa
Ma vương và quyến thuộc Ma vương, nương ở một nơi không
xa, sau đó hãy ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà đừng
đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không bị tùy thuộc
Ma vương và quyến thuộc Ma vương’. Sau khi suy nghĩ, Sa-môn,
Phạm chí thứ ba liền tránh xa Ma vương và quyến thuộc Ma
vương, nương ở một nơi không xa, sau đó ăn đồ mồi của
thế gian tín thí mà không đến gần. Đã ăn mà không đến
gần, nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu sa
phóng dật nên không bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc
Ma vương, nhưng còn chấp thủ hai kiếân chấp, hữu kiến
và vô kiến. Những vị ấy do chấp thủ hai kiến chấp này
nên rồi cũng bị tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương.
Như vậy là Sa-môn, Phạm chí thứ ba cũng không thoát khỏi
cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc Ma vương.
“Ví
như đàn nai thứ ba lại suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất
và đàn nai thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh
giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Nay ta hãy tránh
xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nương ở một nơi không
xa, sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà không đến gần.
Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng dật,
không kiêu sa phóng dâït thì không bị tùy thuộc thợ săn
và quyến thuộc thợ săn’. Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ ba
liền tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nương ở
một nơi không xa, sau đó ăn đồ mồi của thợ săn mà không
đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không ỷ thị, phóng
dật, rồi do không ỷ thị phóng dật nên không bị tùy thuộc
thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến
thuộc thợ săn suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ ba này khôn lanh
kỳ lạ! Quả thật rất khôn lanh. Vì sao vậy? Vì chúng ăn
đồ mồi của ta mà không thể bắt được. Nay ta hãy bủa
vòng lưới chạy dài. Sau khi bủa vòng lưới chạy dài, chắc
sẽ biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ
ba này’. Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn
liền bủa vòng lưới chạy dài và sau đó biết được chỗ
ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba. Như vậy là đàn
nai thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn. Chỗ ở, nên biết đó chính là
hữu kiến. Đường lui tới, nên biết đó chính là vô kiến.
Các ngươi hãy quán sát Sa-môn, Phạm chí thứ ba cũng giống
như vậy.
“Sa-môn,
Phạm chí thứ tư lại suy nghĩ rằng, ‘Sa-môn, Phạm chí thứ
nhất, thứ hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi
cảnh giới của Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Nay ta hãy
nương ở một nơi mà Ma vương và quyến thuộc Ma vương không
thể đến được, sau đó hãy ăn đồ mồi của thế gian tín
thí mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì không
kiêu loạn phóng dật, không kiêu sa phóng dật thì không bị
tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc của Ma vương’. Sau khi
suy nghĩ, Sa-môn Phạm chí thứ tư này liền nương ở một
nơi mà Ma vương và quyến thuộc Ma vương không thể đến
được, sau đó ăn đồ mồi của thế gian tín thí mà không
đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không kiêu loạn
phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên không bị
tùy thuộc Ma vương và quyến thuộc Ma vương. Như vậy là
Sa-môn, Phạm chí thứ tư thoát khỏi cảnh giới của Ma vương
và quyến thuộc của Ma vương.
“Cũng
như đàn nai thứ tư lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất,
thứ hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới
của thợ săn và quyến thuộc của thợ săn. Nay ta hãy nương
ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không đến
được, sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà đừng đến
gần. Đã ăn mà không đến gần thì không kiêu loạn phóng
dật, không kiêu sa phóng dật thì không bị tùy thuộc thợ
săn và quyến thuộc thợ săn’. Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ
tư liền nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ
săn không thể đến được, sau đó ăn đồ mồi của thợ
săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không
kiêu loạn phóng dật, rồi do không kiêu loạn phóng dật nên
không bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Người
thợ săn và quyến thuộc thợ săn lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn
nai thứ tư này khôn lanh xảo quyệt kỳ lạ! Quả thật rất
khôn lanh xảo quyệt, nếu ta xua đuổi chúng, chắc chắn không
thể được vì những con nai khác sẽ kinh sợ bỏ chạy tán
loạn. Vậy ta hãy bỏ mặc đàn nai thứ tư này’. Sau khi suy
nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bỏ mặc. Như
vậy là đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của thợ săn
và quyến thuộc thợ săn. Các ngươi hãy quán rằng Sa-môn,
Phạm chí thứ tư cũng giống như vậy.
“Này
Tỳ-kheo, phải nên học chỗ ở, đường lui tới như vậy
để khiến Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể
đến được.
“Chỗ
nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến
được? Đó là Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện, cho đến
chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Đó là chỗ
Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại
nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không
thể đến được? Đó là Tỳ-kheo tâm câu hữu với từ, biến
mãn cả một phương, thành tựu và an trụ. Như vậy cho đến
hai, ba, bốn phương, bốn phương bàng, phương trên, phương
dưới, phổ biến khắp cả, tâm câu hữu với từ, không kết,
không oán, không nhuế, không hại, rộng lớn bao la, vô lượng,
khéo tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Cũng như vậy, đối với bi và hỷ. Tâm câu hữu với
xả, biến mãn cả một phương, thành tựu và an trụ. Như
vậy cho đến hai, ba, bốn phương, bốn phương bàng, phương
trên, phương dưới, phổ biến khắp cả, tâm câu hữu với
xả, không kết, không oán, không sân, không nhuế, không hại,
rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu và an trụ. Đó gọi là chỗ Ma vương
và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại
nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương của
Ma vương không thể đến được? Đó là Tỳ-kheo vượt qua
tất cả các sắc tưởng, cho đến thành tựu và an trụ Phi
hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Đó gọi là chỗ Ma vương và
quyến thuộc của Ma vương không thể đến được.
“Lại
nữa, chỗ nào mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không
thể đến được? Đó là Tỳ-kheo vượt qua tất cả Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, nhập tưởng thọ diệt, tự thân
tác chứng, thành tựu an trụ, do tuệ kiến mà vĩnh viễn diệt
tận các lậu. Đó gọi là chỗ Ma vương và quyến thuộc của
Ma vương không thể đến được.
“Này
Tỳ-kheo, chỗ ở và đường lui tới như vậy khiến Ma vương
và quyến thuộc của Ma vương không thể đến được. Các
ngươi hãy nên học như vậy”.
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.