177.
KINH THUYẾT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở trong Kiếm-ma-sắt-đàm,
đô ấp của Câu-lâu.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Ta
sẽ thuyết pháp cho các ngươi nghe, vi diệu ở khởi đầu,
vi diệu ở quảng giữa và vi diệu ở đoạn cuối; có văn,
có nghĩa, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó
là kinh ‘Tứ Chủng Thuyết’. Sau đây Ta sẽ phân biệt nghĩa
lý của kinh ‘Tứ Chủng Thuyết’. Hãy lắng nghe! Hãy lắng
nghe! Hãy khéo tư niệm. Ta sẽ nói”.
Khi
ấy các Tỳ-kheo vâng lời dạy, lắng nghe.
Đức
Phật nói:
“Thế
nào gọi là phân biệt nghĩa lý của kinh Tứ Chủng Thuyết?
“Nếu
có Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng và tiêu đích, mà ly
dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc
do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ. Nhưng
vị ấy không chấp thọ sở hành này, không suy niệm trên
đối tượng, tiêu đích này mà chỉ hành niệm tưởng tương
ưng với dục lạc, bèn thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy phải
nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không trụ, không tiến,
cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này nên khiến ta bị thoái chuyển.
Do đó định này của ta không tồn tại lâu dài’. Thầy Tỳ-kheo
ấy phải nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích mà ly
dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc
do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ và
vị ấy chấp thọ sở hành này, suy niệm trên đối tượng,
tiêu đích này, lập niệm đúng như pháp, khiến an trụ với
ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp
này mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp
này có thể khiến ta an trụ, mà định này của ta chắc chắn
tồn tại lâu dài’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích mà ly
dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc
do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu và an trụ,
nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này, không suy niệm
trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ niệm tưởng tương
ưng với đệ Nhị thiền, thành tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo
ấy nên biết rằng: ‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không
trụ, cũng không yểm ly tởm. Ta sanh pháp này khiến ta được
thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc đệ
Nhị thiền’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích mà ly
dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc
do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu và an trụ,
nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này, suy niệm trên
đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành niệm tưởng tương
ưng với tịch diệt, thành tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên
biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không trụ, cũng
không thăng tiến. Ta sanh pháp này có thể khiến ta yểm ly.
Như vậy, không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Thầy
Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, giác
quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán,
hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với Sơ thiền, thành tựu sự thoái
chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này
mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này
nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không
tồn tại lâu dài’. Thầy Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, giác
quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán,
hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thành
tựu và an trụ. Vị ấy chấp thọ sở hành này, suy niệm
trên đối tượng, tiêu đích này, lập niệm đúng như pháp,
an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không tiến, cũng không yểm
ly. Ta sanh pháp này có thể khiến ta được an trụ, do đó
định này của ta chắc chắn tồn tại lâu dài’. Thầy Tỳ-kheo
ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, giác
quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán,
hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với đệ Tam thiền, thành tựu sự
thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp
này mà không thoái, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp
này có thể khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao
lâu nữa sẽ chứng đắc đệ Tam thiền’. Thầy Tỳ-kheo ấy
nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, giác
quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác, không quán,
hỷ lạc do định sanh, chứng đắc đệ Nhị thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thành
tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp
này mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không thăng tiến.
Ta sanh pháp này nên khiến ta yểm ly, như vậy không bao lâu
nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như
vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ,
dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân
cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả,
niệm, an trú lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu và
an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này, không
suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành niệm
tưởng tương ưng với đệ Nhị thiền, thành tựu sự thoái
chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này
mà không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này
nên khiến ta bị thoái chuyển, do đó định này của ta không
tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ,
dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân
cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả,
niệm, an trụ lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu
và an trụ; và vị ấy chấp thọ sở hành này, suy niệm trên
đối tượng, tiêu đích này, lập niệm đúng như pháp, an
trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta
sanh pháp này mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly.
Ta sanh pháp này có thể khiến ta được an trụ, do đó định
này của ta chắn chắn tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên
biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ,
dục, xả, an trụ vô cầu, với chánh niệm, chánh trí, thân
cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả,
niệm, an trú lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu và
an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này, không
suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành niệm
tưởng tương ưng với đệ Tứ thiền, thành tựu sự thăng
tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà
không thoái, không trụ, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này
nên khiến ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa
sẽ chứng đệ Tứ thiền’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, ly hỷ,
dục, xả, vô cầu, an trụ với chánh niệm, chánh trí, thân
cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là được Thánh xả,
niệm, an trụ lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu
và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này, không
suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành niệm
tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thành tựu sự
vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này
mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến. Ta sanh pháp
này nên có thể khiến ta bị yểm ly, như vậy không bao lâu
nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết như
vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, diệt
lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với đệ Tam thiền, thành sự thối
thất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà
không trụ, không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này
nên khiến ta bị thối thất, do đó định này của ta không
tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, diệt
lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành
tựu và an trụ. Và vị ấy chấp thọ sở hành này, suy niệm
trên đối tượng, tiêu đích này, lập niệm đúng như pháp
với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh
pháp này mà không thoái, không tiến, cũng không yểm ly. Ta
sanh pháp này nên ta được an trụ, do đó, định này của
ta chắc chắn tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như
vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, diệt
lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có; không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với Vô lượng không xứ, với sự
thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp
này mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không yểm ly. Ta
sanh pháp này nên ta được thăng tiến, như vậy không bao lâu
nữa sẽ chứng đắc Vô lượng không xứ’. Tỳ-kheo ấy nên
biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, diệt
lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành
tựu và an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ sở hành này,
không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, mà chỉ hành
niệm tưởng tương ưng với tịch diệt, tịch tĩnh, thành
tựu sự vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh
pháp này mà không thoái, không trụ, cũng không thăng tiến.
Ta sanh pháp này có thể khiến ta yểm ly, như vậy không bao
lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết
như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy
niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, thành
tựu và an trụ Vô lượng không xứ. Nhưng vị ấy chấp thọ
sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với ái lạc sắc,
thành tựu sự thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không trụ, không tiến, cũng không yểm
ly. Ta sanh pháp này khiến ta bị thối thất, do đó, định
này của ta không tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết
như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy
niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, thành
tựu và an trụ Vô lượng không xứ, và vị ấy chấp thọ
sở hành này, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, lập
niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo
ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không
tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này có thể khiến ta
được an trụ, do đó, định này của ta chắc chắn tồn tại
lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy
niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, thành
tựu và an trụ Vô lượng không xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với Vô lượng thức
xứ, thành tựu thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không trụ, cũng không yểm
ly. Ta sanh pháp này nên ta được thăng tiến, như vậy không
bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô lượng thức xứ’. Tỳ-kheo
ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy
niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập vô lượng không, thành
tựu và an trụ Vô lượng không xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với tịch diệt,
tịch tĩnh, thành tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không thoái, không trụ, cũng không thăng
tiến. Ta sanh pháp này có thể khiến ta yểm ly, như vậy không
bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy nên biết
như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thành
tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với Vô lượng không
xứ, thành tựu thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không trụ, không tiến, cũng không yểm
ly. Ta sanh pháp này nên ta bị thối thất, do đó, định này
của ta không tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như
vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thành
tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, và vị ấy chấp thọ
sở hành này, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, lập
niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo
ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không thoái chuyển,
không tiến, cũng không yểm ly. Ta sanh pháp này khiến ta được
an trụ, do đó, định này của ta chắc chắn tồn tại lâu
dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thành
tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này,
mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với Vô sở hữu xứ,
thành tựu thăng tiến, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta
sanh pháp này mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không
yểm ly. Ta sanh pháp này nên ta được thăng tiến, như vậy
không bao lâu nữa sẽ chứng đắc Vô sở hữu xứ’. Tỳ-kheo
ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, thành
tựu và an trụ Vô lượng thức xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với tịch diệt,
tịch tĩnh, thành tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không
thăng tiến; vì ta sanh pháp này nên khiến ta yểm ly, như vậy
không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy
nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thành
tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với Vô lượng thức
xứ, thành tựu thoái chuyển, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng
‘Ta sanh pháp này mà không trụ, không tiến, cũng không yểm
ly. Ta sanh pháp này khiến ta bị thối thất, do đó, định
này của ta không tồn tại lâu dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết
như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thành
tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, và vị ấy chấp thọ sở
hành này, suy niệm trên đối tượng, tiêu đích này, lập
niệm đúng như pháp, an trụ với ý chuyên nhất, thì Tỳ-kheo
ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không thoái chuyển,
không tiến, cũng không yểm ly; vì ta sanh pháp này nên ta được
an trụ, do đó, định này của ta chắc chắn tồn tại lâu
dài’. Tỳ-kheo ấy nên biết như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thành
tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với Phi hữu tưởng
phi vô tưởng xứ, thành tựu sự thăng tiến, thì Tỳ-kheo
ấy nên biết rằng ‘Ta sanh pháp này mà không thoái chuyển,
không trụ, cũng không yểm ly; vì ta sanh pháp này nên ta được
thăng tiến, như vậy không bao lâu nữa sẽ chứng đắc phi
hữu tưởng, phi vô tưởng xứ’. Tỳ-kheo ấy nên biết như
vậy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo với sở hành, đối tượng, tiêu đích, vượt
qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, thành
tựu và an trụ Vô sở hữu xứ, nhưng vị ấy không chấp
thọ sở hành này, không suy niệm trên đối tượng, tiêu đích
này, mà chỉ hành niệm tưởng tương ưng với sự nhàm tởm,
thành tựu vô dục, thì Tỳ-kheo ấy nên biết rằng ‘Ta sanh
pháp này mà không thoái chuyển, không trụ, cũng không thăng
tiến; vì ta sanh pháp này nên khiến ta nhàm tởm, như vậy
không bao lâu nữa sẽ chứng quả lậu tận’. Tỳ-kheo ấy
nên biết như vậy.
“Có
tưởng và có tri.
Ngang mức ấy còn được tri; cho đến Phi hữu tưởng phi vô
tưởng xứ là hành dư cao hơn hết trong sự hữu.
Tỳ-kheo hành thiền hãy phát khởi theo như vậy, hãy thuyết
giảng lại cho người khác biết.
Đức
Phật thuyết như vậy, các thầy Tỳ-kheo sau khi Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Tưởng
tri, hay tưởng thọ;
chỉ tất cả thiền định, trừ diệt tận định. Ở định
Phi tưởng phi tưởng xứ chỉ tồn tại hai yếu tố nay. Vượt
lên nữa, là diệt tận định hay tưởng thọ diệt
tận định.