176.
KINH HÀNH THIỀN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Trong
thế gian quả thật có bốn loại hành thiền. Những gì là
bốn? Hoặc có hành thiền xí thạnh mà gọi là suy thoái. Hoặc
có hành thiền suy thoái mà gọi là xí thạnh. Hoặc có hành
thiền suy thoái thì biết như thật là suy thoái. Hoặc có hành
thiền xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Tại
sao gọi là người hành thiền xí thạnh mà cho là suy thoái?
“Người
hành thiền kia ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có
quán, hỷ và lạc phát sanh do ly dục, chứng Sơ thiền, thành
tựu an trụ. Tâm người đó tu tập chánh tư duy, đang từ
Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là sự tịch tịnh
thù thắng. Người hành thiền đó lại nghĩ rằng, ‘Tâm ta
lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền
và diệt mất định’. Người hành thiền ấy không biết
như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy,
nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền, giác và quán đã tịch tịnh, nội
tĩnh, nhất tâm, không giác không quán, có hỷ và lạc phát
sanh do định, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ. Tâm
vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Nhị thiền hướng đến Tam
thiền, đó gọi là tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành
thiền ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng
đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’.
Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Nhị thiền
hướng đến Tam thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị
đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như
thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy
là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền ly hỷ và dục, xả, an trụ vô cầu,
chánh niệm, chánh trí mà thân có cảm giác lạc, điều được
Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú lạc, chứng đắc
đệ Tam thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh
tư duy, từ đệ Tam thiền hướng đến đệ Tứ thiền, đó
là tịch tịnh thù thắng. Nhưng người hành thiền đó lại
nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà hướng đến chỗ khác,
làm mất Sơ thiền và diệt mất định’. Người hành thiền
ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy,
khoái lạc tịch tịnh, từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền,
đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như
thật như vậy, nên đối với sự như thật mà thoái chuyển
ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói
là thoái chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền định, khổ diệt, lạc diệt, hỷ
và ưu vốn đã diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh
tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Tâm
vị ấy tu tập chánh tư duy, từ đệ Tứ thiền hướng đến
Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Nhưng vị
hành thiền ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng mà
hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’.
Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tứ thiền
hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’.
Vị đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự
như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như
vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
hữu tưởng, không tư duy bất cứ loại tưởng nào, nhập
vô lượng không, thành tựu an trụ nơi Vô lượng không xứ.
Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô lượng không xứ hướng
đến Vô lượng thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Nhưng
vị hành thiền ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa bổn tướng
mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất
định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng
‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô
lượng không xứ hướng đến Vô lượng thức xứ, đó là
tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như
vậy, nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn
mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái
chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền vượt qua tất cả Vô lượng không
xứ, nhập vô lượng thức, thành tựu an trụ Vô lượng thức
xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô lượng thức
xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là tịch tịnh thù thắng.
Nhưng vị hành thiền ấy lại nghĩ ‘Tâm ta lìa bổn tướng
mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất
định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng
‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Vô
lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu xứ, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy,
nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Lại
nữa, người hành thiền vượt qua tất cả thức vô lượng
xứ, nhập Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu
xứ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, từ Vô sở hữu xứ
hướng đến phi tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh
thù thắng. Nhưng vị hành thiền ấy lại nghĩ rằng: “Tâm
ta lìa bốn tướng mà hướng đến chỗ khác, nên mất vô
xứ Vô sở hữu xứ, diệt mất định”. Vị hành thiền ấy
không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến phi tưởng
phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó
do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như thật
mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là
xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy.
“Thế
nào là hành thiền suy thoái mà cho là xí thạnh?
“Vị
hành thiền ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác, có
quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành
tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác
mà tu tập con đường dẫn đến Nhị thiền, nhưng vị ấy
lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật
rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà
nhập Sơ thiền, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng
hạn hẹp khác mà vào Nhị thiền. Vị ấy do không biết như
thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất
định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền với giác và quán đã dứt, nội tĩnh,
nhất tâm, không giác không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng
đệ Nhị thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những
tưởng hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Tam
thiền. Nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh
tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Nhị thiền hướng đến
Tam thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền
ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng
tương ưng với yểm ly mà nhập Nhị thiền, nhưng không nên
bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Tam thiền.
Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình,
vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy
thoái mà cho là xí thạnh.
“Vị
hành thiền ly hỷ, ly dục, xả, an trụ vô cầu, chánh niệm,
chánh trí mà thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi
là được Thánh xả, niệm an trụ lạc, chứng đệ Tam thiền,
thành tựu và an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn
hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Tứ thiền. Nhưng
vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền, đó
là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết
như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với
yểm ly mà nhập Tam thiền, nhưng không nên bằng tư duy về
những tưởng hạn hẹp khác mà vào Tứ thiền. Vị ấy do
không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy
vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà
cho là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền với lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu vốn
cũng đã diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh,
chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong
những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến
Vô lượng không xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tứ thiền
thiền hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh
thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng
chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập
Tứ thiền, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn
hẹp khác mà vào Vô lượng không xứ. Vị ấy do không biết
như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà
mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí
thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, không tư duy bất cứ loại tưởng nào,
nhập vô lượng không, chứng Vô lượng không xứ ấy, thành
tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác
mà tu tập con đường dẫn đến Vô lượng thức xứ, nhưng
vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô
lượng thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành
thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng
tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Vô lượng không xứ,
nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác
mà vào Vô lượng thức xứ. Vị ấy do không biết như thật
nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định.
Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền vượt qua Vô lượng không xứ, nhập
vô lượng thức, chứng Vô lượng thức xứ ấy, thành tựu
an trụ. Vị ấy tư duy trong những tư tưởng hạn hẹp khác
mà tu tập con đường dẫn đến Vô sở hữu xứ, nhưng vị
ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu
xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không
biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng
với yểm ly mà nhập Vô lượng thức xứ, nhưng không nên
bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Vô sở
hữu xứ. Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ
tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy
là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ,
nhập vô sở hữu, chứng Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ.
Vị ấy tư duy trong những tư tưởng hạn hẹp khác mà tu tập
con đường dẫn đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, nhưng
vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái
lạc tịch tịnh, từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’.
Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư
duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Vô sở hữu
xứ, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp
khác mà vào đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Vị ấy
do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy
vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà
cho là xí thạnh.
“Thế
nào là hành thiền suy thoái thì biết như thật là suy thoái?
“Vị
hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu,
vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, nhập Phi hữu tưởng phi
vô tưởng xứ, chứng Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành
tựu an trụ, nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không
suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên
niệm tưởng tương ưng Vô sở hữu xứ, bèn thối thất trở
lại đó. Vị ấy nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa khỏi bổn tướng,
lại hướng đến chỗ khác, mất Phi hữu tưởng phi vô tưởng
xứ; diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối
với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền
như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô lượng thức xứ, nhập
vô sở hữu, chứng Vô sở hữu xứ ấy, thành tựu an trụ.
Nhưng vị ấy không thọ hành ấy, không suy niệm về đối
tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm tưởng tương
ưng Vô lượng thức xứ, bèn thối thất trở lại đó. Vị
ấy nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa khỏi bổn tướng, lại hướng
đến chỗ khác, mất Vô sở hữu xứ; diệt định vậy’.
Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật không
thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái
thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô lượng không xứ, nhập
vô lượng thức, chứng Vô lượng thức xứ, thành tựu an
trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm
về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm
tưởng tương ưng Vô lượng không xứ, bèn thối thất trở
lại đó. Vị ấy bèn nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng,
lại hướng đến chỗ khác, mất Vô lượng thức xứ; diệt
định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự
như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như
vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, vượt qua tất cả các sắc tưởng, diệt hữu
đối tưởng, không suy niệm bất cứ loại tưởng nào, nhập
vô lượng không, chứng Vô lượng không xứ ấy, thành tựu
an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm
về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên niệm
tưởng tương ưng sự ái lạc sắc, bèn thối thất trở lại
đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại
hướng đến chỗ khác, mất Vô lượng không xứ; diệt định
vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật
không thoái ý, không mất định.Hành
thiền như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu vốn có cũng đã
diệt, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đệ
Tứ thiền, thành tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ
hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy,
mà chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng đệ Tam thiền, bèn
thối thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa
khởi bổn tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất đệ Tứ
thiền; diệt định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối
với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền
như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, ly hỷ, ly dục, xả, an trụ vô cầu, chánh niệm,
chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi được
Thánh xả, niệm, an trú lạc trụ, chứng đệ Tam thiền, thành
tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không
suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà chỉ hành trên
niệm tưởng tương ưng đệ Nhị thiền, bèn thối thất trở
lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng,
lại hướng đến chỗ khác, mất đệ Tam thiền; diệt định’.
Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật không
thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái
thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, giác và quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm,
không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ Nhị
thiền, thành tựu an trụ. Nhưng vị ấy không chấp thọ hành
ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà
chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng Sơ thiền, bèn thối
thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi
bổn tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất đệ Nhị thiền;
diệt định’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự
như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như
vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng
và mục tiêu, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác, có quán,
có hỷ lạc do định sanh, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ.
Nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về
đối tượng và mục tiêu ấy, chỉ hành trên niệm tưởng
tương ưng sự ái lạc dục, bèn thối thất trở lại đó.
Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khởi bổn tướng, lại hướng
đến chỗ khác, mất Sơ thiền, diệt định vậy’. Vị ấy
biết như thật rồi, đối với sự như thật không thoái ý,
không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái thì biết
như thật là suy thoái.
“Thế
nào là hành thiền mà xí thạnh thì biết như thật là xí
thạnh?
“Vị
hành thiền ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác, có
quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành
tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, rồi từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là
tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy
‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ
Sơ thiền hướng đến đệ Nhị thiền, đó là tịch tịnh
thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm
ấy mà không mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh
thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất
tâm, không giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đệ
Nhị thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư
duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Nhị thiền hướng đến
Tam thiền, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị ấy bèn nghĩ
rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh,
rồi từ Nhị thiền hướng đến Tam thiền, đó là tịch tịnh
thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm
ấy mà không mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh
thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy ly hỷ, ly dục, xả, vô cầu, an trụ,
chánh niệm, chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh
gọi là được Thánh xả, niệm, an trụ lạc trụ, chứng đệ
Tam thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư
duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Tam thiền hướng đến
Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy
bèn nghĩ như ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, rồi từ Tam thiền hướng đến Tứ thiền, đó là tịch
tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết
rõ tâm ấy mà không mất định. Hành thiền như vậy là xí
thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy với lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu
vốn có cũng đã diệt, không khổ, không lạc, xả niệm thanh
tịnh, chứng đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Tứ thiền
hướng đến Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng.
Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh
tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Tứ thiền hướng đến
Vô lượng không xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị
ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không làm
mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như
thật là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, không tư duy bất cứ loại tưởng nào,
nhập vô lượng không, chứng, Vô lượng không xứ ấy, thành
tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch
tịnh, rồi từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô lượng
thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy
bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, rồi từ Vô lượng không xứ hướng đến Vô
lượng thức xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy
biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất định.
Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí
thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy vượt qua Vô lượng không xứ, nhập
vô lượng thức, chứng Vô lượng thức xứ ấy, thành tựu
an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh,
rồi từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu xứ,
đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ
như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh,
rồi từ Vô lượng thức xứ hướng đến Vô sở hữu xứ,
đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi,
bèn biết rõ tâm ấy mà không mất định. Hành thiền như
vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Lại
nữa, vị hành thiền ấy vượt qua tất cả Vô lượng thức
xứ, nhập vô sở hữu, chứng Vô sở hữu xứ, thành tựu
an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh,
rồi từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi hữu tưởng phi vô
tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền
ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc
tịch tịnh, rồi từ Vô sở hữu xứ hướng đến Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ, đó là tịch tịnh thù thắng’.
Vị ấy biết như thật rồi bèn biết rõ tâm ấy mà không
làm mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết
như thật là xí thạnh.
“Thế
gian quả thật có bốn loại hành thiền, vì vậy mà Ta giảng
thuyết”.
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.