175.
KINH THỌ PHÁP (II)[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở tại đô ấp
Kiếm-ma-sắt-đàm.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Thế
gian này có ham muốn như vầy, ước vọng như vầy, yêu thích
như vầy, vui sướng như vầy và ý hướng như vầy, ‘Mong
sao các pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý
tiêu diệt; và các pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý tiêu diệt sanh ra’. Nó ham muốn như vầy, ước
vọng như vầy, yêu thích như vầy, vui sướng như vầy và
ý hướng như vầy như vậy. Song, pháp không đáng thích, không
đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu,
đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu si. Pháp của
Ta rất là sâu xa, khó thấy, khó giác ngộ, khó thông đạt.
Như vậy, pháp của Ta rất sâu xa, khó thấy, khó giác ngộ,
khó thông đạt, là pháp không đáng thích, không đáng yêu,
không vừa ý tiêu diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng
vừa ý được sanh. Đó là pháp không ngu si.
“Thế
gian này chân thật có bốn thọ pháp. Những gì là bốn? Hoặc
có thọ pháp hiện tại lạc mà tương lai thọ quả báo khổ.
Hoặc có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo
lạc. Hoặc có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng
thọ quả báo khổ. Hoặc có thọ pháp hiện tại lạc mà tương
lai cũng thọ báo lạc.
“Thế
nào là pháp thọ hiện tại lạc mà tương lai chịu quả báo
khổ? Hoặc có một người tự mình vui sướng, tự mình vui
thích trong việc sát sanh. Do nhân sát sanh mà sanh lạc, sanh
hỷ. Người đó tự mình, vui sướng, tự mình vui thích trong
việc lấy của không cho, nói láo, cho đến tà kiến, nhân
nơi tà kiến mà sanh lạc, sanh hỷ. Như vậy, thân lạc, tâm
lạc, bất thiện, từ bất thiện mà sanh ra, không hướng đến
trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn.
“Đó
là thọ pháp hiện tại lạc, tương lai chịu quả báo khổ.
“Sao
gọi là thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai được quả
báo lạc? Hoặc có người tự mình khổ, tự mình ưu, đoạn
trừ việc sát sanh, do sự đoạn trừ việc sát hại mà sanh
khổ, sanh ưu, người đó tự khổ, tự ưu; đoạn trừ việc
lấy của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến đoạn trừ tà
kiến, do đoạn tà kiến mà sanh khổ sanh ưu. Như vậy, thân
khổ, tâm khổ, thiện sanh, hướng đến trí, hướng đến
giác, hướng đến Niết-bàn.
“Đó
là thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai thọ đặng quả
báo lạc.
“Sao
gọi là thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng thọ quả
báo khổ? Hoặc có người tự khổ, tự ưu và sát sanh, do
sát sanh mà khổ, sanh ưu. Người đó tự khổ, tự ưu và lấy
của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến tà kiến mà sanh khổ,
sanh ưu. Như vậy, thân khổ, tâm khổ, bất thiện từ bất
thiện mà sanh, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến
Niết-bàn.
“Đó
gọi là pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng phải thọ quả
báo khổ.
“Sao
gọi là thọ pháp hiện tại an vui mà tương lai cũng thọ quả
báo an vui? Hoặc có người tự mình vui sướng, tự mình vui
thích, đoạn trừ sát sanh, do đoạn trừ sát sanh mà sanh lạc,
sanh hỷ. Người ấy tự mình vui sướng, tự mình vui thích,
đoạn trừ lấy của không cho, tà dâm, nói láo, cho đến tà
kiến. Do đoạn trừ tà kiến cho nên sanh lạc, sanh hỷ. Như
vậy, thân lạc và tâm lạc từ thiện mà sanh, hướng đến
trí, hướng đến giác, hướng đến Niết-bàn.
“Như
thế gọi là thọ pháp hiện tại lạc mà tương lai cũng thọ
quả báo lạc.
“Hoặc
có thọ pháp hiện tại lạc, tương lai thọ quả báo khổ,
nhưng người kia do ngu si chẳng biết như thật rằng thọ pháp
ấy hiện tại lạc, nhưng tương lai chịu lấy khổ báo. Do
không biết như thật nên tập hành không đoạn trừ.
Sau khi tập hành không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không
đáng yêu, không vừa ý sanh; pháp không đáng thích, không đáng
yêu, không vừa ý tiêu diệt. Cũng như thuốc A-ma-ni-dược,
một phần có sắc, có hương, có vị, nhưng có trộn chất
độc; hoặc có người bị bệnh nên uống, khi uống thì sắc,
hương và vị ngon miệng mà không tổn hại cổ họng, nhưng
khi uống xong, vào trong bụng rồi lại chẳng thành thuốc.
Cũng vậy, thọ pháp này hiện tại lạc mà tương lai phải
chịu lấy quả báo khổ. Người kia ngu si không biết như thật
rằng pháp thọ này hiện tại lạc mà tương lai phải chịu
quả báo khổ. Khi đã không biết như thật liền tập hành
không đoạn trừ. Sau khi tập hành không đoạn trừ, pháp không
đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng
thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp
ngu si.
“Nếu
có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai chịu quả báo lạc,
song người ấy ngu si không biết như thật rằng thọ pháp
này hiện tại khổ mà tương lai sẽ được quả báo an lạc.
Khi đã không biết như thật liền không tập hành đoạn trừ.
Sau khi không tập hành đoạn trừ, pháp không đáng thích, không
đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu,
đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu si.
“Hoặc
có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng chịu quả báo
khổ, song người ngu si không biết như thật rằng thọ pháp
này hiện tại khổ, tương lai cũng chịu quả báo khổ. Khi
đã không biết như thật, liền tập hành không đoạn trừ.
Khi đã tập hành không đoạn trừ, pháp không đáng thích,
không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng
yêu, đáng vừa ý lại diệt.
“Cũng
như đại tiểu tiện
lại trộn lẫn độc, hoặc có người bị bệnh cho nên uống.
Khi uống thì nhơ nhớp, hôi thối, không có mùi vị, không
ngon miệng mà lại tổn thương cuống họng, uống vào trong
bụng lại chẳng thành thuốc. Cũng vậy, pháp thọ này hiện
tại khổ, tương lai cũng chịu quả báo khổ. Người kia ngu
si không biết như thật rằng pháp thọ này hiện tại khổ,
tương lai cũng chịu quả báo khổ. Đã không biết như thật,
bèn tập hành sự không đoạn trừ. Do tập hành sự không
đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa
ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại
diệt. Đó gọi là pháp ngu si.
“Hoặc
có thọ pháp hiện tại lạc, tương lai cũng thọ quả báo
lạc, nhưng người kia ngu si không biết như thật rằng pháp
thọ này hiện tại lạc mà tương lai cũng thọ báo lạc. Do
không biết như thật nên không tập hành sự đoạn trừ. Do
không tập hành sự đoạn trừ nên, pháp không đáng thích,
không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng thích, đáng
yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp ngu si.
“Người
kia không biết như thật pháp nào nên tập hành, không biết
như thật pháp nào không nên tập hành. Do không biết như thật
pháp nào không nên tập hành và không biết như thật pháp
nào nên tập hành, do đó pháp không nên tập hành lại tập
hành, pháp nên hành lại không hành. Do tập hành pháp không
nên tập hành và không tập hành pháp nên tập hành, pháp không
đáng thích, không đáng yêu, không vừa ý lại sanh; pháp đáng
thích, đáng yêu, đáng vừa ý lại diệt. Đó gọi là pháp
ngu si.
“Nếu
có thọ pháp hiện tại lạc mà tương lai thọ quả báo khổ,
người có trí tuệ biết như thật rằng pháp thọ này hiện
tại lạc mà tương lai thọ quả báo khổ. Do biết như thật
nên không tập hành nó, mà đoạn trừ nó. Do không tập hành
nhưng đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không
vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh.
Đó gọi là pháp tuệ.
“Nếu
có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo lạc,
người có trí tuệ biết như thật rằng thọ pháp này hiện
tại khổ nhưng tương lai lại được quả báo lạc. Do biết
như thật, vị ấy tập hành nó mà không đoạn trừ. Do tập
hành mà không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng
yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng
vừa ý sanh.
“Cũng
như đại tiểu tiện
có hòa với nhiều thứ thuốc, hoặc có người bị bệnh uống;
khi uống, sắc xấu, hôi thối, không mùi vị, không ngon miệng
mà hại đau cuống họng, nhưng uống vào trong bụng lại thành
thuốc. Cũng vậy, thọ pháp này hiện tại khổ mà tương lai
thọ quả báo lạc, người trí tuệ biết như thật rằng thọ
pháp này hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo lạc. Do
biết như thật, vị ấy tập hành nó mà không đoạn trừ.
Do tập hành mà không đoạn trừ, pháp không đáng thích, không
đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu,
đáng vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Hoặc
có thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai cũng chịu quả báo
khổ, người có trí tuệ biết như thật rằng thọ pháp này
hiện tại khổ mà tương lai cũng chịu quả báo khổ. Do trí
biết như thật, vị ấy không tập hành nó, nhưng đoạn trừ.
Do không tập hành nó nhưng đoạn trừ, pháp không đáng thích,
không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng
yêu, đáng vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Hoặc
có thọ pháp hiện tại lạc, tương lai thọ quả báo lạc,
người trí tuệ biết như thật rằng thọ pháp này hiện tại
lạc, tương lai thọ quả báo lạc. Do biết như thật, vị
ấy tập hành chứ không đoạn trừ. Do tập hành chứ không
đoạn trừ, pháp không đáng thích, không đáng yêu, không vừa
ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh. Đó
gọi là pháp tuệ.
“Cũng
như tô mật hòa với nhiều thứ thuốc, hoặc có người bị
bệnh nên uống, khi uống có sắc đẹp, có hương, có vị,
ngon miệng mà không tổn thương cuống họng, uống vào bụng
lại thành thuốc. Cũng vậy, pháp thọ này hiện tại lạc,
tương lai thọ quả báo lạc. Người trí tuệ biết một cách
như thật rằng pháp thọ này hiện tại lạc, tương lai cũng
thọ quả báo lạc. Do biết như thật, vị ấy tập hành chứ
không đoạn trừ; pháp không đáng thích, không đáng yêu, không
vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng yêu, đáng vừa ý sanh.
Đó gọi là pháp tuệ.
“Người
đó biết như thật rằng, đây là pháp nên tập hành, biết
như thật rằng đây là pháp không nên tập hành. Do biết như
thật pháp nào nên tập hành và pháp nào không nên tập hành,
vị ấy tập hành pháp nên tập hành, không tập hành pháp
không nên tập hành. Do tập hành pháp nên tập hành và không
nên tập hành pháp không nên tập hành, pháp không đáng thích,
không đáng yêu, không vừa ý diệt, mà pháp đáng thích đáng
yêu, đáng vừa ý sanh. Đó gọi là pháp tuệ.
“Thế
gian quả thật có bốn thọ pháp ấy, vì vậy mà Ta giảng
thuyết”.
Phật
thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Tương
đương Pāli, M.46. Mahā-Dhammasamādāna-suttam. Hán, biệt dịch,
No.83 Phật Thuyết Ứng Pháp Kinh, Trúc Pháp Hộ dịch.
Xem
cht.2,3 kinh số 10. No.83: Tại Câu loại Pháp trị xứ dịch
âm và dịch nghĩa hỗn hợp của Kuru-kammāsaddhamma. Bản Pāli:
tại Sāvatthi.
Tập
hành, bất đoạn 習行不斷.
N.83: hành, bất khí 行不棄.
Làm theo chứ không bỏ”. Pāli: sevati na parivajjiti, phục vụ,
không tránh né.
A-ma-ni-dược 阿摩尼藥.
Pāli: āpānīyakaṃsa, bình đựng nước uống. Trong bản Hán,
dược, có lẽ phiên âm từ-yakaṃsa,
không có nghĩa là thuốc.