172.
KINH TÂM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo sống cô độc tại một nơi an tĩnh,
thiền tọa tư duy, tâm khởi ý niệm: “Cái gì dẫn thế gian
đi? Cái gì làm nhiễm trước?
Cái gì khởi tự tại?”
Khi
ấy, vào lúc xế chiều, Tỳ-kheo ấy từ thiền tọa dậy,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật rồi ngồi
xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay con một mình ở một nơi yên tĩnh, thiền
tọa tư duy, tâm khởi ý niệm ‘Cái gì dẫn thế gian đi?
Cái gì làm nhiễm trước? Cái gì khởi tự tại?’”.
Đức
Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đường hiền thiện lại được
quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo
léo
rằng ‘Cái gì dẫn thế gian đi? Cái gì làm nhiễm trước?
Cái gì khởi tự tại?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi
là như vậy chăng?”
Thầy
Tỳ-kheo ấy đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Tỳ-kheo, tâm dẫn thế gian đi, tâm làm nhiễm trước, tâm
khởi tự tại.
Này Tỳ-kheo, chính nó dẫn thế gian đi, chính nó làm nhiễm
trước và cũng chính nó khởi tự tại. Này Tỳ-kheo, Đa văn
Thánh đệ tử không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm
trước, không để tâm tự tại. Này Tỳ-kheo, Đa văn Thánh
đệ tử không vâng theo sự tự tại của tâm, mà tâm tùy
theo tự tại của Đa văn Thánh đệ tử”.
Tỳ-kheo
bạch rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo
ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi
lại hỏi tiếp:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn; được nói là Tỳ-kheo đa văn, bạch
Thế Tôn, thế nào gọi là Tỳ-kheo đa văn? Thế nào để được
tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn?”
Đức
Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được
quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo
léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn; được nói là
Tỳ-kheo đa văn, bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tỳ-kheo đa
văn? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn?’
Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Tỳ-kheo, những gì được Ta thuyết giảng rất nhiều, là
chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân duyên, soạn lục,
bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu
pháp và thuyết nghĩa. Này Tỳ-kheo, nếu có thiện nam tử chỉ
nghe Ta nói bốn câu kệ mà biết nghĩa, biết pháp, thực hành
pháp và tùy pháp, thuận theo phạm hạnh, thì này Tỳ-kheo,
nói Tỳ-kheo đa văn là chỉ nói như vậy chứ không hơn nữa.
Này Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo đa văn. Như Lai tuyên bố
như vậy là Tỳ-kheo đa văn”.
Tỳ-kheo
bạch rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo
ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi
lại hỏi tiếp:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt,
nói là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt. Bạch Thế Tôn,
Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt? Thế nào để được
tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt?”
Đức
Thế Tôn nghe xong khen ngợi:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được
quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo
léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh
đạt, nói là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt. Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt? Thế nào để
được tuyên bố là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt?’
Này Tỳ-kheo, câu hỏi của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo nghe rằng ‘Đây là Khổ’, tức thì
với trí tuệ mà chân chánh thấy khổ đúng như thật; nghe
Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo, tức thì với trí tuệ
mà chân chánh thấy Khổ diệt đạo đúng như thật. Này Tỳ-kheo,
như vậy là đa văn Tỳ-kheo có trí tuệ minh đạt. Như Lai
tuyên bố như vậy là đa văn Tỳ-kheo có trí tuệ minh đạt”.
Tỳ-kheo
bạch rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Tỳ-kheo
ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành rồi
lại hỏi tiếp:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ, nói
là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ. Bạch Thế
Tôn, thế nào là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ?
Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo thông minh có hiệt
tuệ, quảng tuệ?”
Đức
Thế Tôn nghe xong, khen ngợi:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-kheo, là con đuờng hiền thiện lại được
quán sát hiền thiện, là biện tài tinh diệu với tư duy khéo
léo rằng ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ,
quảng tuệ, nói là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ, quảng
tuệ. Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo thông minh có hiệt
tuệ, quảng tuệ? Thế nào để được tuyên bố là Tỳ-kheo
thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ?’ Này Tỳ-kheo, câu hỏi
của ngươi là như vậy chăng?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Nếu
Tỳ-kheo không có niệm gây tự hại, không có niệm gây hại
người, cũng không có niệm gây hại cả hai. Tỳ-kheo chỉ
có niệm làm lợi ích cho tự thân và lợïi ích cho người,
lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, mong muốn cho
trời, người được lợi ích và phước lành, được an ổn
khoái lạc. Này Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo thông minh có
hiệt tuệ, quảng tuệ, Như Lai tuyên bố như vậy là Tỳ-kheo
thông minh có hiệt tuệ, quảng tuệ”.
Tỳ-kheo
bạch rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Kính vâng, Bạch Thế Tôn!”
Khi
ấy, Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ
lãnh, khéo ghi nhớ, khéo tụng tập, rồi từ chỗ ngồi đứng
dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi
lui ra.
Lúc
bấy giờ Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời dạy của Đức Thế Tôn,
sống cô độc nơi yên tĩnh xa vắng, tâm không phóng dật,
tu hành tinh cần. Tỳ-kheo ấy khi sống cô độc ở nơi xa vắng,
tâm không phóng dật, tu hành tinh cần để đạt đến mục
đích mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa,
chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo,
là duy chỉ mong thành tựu phạm hạnh vô thượng, ngay trong
đời này tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ,
biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững,
điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Vị
Tôn giả ấy đã biết pháp rồi, liền chứng quả A-la-hán.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Bản
Hán, quyển 45. Tương đương Pāli A.4.19.6 Ummagga-sutta. Hán,
biệt dịch, No.82 Phật Thuyết Ý Kinh, Tây Tấn, Trúc Pháp Hộ
dịch.
Thùy
vi nhiễm trước 誰染著.
No.82: dĩ hà cố thọ khổ 以何故受苦,
vì cái gì mà thọ khổ? Pāli: kena loko parikissati, cái gì bức
bách thế gian? Trong bản Hán, đọc là pari-kilissati, thay vì
parikissati.
No.82:
dĩ hà cố sanh, sanh dĩ nhập tùy tùng以何故生, 生已入隨松,
do cái gì mà sanh, sanh rồi chịu chi phối? Pāli: Kassa ca uppannassa
vasam gacchati, dưới sự chỉ đạo của cái đã sanh khởi nào
mà (thế giới) tiến hành?
Hữu
hiền đạo nhi hữu hiền quán... 有賢道而有賢觀.
Pāli: Bhaddako kho te ummaggo, bhaddako paṭibhānam kalyāni paripucchā,
tốt lành thay là con đường (hầm) của ngươi; sự lý giải
thật là tốt lành; những câu hỏi thật là khéo léo.