170.
KINH ANH VŨ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, khi đêm đã qua, vào lúc trời vừa sáng, Đức Thế Tôn
đắp y mang bát vào nước Xá-vệ. Trong khi đi khất thực,
Thế Tôn đi qua nhà của Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử.
Lúc bấy giờ, Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử có chút việc phải
làm nên đi khỏi, không có ở nhà.
Khi
ấy, tại nhà Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử có một con chó trắng
đang ăn cơm trong cái chậu bằng vàng, trên một cái giường
lớn. Rồi con chó trắng trông thấy Đức Phật từ xa đi lại;
thấy Ngài, nó liền sủa. Đức Thế Tôn nói với con chó trắng
rằng:
“Ngươi
không nên làm như vậy. Nhà người hết ó rồi lại sủa.
Chó
trắng nghe nói, giận dữ từ trên giường nhảy xuống, đến
bên đống cây, nằm buồn thiểu não.
Sau
đó, Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử, thấy chó trắng có vẻ giận
dữ, đã từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây nằm
buồn thiểu não, ông mới hỏi người nhà rằng:
“Ai
quấy rầy con chó của tôi, khiến nó rất đổi giận dữ,
từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây nằm buồn
thiểu não vậy?”
Người
nhà trả lời:
“Chúng
tôi không ai quấy rầy con chó trắng cả khiến nó rất đổi
giận dữ, từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây
nằm buồn thiểu não. Ma-nạp nên biết, ngày nay có Sa-môn
Cù -đàm đến đây khất thực, con chó trắng đã thấy liền
chạy tới sủa. Sa-môn Cù-đàm nói với con chó trắng rằng,
‘Ngươi không nên làm như vậy. Nhà ngươi hết ó rồi lại
sủa’. Này Ma-nạp, do vậy nên khiến con chó trắng rất đổi
giận dữ, từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây
nằm buồn thiểu não”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử vừa nghe xong tức thì nổi giận, muốn
vu khống Đức Thế Tôn, muốn hủy báng Đức Thế Tôn. Với
ý định vu khống, hủy báng, hạ nhục Sa-môn Cù-đàm như
vậy, ông liền ra khỏi Xá-vệ, đến Thắng lâm, vườn Cấp
cô độc.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng
đứng vây quanh trước sau, Đức Thế Tôn trông thấy Anh Vũ
Ma-nạp Đo -đề Tử từ xa đi đến, Ngài bảo các Tỳ-kheo
rằng:
“Các
ngươi thấy Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử đến không?”
Các
Tỳ-kheo trả lời:
“Bạch
Đức Thế Tôn, dạ thấy”.
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử mà mạng chung ngay bấy giờ thì như
co duỗi cánh tay, trong khoảnh khắc tất sanh địa ngục. Vì
sao vậy? Vì người ấy đối với Ta đang nổi cơn thịnh nộ.
Nếu có chúng sanh nào, do bởi tâm sân nhuế, thân hoại mạng
chung tất đến chỗ ác, sanh vào địa ngục”.
Rồi
Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử đến chỗ Đức Phật, nói với
Thế Tôn rằng:
“Hôm
nay Sa-môn Cù-đàm có đến nhà tôi khất thực phải không?”
Đức
Thế Tôn trả lời rằng:
“Hôm
nay Ta có đến nhà ông khất thực”.
“Cù-đàm,
ông nói gì với con chó trắng của tôi, khiến nó rất đổi
giận dữ, từ trên giường nhảy xuống, đến bên lùm cây
nằm buồn thiểu não?”
Đức
Thế Tôn trả lời rằng:
“Hôm
nay vào lúc trời vừa sáng, Ta đắp y mang bát vào Xá-vệ khất
thực, lần lượt khất thực đến nhà ông. Lúc ấy con chó
trắng trông thấy Ta từ xa đi đến. Thấy Ta, nó liền sủa.
Ta nói với con chó trắng rằng, ‘Người không nên làm như
vậy. Nhà ngươi hết la ó
rồi lại sủa’. Vì vậy, con chó trắng rất đổi giận dữ,
từ trên giường nhảy xuống, đến bên đống cây nằm buồn
thiểu não”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử hỏi Thế Tôn:
“Con
chó trắng đời trước có liên hệ gì với tôi?”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Thôi,
thôi, này Ma-nạp, tốt hơn đừng nên hỏi Ta. Ông nghe việc
này rồi chắc chắn không vừa ý”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử hỏi đi hỏi lại Đức Thế Tôn ba
lần:
“Con
chó trắng đời trước có liên hệ gì với tôi?”
Đức
Thế Tôn cũng ba lần nói:
“Thôi,
thôi, này Ma-nạp, tốt hơn đừng nên hỏi Ta. Ông nghe việc
này rồi chắc chắn không vừa ý”.
Đức
Thế Tôn lại bảo Ma-nạp rằng:
“Ông
hỏi Ta đến ba lần mà không chịu thôi. Ma-nạp nên biết,
con chó trắng kia đời trước là cha của ông, tên là Đô-đề
vậy”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử nghe nói xong, nổi giận gấp bội.
Ông muốn vu khống Đức Thế Tôn, muốn hủy báng Đức Thế
Tôn, muốn hạ nhục Đức Thế Tôn. Với ý định vu khống,
hủy báng, hạ nhục như vậy, ông nói với Đức Thế Tôn:
“Cha
tôi là Đô-đề thực hành sự bố thí lớn lao, thiết những
cuộc trai tự vĩ đại, sau khi thân hoại mạng chung nhất định
sanh lên Phạm thiên. Chớ do nhơn gì, duyên gì mà sanh vào loài
chó hạ tiện này?”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đô-đề,
cha của ông do bởi tăng thượng mạn ấy nên sanh vào loài
chó hạ tiện”.
Phạm
chí tăng thượng mạn,
Chết
rồi sanh sáu nơi:
Chó,
gà, heo và sói,
Lừa
năm, địa ngục sáu.
“Anh
Vũ Ma-nạp, nếu ông không tin lời Ta nói, ông có thể trở
về nói với con chó trắng rằng, ‘Nếu đời trước là cha
của tôi, chó trắng hãy trở lên giường lớn’. Ma-nạp,
chó trắng tất sẽ trở lên giường lớn. ‘Nếu đời trước
là cha của tôi, chó trắng hãy ăn trong mâm vàng như cũ’.
Này Ma-nạp, chó trắng tất ăn trong mâm vàng như cũ. ‘Nếu
đời trước là cha của tôi, hãy chỉ cho tôi thấy kho tàng
cất dấu vàng bạc, thủy tinh, trân bảo mà tôi không biết’.
Này Ma-nạp, chó trắng chắc chắn sẽ chỉ cho ông thấy kho
tàng cất dấu vàng bạc, thủy tinh và châu báu mà ông không
biết”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử nghe những lời Đức Phật, nói, ghi
nhớ kỹ, nhiễu quanh Đức Thế Tôn xong rồi trở về nhà,
nói với con chó trắng rằng:
“Nếu
đời trước là cha của tôi, chó trắng hãy trở lên giường
lớn”.
Chó
trắng liền trở lên giường lớn.
“Nếu
đời trước là cha của tôi, chó trắng hãy ăn trong mâm vàng
như cũ”.
Chó
trắng liền ăn trong mâm vàng như cũ.
“Nếu
đời trước là cha của tôi, hãy chỉ chỗ kho tàng trước
kia cha tôi cất dấu vàng bạc, thủy tinh, trân bảo mà tôi
không biết”.
Chó
trắng tức thì từ trên giường nhảy xuống, đi đến chỗ
mà đời trước nó ngủ nghỉ, dùng miệng và chân bươi bốn
chân giường.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử liền từ chỗ đó mà được rất
nhiều báu vật. Rồi thì Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử đã được
báu vật, rất đổi vui mừng, quỳ gối bên phải xuống đất,
chấp tay hướng đến Thắng lâm, vườn Cấp cô độc, ba lần
xướng lên những lời tán thán Đức Thế Tôn:
“Những
lời Sa-môn Cù-đàm nói đều không hư dối. Những lời Sa-môn
Cù-đàm nói đều chắc thật. Những lời Sa-môn Cù-đàm nói
đều như thật”.
Ba
lần tán thán Đức Thế Tôn xong, ông từ Xá-vệ đi ra, đến
Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô lượng đại chúng
vây quanh trước sau. Đức Thế Tôn trông thấy Anh Vũ Ma-nạp
Đô-đề Tử từ xa đi đến, Ngài bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi có thấy Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử đi đến không?”
Các
Tỳ-kheo trả lời:
“Bạch
Đức Thế Tôn, thấy”.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử bây giờ mà mạng chung thì như co duỗi
cánh tay, trong khoảnh khắc chắc chắn đi đến chỗ lành.
Vì sao vậy? Vì người ấy đối với Ta rất có thiện tâm.
Nếu có chúng sanh nào do bởi thiện tâm, thân hoại mạng chung
tất đến chỗ lành, sanh vào trong thiên giới”.
Bấy
giờ, Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử đi đến chỗ Đức Phật,
cùng thăm hỏi rồi ngồi xuống một bên.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Thế
nào? Này Ma-nạp, như Ta đã nói, con chó trắng như vậy có
đúng chăng, hay không đúng như vậy?”
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử bạch rằng:
“Bạch
Cù-đàm, thật đúng như đã nói. Kính bạch Cù-đàm, tôi lại
có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho, tôi mới dám tỏ bày”.
“Đức
Thế Tôn bảo:
“Tùy
ý, ông cứ hỏi”.
“Bạch
Cù-đàm, do nhân gì, do duyên gì, chúng sanh kia đều thọ thân
người mà có người cao kẻ thấp, có người đẹp kẻ xấu.
Vì sao vậy? Bạch Cù-đàm, tôi thấy có kẻ sống lâu, người
chết yểu; có kẻ nhiều bệnh, người ít bệnh; lại thấy
có kẻ thân hình đoan chánh, có người không đoan chánh; lại
thấy có kẻ có oai đức, người không oai đức; lại thấy
có kẻ sanh nhằm dòng dõi tôn quý, có người sanh nhằm dòng
dõi ti tiện; lại thấy có kẻ giàu có, có người nghèo hèn;
lại thấy có kẻ thiện trí, có người ác trí”.
Đức
Thế Tôn trả lời:
“Chúng
sanh kia do nơi hành nghiệp của chính mình, nhân bởi nghiệp
mà thọ báo, duyên vào nghiệp, y nơi nghiệp, tùy theo nơi nghiệp
xứ có cao thấp mà chúng sanh có tốt đẹp hay không tốt đẹp”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-môn
Cù-đàm nói vắn tắt quá, không phân biệt một cách rộng
rãi, tôi không thể biết được. Mong Sa-môn Cù-đàm nói một
cách rộng rãi cho tôi nghe để tôi được hiểu rõ ý nghĩa”.
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
Ma-nạp, hãy nghe kỹ và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt một
cách rộng rãi cho ông nghe”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử bạch:
“Kính
vâng, tôi xin vâng lời lắng nghe”.
Đức
Phật nói:
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, do duyên gì mà kẻ nam hay người nữ thọ
mạng rất ngắn ngủi? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào sát
sanh, hung dữ, cực ác, uống máu, ý nghĩ ác hại, không có
tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, cho đến các loài
côn trùng. Người ấy lãnh thọ nghiệp này, tạo tác đầy
đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung, chắc chắn đi đến
chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp địa ngục rồi,
lại sanh vào nhân gian, tuổi thọ rất ngắn ngủi. Vì sao vậy?
Con đường này đưa đến nhận lãnh sự đoản thọ, nghĩa
là kẻ nam hay người nữ sát sanh, hung dữ, cực ác, uống
máu. Này Ma-nạp, nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhơn gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ thọ
mạng rất dài? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào xa lìa nghiệp
sát, đoạn tuyệt nghiệp sát, bỏ hẳn dao gậy, có tâm tàm,
có tâm quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến
loài côn trùng. Người ấy thọ nghiệp này, tạo tác nghiệp
ấy đầy đủ rồi đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn
tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi trời. Mãn kiếp ở cõi
trời, lại sanh vào nhân gian, thọ mạng rất dài. Vì sao vậy?
Con đường này đưa đến nhận lãnh sự trường thọ, nghĩa
là kẻ nam hay người nữ xa lìa nghiệp sát, đoạn tuyệt nghiệp
sát. Này Ma-nạp, nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ đa phần
có tật bệnh? Nếu có kẻ nam hay người nữ nhiễu hại chúng
sanh; người ấy hoặc nắm tay, hoặc dùng cây đá, hoặc dùng
dao gậy nhiễu hại chúng sanh. Người ấy thọ nghiệp này,
tạo thành nghiệp ấy đầy đủ rồi, đến khi thân hoại
mạng chung chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa
ngục. Mãn kiếp địa ngục, lại sanh vào nhân gian, chịu nhiều
tật bệnh. Vì sao vậy? Con đường này đưa đến chỗ chịu
nhiều bệnh, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào nhiễu hại
chúng sanh. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ không
có tật bệnh? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào không nhiễu
hại chúng sanh, người ấy không dùng tay nắm, không dùng cây
đá, không dùng dao gậy nhiễu hại chúng sanh. Người ấy tạo
nghiệp này, tác thành nghiệp ấy đầy đủ rồi, đến khi
thân hoại mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào
trong cõi trời. Mãn kiếp ở cõi trời rồi, lại sanh vào nhân
gian, không có tật bệnh. Vì sao vậy? Con đường này đưa
đến hưởng thọ không tật bệnh, nghĩa là kẻ nam hay người
nữ nào nhiễu hại chúng sanh. Ma-nạp nên biết, nghiệp này
có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có thân
hình không đoan chánh? Nếu có kẻ nam hay người nữ mà tánh
nóng nảy, hay bực dọc, vừa nghe chút ít đã nổi cơn giận
dữ, nổi ganh ghét mà sanh lo buồn, nổi thịnh nộ tranh chấp.
Người ấy thọ lấy nghiệp này, tạo tác đầy đủ rồi,
đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn đưa đến chỗ ác,
sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp địa ngục, lại sanh vào
nhân gian, hình thể không đoan chánh. Vì sao vậy? Vì con đường
này đưa đến thọ báo hình thể không đoan chánh, nghĩa là
kẻ nam hay người nữ nào tánh nóng nảy, hay bực dọc. Ma-nạp
nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có thân
hình đoan chánh? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào tánh không
nóng nảy, không hay bực dọc, người ấy nghe lời nói êm
ái hay thô bỉ cục cằn không nổi cơn giận dữ, không ganh
ghét sanh ra buồn rầu, không nổi thịnh nộ tranh chấp. Người
ấy thọ nghiệp, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại
mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi
trời. Mãn kiếp ở cõi trời lại sanh vào nhân gian, hình thể
đoan chánh. Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến thọ
báo hình thể đoan chánh, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào
tánh không nóng nảy, không nhiều bực dọc. Ma-nạp nên biết,
nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ không
có oai đức? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào bên trong ôm
lòng tật đố; người ấy thấy kẻ khác được cung kính,
cúng dường liền sanh lòng tật đố; nếu thấy kẻ khác có
của thì muốn làm sao của ấy được về mình. Người ấy
tạo nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại
mạng chung chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa
ngục. Mãn kiếp địa ngục rồi, lại sanh vào trong nhân gian,
không có oai đức. Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến
thọ báo không có oai đức, nghĩa là kẻ nam hay người nữ
nào bên trong ôm lòng tật đố. Ma-nạp nên biết, nghiệp này
có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có oai
đức lớn? Nếu có kẻ nam hay người nữ không ôm lòng tật
đố, người ấy thấy kẻ khác được cung kính cúng dường
không sanh lòng tật đố. Nếu thấy kẻ khác có của, không
có lòng ham muốn của ấy được về ta. Người ấy tạo nghiệp
này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung
chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi trời. Mãn
kiếp ở cõi trời rồi, lại sanh vào nhân gian, có oai đức
lớn. Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến thọ báo có
oai đức, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào không ôm lòng
tật đố. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ sanh
vào dòng dõi đê tiện? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào
kiêu ngạo, ngã mạn, người đáng cung kính thì không cung kính,
đáng tôn trọng thì không tôn trọng, đáng quý thì không quý,
đáng phụng thờ thì không phụng thờ, đáng cúng dường thì
không cúng dường, đáng nhường lối thì không nhường lối,
đáng nhường chỗ ngồi thì không nhường chỗ ngồi, đáng
chấp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi thì không chấp tay
hướng về lễ bái, thăm hỏi. Người ấy thọ nghiệp này,
tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc
chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp
địa ngục, lại sanh vào nhân gian, sanh nhằm dòng dõi ti tiện.
Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến thọ báo sanh nhằm
dòng dõi ti tiện, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào kiêu
ngạo, đại mạn. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có quả báo
như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ sanh
nhằm dòng dõi tôn quý? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào
không có lòng kiêu ngạo, đại mạn, người đáng cung kính
thì cung kính, đáng tôn trọng thì tôn trọng, đáng quý thì
quý, đáng phụng thờ thì phụng thờ, đáng cúng dường thì
cúng dường, đáng nhường lối thì nhường lối, đáng nhường
chỗ thì nhường chỗ, đáng chấp tay hướng về lễ bái thăm
hỏi thì chấp tay hướng về lễ bái thăm hỏi. Người ấy
tạo nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại
mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi
trời. Mãn kiếp ở cõi trời, lại sanh vào nhân gian nhằm
dòng dõi tôn quý. Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến
thọ báo sanh nhằm dòng dõi tôn quý, nghĩa là kẻ nam hay người
nữ nào không kiêu ngạo, đại mạn. Ma-nạp nên biết, nghiệp
này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ không
có của cải? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào không làm
thí chủ, không thực hành bố thí cho Sa-môn, Phạm chí, cho
kẻ nghèo cùng đơn độc ở xa đến xin những thứ như đồ
ăn, thức uống, quần áo, mền, vòng hoa, hương thoa, nhà cửa,
giường chõng, đèn dầu và sai dịch. Người ấy tạo nghiệp
này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung
chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn
kiếp địa ngục, lại sanh vào nhân gian, không có của cải.
Vì sao vậy? Vì con đường này đưa đến thọ báo không có
của cải, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào không biết làm
người thí chủ, không thực hành bố thí. Ma-nạp nên biết,
nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có nhiều
của cải? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào biết làm người
thí chủ, biết thực hành bố thí. Người ấy bố thí cho
Sa-môn, Phạm chí và kẻ nghèo cùng, cô độc từ xa tới xin
những thứ như đồ, ăn thức uống, áo quần, mền, vòng hoa,
hương thoa, nhà cửa, giường chõng, đèn dầu và sai dịch.
Người ấy thọ nhận nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi,
đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành,
sanh vào trong cõi trời. Mãn kiếp ở cõi trời, lại sanh vào
nhân gian, có nhiều của cải. Vì sao vậy? Vì con đường này
đưa đến thọ báo có nhiều của cải, nghĩa là kẻ nam hay
người nữ nào làm người chủ bố thí, biết thực hành hạnh
bố thí. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có quả báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có trí
tuệ kém cỏi? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào không thường
đến nơi kia hỏi việc. Nếu có Sa-môn, Phạm chí danh đức,
người ấy không thường đến nơi đó hỏi đạo nghĩa, rằng
‘Thưa chư tôn, thế nào là thiện, thế nào là bất thiện?
Thế nào là tội, thế nào là không tội? Thế nào là vi diệu,
thế nào là không vi diệu? Thế nào là trắng, thế nào là
đen? Trắng đen từ đâu sanh ra? Ý nghĩa của quả báo hiện
tại như thế nào? Ý nghĩa của quả báo vị lai như thế nào?
Ý nghĩa quả báo hậu thế như thế nào?’ Giả sử có hỏi
nhưng không chịu thực hành. Người ấy thọ nghiệp này, tác
thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc
chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp
địa ngục, lại sanh vào nhân gian, có trí tuệ kém cỏi. Vì
sao vậy? Vì con đường này đưa đến thọ báo trí tuệ kém
cỏi, nghĩa là kẻ nam hay người nữ ấy không có thường
đến nơi kia hỏi việc. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có quả
báo như vậy.
“Này
Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có trí
tuệ tốt đẹp? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào thường
hay đến nơi kia hỏi việc. Nếu có Sa-môn, Phạm chí danh đức,
người ấy thường đến nơi ấy mà hỏi đạo nghĩa, rằng
‘Thưa chư tôn, thế nào là nghiệp thiện, thế nào là bất
thiện? Thế nào là tội, thế nào là không tội? Thế nào
là vi diệu, thế nào là không vi diệu? Thế nào là trắng,
thế nào lào đen? Trắng và đen từ đâu sanh ra? Ý nghĩa của
quả báo hiện tại là thế nào? Ý nghĩa của quả báo vị
lai là thế nào? Ý nghĩa quả báo hậu thế như thế nào?”
Hỏi xong lại thường thực hành. Người ấy thọ nghiệp này,
tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc
chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi trời. Mãn kiếp
ở cõi trời, lại sanh vào nhân gian, có trí tuệ tốt đẹp.
Vì sao vậy? –Vì con đường này đưa đến thọ báo có trí
tuệ tốt đẹp, nghĩa là kẻ nam hay người nữ nào thường
hay đến nơi kia hỏi việc. Ma-nạp nên biết, nghiệp này có
quả báo như vậy.
“Ma
Mạp nên biết, tạo tác nghiệp tương xứng với đoản thọ,
tất chịu đoản thọ. Tạo nghiệp tương xứng với trường
thọ, tất được trường thọ. Tạo tác nghiệp tương xứng
với nhiều tật bệnh, tất phải chịu nhiều tật bệnh. Tạo
tác nghiệp tương xứng với ít tật bệnh, tất được ít
tật bệnh. Tạo tác nghiệp tương xứng với sự không đoan
chánh, tất phải thọ sự không đoan chánh. Tạo tác nghiệp
tương xứng với đoan chánh, tất được đoan chánh. Tạo tác
nghiệp tương xứng với không oai đức, tất phải chịu không
oai đức. Tạo tác nghiệp tương xứng với oai đức, tất
được oai đức. Tạo tác nghiệp tương xứng với dòng dõi
ti tiện, tất phải sanh nhằm dòng dõi ti tiện. Tạo tác nghiệp
tương xứng với dòng dõi tôn quý, tất được sanh vào dòng
dõi tôn quý. Tạo tác nghiệp tương xứng với không của cải,
tất bị không của cải. Tạo tác nghiệp tương xứng với
nhiều của cải, tất được nhiều của cải. Tạo tác nghiệp
tương xứng với trí tuệ kém cỏi, tất bị trí tuệ kém
cỏi. Tạo tác nghiệp tương xứng với trí tuệ tốt đẹp,
tất được trí tuệ tốt đẹp.
“Này
Ma-nạp, đó là những điều Ta đã nói từ trước rằng ‘Chúng
sanh do hành nghiệp của chính mình, do nghiệp mà thọ báo,
duyên nơi nghiệp, tùy theo nghiệp xứ cao thấp mà chúng sanh
có tốt đẹp hay không tốt đẹp’”.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu! Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu! Thế
Tôn, nay con tự quy y Phật, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo. Cúi
xin Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc. Kể từ ngày nay,
trọn đời tự quy y cho đến tận mạng. Bạch Đức Thế Tôn,
bắt đầu ngày nay, mong Ngài vào nhà Đô-đề như vào nhà
Ưu-bà-tắc khác tại Xá-vệ, để cho nhà Đô-đề được
lợi nghĩa, được lợi ích an ổn, khoái lạc lâu dài”.
Phật
thuyết như vậy. Anh Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử và vô lượng
chúng sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Bản
Hán, quyển 44. Tương đương Pāli, M.135. Cūḷakammavibhaṅga-suttam.
Hán, biệt dịch, No.78 Phật Thuyết Đâu-điều Kinh, khuyết
danh dịch; No.79 Phật Thuyết Anh Vũ Kinh, Lưu Tống Cầu-na-bạt-đà-la
dịch; No.80 Phật Vị Thủ-ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo
Sai Biệt Kinh, Tùy, Pháp Trí dịch; No.81 Phân Biệt Thiện Ác
Báo Ứng Kinh, Tống, Thiên Tức Tai dịch.
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử 鸚鵡摩納都提子.
No.79: Anh Vũ Ma-lao Đâu-la Tử; No.78: Đâu-diệu Tử Cốc; No.80:
Đáo-đề-đa Tử Thủ-ca Trưởng giả; No.81: Đâu-nễ-dã Tử
Du-ca Trưởng giả; Pāli: Subha māṇava Toddeyyaputta, niên thiếu
Bà-la-môn tên là Subha, con trai của Todeyya.
Bạch
cẩu. No.78: con chó tên Loa 螺;
No.79 nó tên là Bối貝
(in lầm là cụ具)
và No.81 gọi nó là Thương-khư 傷佉,
phiên âm tương đương Pāli là Saṅkha: con sò.