164.
KINH PHÂN BIỆT QUÁN PHÁP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết pháp cho các ngươi, phần đầu
thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa,
có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó
là kinh ‘Phân biệt quán pháp’. Các thầy hãy lắng nghe,
khéo suy tư và ghi nhớ.
Nghe
vậy, các Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con xin vâng lời”.
Đức
Phật bảo rằng:
“Tỳ-kheo,
quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo,
tâm hướng về bên ngoài, bị phân rải, tán loạn, tâm không
an trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng,
này các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi
đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoài, không bị
phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không
sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử
nữa. Đó là tận cùng sự khổ”.
Đức
Phật nói như thế, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào thất
tĩnh tọa.
Khi
ấy, các Tỳ-kheo nghĩ rằng: “Chư Hiền nên biết, Đức Thế
Tôn nói lên điều đó một cách tóm tắt, không phân biệt
rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy vào thất tĩnh tọa.
Thế Tôn chỉ nói: ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi
quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị
phân rải, tán loạn, tâm không an trú vào bên trong, không chấp
thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy quán như thế
nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng
về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên
trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không
còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ’.”
Các
vị ấy lại nghĩ rằng: “Chư Hiền, vị nào có thể phân
biệt rộng rãi điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược?”
Các vị ấy lại nghĩ: “Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh có trí tán
thán. Như vậy, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt
được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược. Này
chư Hiền, hãy cùng nhau đi đến nơi Tôn giả Đại Ca-chiên-diên,
nhờ Tôn giả giải thích điều đó. Nếu Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
phân biệt cho, chúng ta sẽ khéo thọ trì”.
Thế
rồi các Tỳ-kheo cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên,
cùng chào hỏi nhau rồi ngồi qua một bên thưa rằng:
“Thưa
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, nên biết cho rằng, Đức Thế
Tôn nói điều này một cách tóm lược, không phân biệt rộng
rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào phòng tĩnh tọa.
Thế Tôn chỉ nói rằng, ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như vậy.
Ngươi quán như vậy rồi, Tỳø kheo, tâm hướng về bên ngoài,
bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú vào bên trong, không
chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy quán
như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không
hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú
bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi
không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự kho.å’
“Chúng
tôi đã nghĩ rằng, ‘Chư Hiền, vị nào có thể phân biệt
được điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược?’
“Chúng
tôi lại nghĩ, ‘Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được
Thế Tôn và các bậc pham hạnh có trí tán thán. Như vậy,
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt được điều
mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược’. Mong Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên thương xót mà phân biệt rộng rãi cho”.
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói rằng:
“Này
chư Hiền, hãy nghe tôi nói thí dụ. Người có trí nghe thí
dụ thì sẽ hiểu được nghĩa.
“Này
chư Hiền, cũng như ngườøi muốn tìm lõi cây. Vì muốn tìm
lõi cây nên xách búa vào rừng. Người ấy thấy cây đại
thọ có đủ gốc, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi. Người
ấy không đốn gốc, thân, cành và lõi mà chỉ chặt nhánh
và lá thôi. Điều chư Hiền nói ra cũng lại như vậy. Đức
Thế Tôn còn đó mà chư Hiền lại bỏ đi tìm tôi để hỏi
về điều ấy. Vì sao? Chư Hiền nên biết, Thế Tôn là Con
Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng Nói nghĩa
chân đế, hiển hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế Tôn.
“Này
chư Hiền, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi điều đó
như thế này, ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nào? Điều
đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn dạy thế nào, chư Hiền
nên khéo léo thọ trì thế ấy”.
Nghe
thế, các Tỳ-kheo thưa rằng:
“Xin
vâng, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn là Con
Mắt, là Trí, là Nghĩa, là Pháp chủ, là Pháp tướng. Nói
nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả các nghĩa, đều do Thế
Tôn. Chúng tôi đáng lẽ phải đến chỗ Thế Tôn mà hỏi
về điều đó như vầy ‘Bạch Thế Tôn, điều đó thế nào?
Điều đó có nghĩa gì?’ Đức Thế Tôn nói như thế nào,
chúng tôi sẽ khéo thọ trì thế ấy. Nhưng Tôn giả Đại
Ca-chiên-diên thường được Thế Tôn và các bậc phạm hạnh
có tri tán tán. Như vậy, Tôn giả có thể phân biệt được
điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm lược. Mong Tôn giả
Đại Ca-chiên-diên thương xót mà giải thích rộng rãi cho”.
Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên nói:
“Này
chư Hiền, vậy hãy nghe tôi nói.
“Này
chư Hiền, thế nào là tâm
Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn? –Chư
Hiền, với con mắt, Tỳ-kheo con mắt thấy sắc, thức ăn tướng
của sắc, thắc đắm trước vị lạc của tướng của sắc,
thức bị trói buộc bởi vị lạc của tướng của sắc; vị
ấy bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên hướng
ra ngoài, bị phân rải, tán loạn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý; với ý vị ấy nhận thức pháp, thức chạy theo pháp
tướng, thức đắm trước vị lạc của pháp tướng, thức
bị trói buộc bởi vị lạc của pháp tướng, vị ấy bị
vị của vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm nên hướng
ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn.
“Này
Chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài,
bị phân rải, tán loạn.
“Này
chư Hiền, thế nào gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoài,
không bị phân rải, tán loạn?
“Này
chư Hiền, với con mắt, Tỳ-kheo thấy sắc, thức không chạy
theo sắc tướng, thức không đắm trước lạc của sắc tướng,
thức không bị trói buộc bởi lạc của sắc tướng, vị
ấy không bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên
không hướng ra ngoài, không bị phân rải, tán loạn. Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý Tỳ-kheo nhận thức
pháp, thức không chạy theo pháp tướng, thức không đắm trước
lạc của pháp tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc
của pháp tướng. Vị ấy không bị vị ngọt của pháp tướng
cột chặt tâm nên không hướng ra ngoài, không bị chi phối,
tán loạn.
“Này
Chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không hướng ra ngoài,
không bị phân rải, tán loạn.
“Này
chư Hiền, thế nào là tâm Tỳ-kheo không trú vào bên trong?
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác
có quán, có hỷ lạc do ly dục phát sanh, chứng đắc thiền
thứ nhất, thành tựu an trụ. Nhưng thức của vị ấy đắm
trước ở vị ngọt của ly dục, y nơi đó, trú nơi đó, duyên
nơi đó, gắn chặt nơi đó, nên thức không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh
nhất tâm, không giác không quán, có hỷ lạc do định phát
sanh, đắc thiền thứ hai, thành tựu an trú. Nhưng thức của
vị ấy đắm trước nơi vị ngọt của định, y vào đó,
trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của
vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu,
với chánh niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được
Thánh nói là được Thánh xả, niệm, an trú lạc,
đắc thiền thứ ba, thành tựu an trú. Nhưng thức của vị
ấy trú trước vào vị ngọt của ly hỷ, y vào đó, trú vào
đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị
ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu
hỷ trước kia, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh,
đắc thiền thứ tư, thành tựu an trú. Nhưng thức của vị
ấy trú trước vào vị của xả và của niệm, y vào đó,
trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của
vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua mọi sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, không tư duy đến các loại tưởng sai khác,
nhập vô lượng không, thành vô lượng không xứ, thành tựu
và an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị ngọt
của không trí, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn
chặt vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng
không xứ, nhập vô lượng thức, vô lượng thức xứ, thành
tựu an trú. Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị của
thức trí, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt
vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng
thức xứ, nhập vô sở hữu xứ, thành tựu an trú. Nhưng thức
của vị ấy trú trước vào vị của vô sở hữu trí, y vào
đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức
của vị ấy không trú vào bên trong.
“Lại
nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu
xứ, nhập Phi hữu tưởng phi vô tưởng, thành tựu an trú.
Nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị của tưởng trí,
y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó,
nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
“Này
chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo không trú vào bên
trong.
“Này
chư Hiền, thế nào là tâm Tỳ-kheo an trú vào bên trong?
“Chư
Hiền, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán,
có hỷ lạc do ly dục sanh, đắc Thiền thứ nhất, thành tựu
an trú. Thức của vị ấy không trú trước vào vị ngọt của
ly dục, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào
đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh nhất
tâm, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh, đắc
đệ Nhị thiền, thành tựu an trú. Thức của vị ấy không
trú trước vào vị ngọt của định, không y vào đó, không
trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó,
nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo ly hỷ dục, an trụ, vô cầu, chánh
niệm chánh trí, thân cảm giác lạc, điều được Thánh nói
là được Thánh xả, niệm, an trú lạc, đắc Thiền thứ ba,
thành tựu an trụ. Thức của vị ấy không trú trước vào
vị của ly hỷ, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên
vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo diệt khổ, diệt dục, diệt hỷ và
ưu có trước kia, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh,
đắc Thiền thứ tư, thành tựu an trụ. Thức của vị ấy
không trú trước vào vị ngọt của xả và vị của niệm
thanh tịnh, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên
vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, không tư duy đến các loại tưởng sai biệt,
nhập vô lượng không xứ, thành tựu an trụ. Thức của vị
ấy không trú trước vào vị của không trí, không y vào đó,
không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào
đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không
xứ, nhập vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ. Thức của
vị ấy không trú trước vào vị ngọt của thức trí, không
y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn
chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức
xứ, nhập vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ. Thức của vị
ấy không trú trước vào vị ngọt của vô sở hữu trí, không
y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn
chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Lại
nữa, chư Hiền, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô sở hữu xứ,
nhập phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ.
Thức của vị ấy không trú trước vào vị ngọt của vô
tưởng trí, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên
vào đó, không gắn chặt vào đó, nên thức trú vào bên trong.
“Này
chư Hiền, như vậy gọi là tâm Tỳ-kheo trú vào bên trong.
“Này
chư Hiền, thế nào là Tỳ-kheo không chấp thủ mà sợ hãi?
“Chư
Hiền, Tỳ-kheo không ly sắc nhiễm, không ly sắc dục, không
ly sắc ái, không ly sắc khát. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
nào không ly sắc nhiễm, không ly sắc dục, không ly sắc ái,
không ly sắc khát, thì vị ấy muốn được sắc, truy cầu,
đắm trước sắc, trú vào sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là ta. Sắc
là sở hữu của ta’. Khi đã muốn được sắc, truy cầu
sắc, đắm trước sắc, trú vào sắc, nghĩ rằng ‘Sắc là
ta. Sắc là sở hữu của ta’, thì thức nắm bắt sắc. Sau
khi thức nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch thì thức
cũng bị chuyển theo sắc. Khi thức đã bị chuyển theo sắc
thì Tỳ-kheo ấy sanh sợ hãi, tâm trú vào trong đó. Nhơn vì
tâm không biết nên sanh khiếp sợ, lao nhọc, không chấp thủ
mà sợ hãi.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức; Tỳ-kheo không ly thức nhiễm,
không ly thức dục, không ly thức ái, không ly thức khát.
“Này
chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào không ly thức nhiễm, không ly thức
dục, không ly thức ái, không ly thức khát, thì vị ấy muốn
được thức, truy cầu thức, đắm trước thức, trú vào thức,
nghĩ rằng ‘Thức là ta. Thức là sở hữu của ta’. Vị
ấy khi đã muốn đượïc thức, truy cầu thức, đắm trước
thức, trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức là ta. Thức là sở
hữu của ta’ thì thức nắm bắt thức. Sau khi thức nắm
bắt thức, lúc thức ấy biến dịch thì thức cũng bị chuyển
theo thức. Sau khi thức đã bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy
sanh sợ hãi, tâm trú vào trong đó. Nhơn vì tâm không biết
nên sanh khiếp hãi, lao nhọc, không chấp thọ mà sợ hãi.
“Này
chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thọ mà sợ
hãi.
“Này
chư Hiền, thế nào gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không
sợ hãi?
“Chư
Hiền, là Tỳ-kheo ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly
sắc khát.
“Này
chư Hiền, nếu Tỳ-kheo nào ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly
sắc ái, ly sắc khát, thì vị ấy không muốn được sắc,
không truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú vào
sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là
sở hữu của ta’. Vị ấy đã không muốn được sắc, không
truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú vào sắc
nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là sở
hữu của ta’ thì thức không nắm bắt sắc. Khi thức đã
không nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch, thức không
bị chuyển theo sắc. Thức đã không bị chuyển theo sắc thì
vị ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú vào trong đó. Nhơn
vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp
thọ, không sợ hãi.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức; Tỳ-kheo ly thức nhiễm, ly
thức dục, ly thức ái, ly thức khát. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo
nào ly thức nhiễm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức khát
thì vị ấy không muốn đắc thức, không truy cầu thức, không
đắm trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức
không phải là ta. Thức không phải là sở hữu của ta’.
Tỳ-kheo ấy khi đã không muốn được thức, không truy cầu
thức, không đám trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng
‘Thức không phải là ta. Thức không phải là của ta’, thì
thức không nắm bắt thức. Khi thức đã không nắm bắt thức,
lúc thức kia biến dịch, thức không bị chuyển theo thức.
Khi thức không bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy không sanh
sợ hãi, tâm không trú vào trong đó. Nhơn vì tâm biết nên
không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ
hãi.
“Này
chư Hiền, như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không
sợ hãi.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn nói điều đó tóm lược, không phân
biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vào phòng
tĩnh tọa. Ngài chỉ nói rằng ‘Tỳ-kheo, quán như vậy như
vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳ-kheo, tâm hướng về bên
ngoài, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú vào bên trong,
không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy
quán như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm
không hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn,
tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy
các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận
cùng sự khổ’. Đức Thế Tôn đã nói điều ấy tóm lược,
không phân biệt rộng rãi như vậy đó. Tôi đã dùng cú này,
văn này giải thích rộng rãi như thế. Này chư Hiền, hãy
đến trình bày với Thế Tôn đầy đủ. Nếu Đức Thế Tôn
nói điều đó như thế nào thì chư Hiền thọ trì như thế
ấy”.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo ấy nghe Tôn giả Đại Ca-chiên-diên nói
như vậy, khéo thọ trì, đọc tụng, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đi quanh Tôn giả ấy ba vòng rồi đi đến chỗ Thế
Tôn, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên mà thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nói tóm lược về điều đó mà
không phân biệt rộng rãi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
vào thất tĩnh tọa, thì Tôn giả Đại Ca-chiên-diên với cú
như thế, văn như thế đã giải thích rộng rãi về điều
đó”.
Đức
Thế Tôn nghe như vậy, liền tán thán rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Trong số đệ tử của Ta, đó là vị có mắt,
có trí, có pháp, có nghĩa. Vì sao? Vì đạo sư nói điều ấy
tóm lược, không phân biệt rộng rãi cho các đệ tử, mà
đệ tử ấy đã bằng cú như thế, văn như thế để giải
thích rộng rãi. Cho nên những gì mà Ca-chiên-diên đã nói,
các ngươi hãy thọ trì như vậy. Vì sao? Vì thuyết quán nghĩa
phải như vậy.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Hán:
Thánh sở thuyết Thánh sở xả niệm lạc trú聖說聖所捨念樂住.
Pāli: yaṃ taṃ āriyā ācikkhanti upekkhako satimā sukhaviharī,
điều mà các Thánh nói là xả,an
trú lạc với chánh niệm.