163.
KINH PHÂN BIỆT LỤC XỨ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết pháp cho các ngươi, phần đầu
thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa,
có văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh. Đó
là phân biệt về sáu xứ. các ngươi hãy lắng nghe, khéo suy
tư và ghi nhớ”.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con xin vâng lời”.
Đức
Phật, bảo rằng:
“Này
các thầy Tỳ-kheo, sáu xứ, nên biết, là bên trong vậy;
sáu xúc xứ
nên biết bên trong; mười tám ý hành
nên biết bên trong; ba mươi sáu đao kiếm
nên biết bên trong. Trong đó đoạn trừ cái kia, thành tựu
cái này, vô lượng thuyết pháp nên biết bên trong. Có ba ý
chỉ,
là những điều mà bậc Thánh phải tu tập. Sau khi tu tập
mới có thể giáo hóa đồ chúng,
đó là bậc Vô thượng Điều ngự con người,
là điều ngự người thú hướng tất cả phương’. Như vậy
là phân biệt lục xứ.
“Nói
rằng, ‘sáu xứ nên biết bên trong’, do nhơn gì mà nói như
thế? Đó là xứ là mắt; xứ là tai, mũi, lưỡi, thân và
ý. Nói rằng ‘sáu xứ nên biết bên trong’ là nhơn đó mà
nói.
“Nói
rằng ‘Sáu xúc xứ nên biết bên trong’, do nhơn gì mà nói
như vậy? Đó là xúc con mắt thì thấy sắc, xúc lỗ tai thì
nghe tiếng, xúc của mũi thì ngửi mùi, xúc của lưỡi thì
nếm vị, xúc của thân thì cảm giác, xúc bởi ý thì biết
pháp. Nói rằng ‘sáu xúc xứ nên biết bên trong’ là nhơn
đó mà nói.
“Nói
rằng ‘Mười tám ý hành nên biết bên trong’, do nhơn gì
mà nói như vậy? Đó là Tỳ-kheo mắt đã thấy sắc rồi phân
biệt sắc mà an trụ nơi hỷ, phân biệt các sắc mà an trụ
nơi ưu, phân biệt các sắc mà an trụ nơi xả. Cũng vậy,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ý đã biết pháp rồi phân biệt
pháp mà an trụ nơi hỷ, phân biệt pháp mà an trụ nơi ưu,
phân biệt pháp mà an trụ nơi xả. Đó gọi là phân biệt
sáu hỷ, phân biệt sáu ưu, phân biệt sáu xả. Tổng thuyết
là mười tám ý hành. Nói rằng ‘mười tám ý hành nên biết
bên trong’ là nhơn đó mà nói.
“Nói
rằng ‘Ba mươi sáu loại đao kiếm nên biết bên trong’,
do nhơn gì mà nói như vậy? Có sáu hỷ y trên đắm trước,
có sáu hỷ y trên vô dục;
có sáu ưu y trên đắm trước, có sáu ưu y trên vô dục; có
sáu xả y trên đắm trước, có sáu xả y trên vô dục.
“Thế
nào là sáu hỷ y trên đắm trước? Thế nào là sáu hỷ y
trên vô dục? Mắt thấy sắc rồi phát sanh hỷ, nên biết,
có hai loại, hoặc y trên đắm trước, hoặc y trên vô dục.
“Thế
nào là hỷ y đắm trước? Sắc được biết bởi mắt, khả
hỷ, ý niệm, sắc ái, lạc tương ưng với dục;
cái chưa được thì muốn được, đã được thì truy ức,
rồi phát sanh hỷ. Hỷ như vậy gọi là hỷ y trên đắm trước.
“Thế
nào là hỷ y trên vô dục? Biết sắc vô thường, biến dịch,
diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết tất cả
sắc trước kia và bây giờ đều là pháp vô thường, khổ,
hoại diệt. Truy ức như vậy rồi phát sanh hỷ. Hỷ như vậy
gọi là hỷ y trên vô dục.
“Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ý nhận thức pháp rồi sanh
hỷ, nên biết có hai loại, hoặc y trên đắm trước, hoặc
y trên vô dục.
“Thế
nào hỷ y trên đắm trước? Pháp được biết bởi ý, khả
hỷ, ý niệm, pháp ái, lạc tương ưng với dục; cái chưa
được thì muốn được, đã được thì truy ức, rồi phát
sanh hỷ. Hỷ như vậy gọi là hỷ y trên đắm trước.
“Thế
nào gọi là hỷ y trên vô dục? Biết pháp là vô thường,
biến dịch, diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết
tất cả pháp trước kia và bây giờ đều là pháp vô thường,
khổ, hoại diệt. Truy ức như vậy rồi phát sanh hỷ. Hỷ
như vậy gọi là hỷ y trên vô dục.
“Thế
nào là sáu ưu y trên đắm trước? Thế nào là sáu ưu y trên
vô dục? Mắt thấy sắc rồi phát sanh ưu, nên biết có hai
loại: hoặc y trên đắm trước, hoặc y trên vô dục.
“Thế
nào là ưu y trên đắm trước? Sắc được biết bởi mắt,
khả hỷ, û ý niệm, sắc ái, lạc tương ưng với dục, cái
chưa được mà không được, đã được nhưng trong quá khứ
bị phân tán, hoại diệt, biến dịch nên sanh ưu. Ưu như vậy
gọi là ưu y trên đắm trước.
“Thế
nào là ưu y trên vô dục? Biết sắc là pháp vô thường, biến
dịch, diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết tất
cả sắc trước kia và bây giờ đều là pháp vô thường,
khổ, pháp hoại diệt. Truy ức như vậy rồi nghĩ rằng ‘Ta
lúc nào thì thành tựu, an trú nơi xứ mà các bậc Thánh đã
thành tựu, an trú?’ Do ước nguyện chứng nhập tối thượng
ấy mà lo sợ,
sầu khổ nên phát sanh ưu. Ưu như vậy gọi là ưu y trên vô
dục.
“Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ý nhận thức pháp rồi sanh
ưu, nên biết có hai loại: hoặc y trên đắm trước, hoặc
y trên vô dục.
“Thế
nào là ưu y trên đắm trước? Pháp được biết bởi ý, khả
hỷ, niệm, pháp ái, lạc tương ưng với dục, cái chưa được
mà không được, cái đã được nhưng trong quá khứ bị phân
tán, hoại diệt, biến dịch nên sanh ưu. Ưu ấy gọi là ưu
y trên đắm trước.
“Thế
nào là ưu do vô dục? Biết pháp là vô thường, biến dịch,
diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết tất cả
pháp trước kia và bây giờ đều vô thường, khổ, hoại diệt.
Truy ức như vậy rồi nghĩ rằng ‘Ta lúc nào thì thành tựu,
an trú vào xứ mà các bậc Thánh đã thành tựu, an trú?’
Do ước nguyện chứng nhập tối thượng ấy mà lo sợ, sầu
khổ nên phát sanh ưu. Ưu như vậy gọi là ưu y trên vô dục.
“Thế
nào là xả y trên đắm trước? Thế nào là xả y trên vô
dục? Mắt thấy sắc phát sanh xả, nên biết có hai loại:
hoặc y trên đắm trước, hoặc y trên vô dục.
“Thế
nào là xả y trên đam mê? Mắt thấy sắc rồi phát sanh xả.
Phàm phu ngu si hoàn toàn
không đa văn, không trí tuệ, đối với sắc có xả nhưng
không xuất ly sắc. Đó là xả y trên đam mê.
“Thế
nào là xả y trên vô dục? Biết sắc vô thường, biến dịch,
diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết tất cả
sắc trước kia và bây giờ đều là vô thường, khổ, hoại
diệt. Truy ức như vậy rồi an trụ nơi xả. Nếu vị nào
dốc lòng tu tập xả như thế, thì đó là xả y trên vô dục.
“Cũng
vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ý nhận thức pháp rồi phát
sanh xả, nên biết rằng có hai loại: hoặc y trên đắm trước,
hoặc y trên vô dục.
“Thế
nào là xả y trên đam mê? Ý nhận thức, phát sanh xả. Phàm
phu ngu si, hoàn toàn không đa văn, không trí tuệ, đối với
pháp có xả nhưng không xuất ly pháp. Đó là xả y trên đắm.
“Thế
nào là xả y trên vô dục? Ý biết pháp là vô thường, biến
dịch, diệt tận, vô dục, tịch diệt, tịch tĩnh; biết pháp
trước kia hay bây giờ đều là vô thường, khổ, hoại diệt.
Truy ức như vậy rồi an trụ nơi xả. Ai dốc lòng tu tập
xả ấy, thì đó là xả y trên vô dục.
“Đó
là sáu hỷ y trên đắm trước, sáu hỷ y trên vô dục; sáu
ưu y trên đắm trước, sáu ưu y trên vô dục; sáu xả y trên
đắm trước, sáu xả y trên vô dục. Tổng thuyết là ba mươi
sáu thứ đao kiếm nên biết bên trong. Do nhơn đó mà nói như
thế.
“Nói
rằng ‘Trong đó đoạn trừ cái kia, thành tựu cái này’,
do nhơn gì mà nói như vậy? Đó là, đối với sáu hỷ y trên
vô dục này, hãy thủ lấy cái này, y trên cái này, an trú
nơi cái này; còn đối với sáu hỷ y trên đắm trước ấy
thì hãy hủy diệt cái kia, đoạn trừ cái kia, nhổ cái kia
ra. Như vậy là đoạn trừ cái kia.
“Đối
với sáu ưu y trên vô dục này, hãy thủ lấy cái này, y trên
cái này, an trú nơi cái này; còn đối với sáu ưu y trên đám
trước này, hãy hủy diệt cái kia, đoạn trừ cái kia, nhổ
cái kia ra. Như vậy là đoạn trừ cái kia.
“Đối
với sáu xả y trên vô dục này, hãy thủ lấy cái này, y trên
cái này, an trú nơi cái này; còn đối với sáu xả y trên
đắùm trước này, hãy hủy diệt cái kia, đoạn trừ cái
kia, nhổ cái kia ra. Như vậy là đoạn trừ cái kia.
“Có
loại xả có vô lượng xúc, sai biệt xúc;
có loại xả chỉ có một xúc, không sai biệt xúc.
“Thế
nào là xả có vô lượng xúc, sai biệt xúc? Nếu xả đối
với sắc, đối với thanh, đối với hương, đối với vị,
đối với xúc, thì xả ấy có vô lượng xúc, sai biệt xúc.
“Thế
nào xả chỉ có một xúc, không sai biệt xúc? Là xả hoặc
y vào vô lượng không xứ, hoặc y vào vô lượng thức xứ,
hoặc y vào vô sở hữu xứ, hoặc y vào phi hữu tưởng phi
vô tưởng xứ, thì xả ấy chỉ có một xúc, không sai biệt
xúc.
“Đối
với xả có một xúc, không sai biệt xúc, hãy thủ lấy cái
này, y trên cái này, an trú nơi cái này. Đối với xả có
vô lượng xúc, sai biệt xúc, hãy hủy diệt cái kia, đoạn
trừ cái kia, nhổ cái kia ra. Như vậy là đoạn trừ cái kia.
Thủ vô lượng, y vô lượng, trú vô lượng, tức là đối
với xả có một xúc, không sai biệt xúc, hãy thủ lấy cái
này, y trên cái này, an trú nơi cái này. Đối với xả có
vô lượng xúc, sai biệt xúc, hãy hủy diệt cái kia, đoạn
trừ cái kia, nhổ cái kia ra. Như vậy là đoạn trừ cái kia.
“Nói
rằng ‘Trong đó đoạn trừ cái kia, thành tựu cái này’
là nhơn đó mà nói.
“Nói
rằng ‘Vô lượng thuyết pháp nên biết bên trong’, do nhơn
gì mà nói như thế?
“Như
Lai có bốn đệ tử, có tăng thượng hành, tăng thượng ý,
tăng thượng niệm, tăng thượng tuệ, có biện tài, thành
tựu biện tài bậc nhất, thọ đến một trăm tuổi. Như Lai
thuyết pháp cho đệ tử ấy suốt cả một trăm năm, ngoại
trừ lúc ăn lúc uống, lúc đại tiểu tiện, lúc ngủ nghỉ
và lúc tụ hội; những pháp mà Như Lai thuyết kia, có văn
cú, pháp cú, quán nghĩa, bằng tuệ mà quán nghĩa một cách
nhanh chóng, không có hỏi lại Như Lai về pháp nữa. Vì sao?
Vì pháp được Như Lai giảng thuyết không có giới hạn, không
thể cùng tận, có văn cú, pháp cú, quán nghĩa, cho đến lúc
bốn đệ tử lâm chung.
“Cũng
như bốn hạng người bắn giỏi, cùng kéo mạnh dây cung mà
bắn một lượt, khéo học kỹ, khéo biết rõ. Cũng vậy, Thế
Tôn có bốn đệ tử, có tăng thượng hành, tăng thượng ý,
tăng thượng niệm, tăng thượng tuệ, có biện tài, thành
tựu biện tài bậc nhất, thọ đến một trăm tuổi. Như Lai
thuyết pháp cho đệ tử ấy suốt cả một trăm năm, ngoại
trừ lúc ăn lúc uống, lúc đại tiểu tiện, lúc ngủ nghỉ
và lúc tụ hội; những pháp mà Như Lai thuyết kia, có văn
cú, pháp cú, quán nghĩa, bằng tuệ mà quán nghĩa một cách
nhanh chóng, không có hỏi lại Như Lai về pháp nữa. Vì sao?
Vì pháp được Như Lai giảng thuyết không có giới hạn, không
thể cùng tận.
“Nói
rằng ‘Vô lượng thuyết pháp nên biết bên trong’, là nhơn
đó mà nói.
“Nói
rằng ‘Có ba ý chỉ, là những điều mà bậc Thánh phải
tu tập. Sau khi tu tập mới có thể giáo hóa đồ chúng’,
do nhơn gì mà nói như thế?
“Như
Lai thuyết pháp cho đệ tử là vì mến yêu, mưu cầu nhiều
thiện lợi và hữu ích, an ổn và khoái lạc, phát khởi tâm
từ bi, bảo rằng ‘Đây là lợi ích, đây là khoái lạc,
đây là lợi ích khoái lạc’. Nếu các đệ tử kia mà không
cung kính, không thuận hành, không xác lập nơi trí, tâm không
thực hành pháp và tùy pháp,
không thọ chánh pháp, làm trái lời Thế Tôn, không thể đắc
định; nhưng Thế Tôn không vì thế mà buồn rầu. Thế Tôn
chỉ xả mà không làm gì, thường chánh niệm, chánh trí. Đó
là ý chỉ thứ nhất mà bậc Thánh tu tập. Sau khi đã tu tập
mới có thể giáo hóa đồ chúng.
“Lại
nữa, Như Lai thuyết pháp cho đệ tử vì thương tưởng mến
yêu, vì mưu cầu thiện lợi hữu ích, an ổn và khoái lạc,
phát khởi tâm từ bi, nói rằng ‘Đây là hữu ích, đây là
khoái lạc, đây là hữu ích khoái lạc’. Nếu đệ tử kia
cung kính thực hành theo chánh trí, tâm thực hành pháp và tùy
pháp, thọ trì chánh pháp, không trái lời Thế Tôn, đắc định,
thì Thế Tôn cũng không vì thế mà hoan hỷ. Thế Tôn chỉ
xả, mà không làm gì cả, thường chánh niệm, chánh trí. Đó
là ý chỉ thứ hai mà bậc Thánh tu tập. Sau khi đã tu tập
mới có thể giáo hóa đồ chúng.
“Lại
nữa, Như Lai thuyết pháp cho đệ tử vì thương tưởng mến
yêu, vì mưu cầu thiện lợi hữu ích, an ổn và khoái lạc,
phát khởi tâm từ bi, bảo rằng ‘Đây là hữu ích, đây
là khoái lạc, đây là hữu ích khoái lạc’. Nhưng có đệ
tử không cung kính, cũng không thực hành, không vững chánh
trí, tâm không hướng đến pháp tùy pháp hành, không thọ
trì chánh pháp, trái lời Thế Tôn, không thể đắc pháp. Trái
lại, có đệ tử cung kính, thực hành, vững chánh trí, tâm
quy hướng đến pháp tùy pháp hành, thọ trì chánh pháp, không
trái lời Thế Tôn, đắc định, Thế Tôn cũng không vì thế
mà buồn rầu hay hoan hỷ. Thế Tôn chỉ xả, mà không làm
gì cả, thường chánh niệm, chánh trí. Đó là ý chỉ thứ
ba mà bậc Thánh tu tập. Sau khi đã tu tập mới có thể giáo
hóa đồ chúng.
“Nói
rằng ‘Có ba ý chỉ, là những điều mà bậc Thánh phải
tu tập. Sau khi tu tập mới có thể giáo hóa đồ chúng’,
là nhơn đó mà nói.
“Nói
rằng ‘Bậc Vô Thượng điều ngự con người, là điều ngự
người thú hướng tất cả phương’, do nhơn gì mà nói như
vậy?
“Điều
ngự con người, đó là nói điều ngự con người chỉ thú
hướng một phương, hoặc phương Đông, hoặc phương Nam, hoặc
phương Tây, hoặc phương Bắc. Chẳng hạn như điều ngự
voi, là vị điều ngự chỉ dẫn con voi đến một phương,
hoặc phương Đông, hoặc phương Nam, phương Tây, phương Bắc.
Điều ngự ngựa là vị điều ngự chỉ dẫn con ngựa đến
một phương, hoặc phương Đông, hoặc phương Nam, phương Tây,
phương Bắc. Điều ngự bò là vị điều ngự chỉ dẫn con
bò đến một phương, hoặc phương Đông, hoặc phương Nam,
phương Tây, phương Bắc. Trái lại, Vô thượng Điều ngự
con người thú hướng đến tất cả phương. Trong đó, phương
là có sắc thì quán sắc, đó là phương thứ nhất.
Bên trong không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, đó là
phương thứ hai. Tịnh giải thoát, thân chứng thành tựu, an
trú, đó là phương thứ ba. Vượt qua mọi sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, không nghĩ đến các loại tưởng sai biệt,
nhập vô lượng hư không, thành tựu và an trú vô lượng không
xứ, đó là phương thứ tư. Vượt qua mọi vô lượng không
xứ, nhập vô lượng thức, thành tựu an trú vô lượng thức
xứ, đó là phương thứ năm. Vượt qua mọi vô lượng thức
xứ, nhập vô sở hữu, thành tựu và an trú vô sở hữu xứ,
đó là phương thứ sáu. Vượt qua mọi vô sở hữu xứ, nhập
phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trú, đó là
phương thứ bảy. Vượt qua mọi phi hữu tưởng phi vô tưởng
xứ, tưởng và thọ đã diệt tận, thân chứng thành tựu,
an trú, do tuệ mà quán lậu tận, vĩnh viễn đoạn trừ, đó
là phương thứ tám.
“Nói
rằng ‘Bậc Vô Thượng điều ngự con người, là điều ngự
người thú hướng tất cả phương’ là nhơn đó mà nói”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Hán:
lục xứ đương tri nội dã 六處知內也.
Pāli: ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, sáu nội xứ cần được
biết.
Tam
thập lục đao 三十六刀.
Pāli: chattiṃsa sattapadā, 36 cú (phạm trù), hay dấu chân,
của chúng sanh; 36 loại chúng sanh. Trong bản Hán, đọc là
sattha (đao kiếm) thay vì satta (hữu tình). Tỳ-bà-sa (No.1545,
Đại 27, trang 718 a): Tam thập lục sư cú 三十六師句.
Pāli: Sattapadā (36 cú nghĩa, hay phạm trù, về chúng sanh). Cả
ba bản đọc theo ngữ nguyên khác nhau. Pāli: satta, chúng
sanh. Bản Hán này, đao kiếm: do Skt. Śastra (Pāli:
sattha), Tỳ-bà-sa; Skt. Śāstra: đạo sư (Pāli: sattha).
Tham
chiếu Pāli: tatr’idaṃ nissāya idaṃ pajahatha. tayo satipaṭṭhānā
yad ariyo sevati, yad ariyo sevannāno satthā gaṇaṃ anusāsituṃ
arahati, “trong đây, y trên cái này, các ngươi hãy đoạn trừ
cái này; có ba niệm trụ mà bậc Thánh tập hành, và khi tập
hành nó bậc Thánh xứng đáng là Đạo sư giáo huấn đồ
chúng”.
Hán:
điều ngự sĩ, chế ngự hay huấn luyện con người và
đánh xe đưa con người đến chỗ an ổn. Pāli: so vuccati yoggācariyānaṃ
anuttaro purisadammasārathī ti, vị ấy được gọi là vị hướng
đạo và huấn luyện con người, cao cả nhất trong tất cả
những người đánh xe.
Y
trước y vô dục 依著依無欲.
Tỳ-bà-sa (đd., như trên): Y đam thị y xuất ly 依耽嗜依出離.
Pāli:gehaseta, nekkhammasita:
y tại gia và y xuất gia. Do từ nguyên trong Skt. hay đồng âm
của từ gaha (Pāli) có nghĩa là nhà (Skt. gṛha) và sự nắm
chặt (Skt. graha) nên có những nghĩa khác nhau như thế.
Hán:
thượng cụ xúc nguyện khủng bố上具觸願恐上具觸願恐怖;
không hiểu ý. Pāli: anuttaresu vimokkhesu pihaṃ upaṭṭhāyato
uppajjati, khởi lên ước muốn đối với các giải thoát vô
thượng.
Từ
đây trở xuống, nói về tám giải thoát, cũng nói là tam bối.
Xem giải thích Tập Dị 18, Đại 16, trang 443.