162.
KINH PHÂN BIỆT LỤC GIỚI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Ma-kiệt-đà, trú ở thành
Vương xá.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn đến nhà thợ gốm,
nói rằng:
“Này
thợ gốm, Ta nay muốn tạm trú ở phòng làm đồ gốm một
đêm, ông có thuận chăng?”
Thợ
gốm trả lời:
“Con
chẳng trở ngại gì, nhưng đã có một Tỳ-kheo trú trong đó
trước rồi. Nếu vị ấy thuận thì xin tùy ý”.
Lúc
ấy, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi
đã trú ở trong phòng làm đồ gốm ấy trước rồi.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn ra khỏi nhà thợ gốm, đi vào phòng làm
gốm, nói với Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi rằng:
“Này
Tỳ-kheo, Ta nay muốn tạm trú một đêm ở phòng làm gốm,
thầy có thuận chăng?”
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Thưa
Hiền giả, tôi không trở ngại. Vả lại, ở phòng làm gốm
này có chỗ ngồi bằng cỏ đã trải xong, Hiền giả muốn
ở lại thì tùy ý”.
Nghe
vậy, Đức Thế Tôn từ phòng làm gốm đi ra ngoài rửa chân
rồi mới trở vào, lấy ni-sư-đàn trải lên chỗ ngồi bằng
cỏ mà ngồi kiết già, suốt đêm yên lặng tĩnh tọa, định
ý.
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi cũng suốt đêm yên lặng tĩnh tọa,
định ý.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn suy nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo này đi đứng
tịch tĩnh, thật kỳ lạ, thật hiếm có. Ta hãy Tỳ-kheo này,
‘Thầy của bạn là ai? Y theo ai mà bạn xuất gia, học Đạo,
thọ Pháp?’.” Nghĩ như vậy rồi, Thế Tôn bèn hỏi:
“Tỳ-kheo,
Thầy của bạn là ai? Y theo ai mà bạn xuất gia, học Đạo,
thọ Pháp?”
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Này
Hiền giả, có Sa-môn Cù-đàm, dòng họ Thích, đã từ bỏ
tông tộc, cạo bỏ râu tóc, khoác y ca-sa, chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, học Đạo, đã giác ngộ Vô
thượng Chánh tận giác.
Vị ấy là Thầy của tôi. Tôi y theo vị ấy mà xuất gia học
Đạo, thọ Pháp”.
Thế
Tôn lại hỏi:
“Tỳ-kheo,
đã từng thấy Thầy chưa?”
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Chưa
thấy”.
Thế
Tôn hỏi:
“Nếu
gặp Thầy, bạn có nhận ra không?”
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Không
biết. Nhưng, này Hiền giả, tôi nghe rằng Thế Tôn là Như
Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Ngài
là Thầy của tôi. Tôi y theo Ngài mà xuất gia, học Đạo,
thọ Pháp”.
Khi
ấy, Thế Tôn lại suy nghĩ như vầy: “Thiện nam tử này y
theo Ta mà xuất gia, học Đạo, thọ Pháp. Ta nay có nên thuyết
pháp chăng?”
Suy
nghĩ như vậy rồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi:
“Này
Tỳ-kheo, nay Ta sẽ thuyết pháp cho thầy, phần đầu toàn thiện,
phần giữa cũng toàn thiện và phần cuối cũng toàn thiện;
có nghĩa, có văn đầy đủ, thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh.
Đó gọi là ‘Phân biệt sáu giới’.
Thầy hãy lắng nghe, khéo suy tư và ghi nhớ.
Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi đáp:
“Xin
vâng”.
Đức
Phật bảo rằng:
“Này
Tỳ-kheo, con người
có sáu giới tụ, có sáu xúc xứ, có mười tám ý hành, có
bốn trụ xứ. Nếu ai an trú vào đó sẽ không nghe đến chuyện
sầu não.
Sau khi không nghe chuyện sầu não thì ý không chán ghét, không
ưu sầu, không lao nhọc, không sợ hãi. Như vậy, có sự khuyên
bảo là đừng buông lung trí tuệ, hãy thủ hộ chân đế và
trưởng dưỡng huệ thí.
Này Tỳ-kheo, hãy học về tối thượng, hãy học về chí tịch,
như vậy là phân biệt về sáu giới.
“Này
Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu giới tụ, nhân gì mà
nói như thế? Đó là, giới của đất, giới của nước, giới
của lửa, giới của gió, giới hư không và giới của thức.
Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu giới tụ là nhân
đó mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu xúc xứ,
do nhân gì mà nói như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, xúc con mắt
thấy sắc, xúc tai nghe tiếng, xúc mũi ngửi mùi, xúc lưỡi
nếm vị, xúc thân cảm xúc, xúc ý biết pháp. Này Tỳ-kheo,
nói rằng con người có sáu xúc xứ là do nhânn đó mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, nói con người có mười tám ý hành,
do nhơn gì mà nói như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, mắt thấy
sắc, quán
sắc rồi an trú nơi hỷ, quán sắc rồi an trú nơi ưu, quán
sắc rồi an trú nơi xả. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý. Ý nhận thức pháp, quán pháp rồi an trú nơi hỷ, quán
pháp rồi an trú nơi ưu, quán pháp rồi an trú nơi xả. Này
Tỳ-kheo, như vậy sáu hỷ quán,
sáu ưu quán, sáu xả quán hợp lại là mười tám ý hành.
Nói rằng con người có mười tám ý hành là do nhơn đó mà
nói.
“Này
Tỳ-kheo, nói rằng con người có bốn trụ xứ,
do nhơn gì mà nói như thế? Là chân đế trụ xứ, huệ trụ
xứ, thí xả trụ xứ và tịch tĩnh
trụ xứ. Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có bốn trụ xứ
là do nhơn đó mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ? Tỳ-kheo
phân biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có
nội địa giới, được chấp thọ nơi hữu tình.
Nội địa giới là thế nào? Là tóc, lông, móng, răng, da dày,
da non, thịt, xương, gân, thận, tim, gan, phổi, lá lách, ruột
già, bao tử, phổi, tương tự như thế, trong thân này còn
những thứ khác nữa. Những gì đượïc thâu nhiếp trong thân
thuộc về chất cứng, tính cứng ở bên trong, được chấp
thọ nơi hữu tình là nội địa giới’. Này Tỳ-kheo, dù
là nội địa giới hay ngoại địa giới đều gọi chung là
địa giới. Tỳ-kheo đó dùng trí tuệ quán biết như thật
rằng ‘Tất cả những cái ấy không phải là sở hữu của
ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy. Những cái
ấy cũng không phải là tự ngã’.
Tâm vị ấy không nhiễm trước địa giới ấy. Đó là Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo phân
biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có nội
thủy giới, được chấp thọ nơi hữu tình. Nội thủy giới
là gì? Là não tủy,
nước mắt, mồ hôi, nước mũi, mủ, máu, mỡ, tủy, nước
giải, đờm, nước tiểu, tương tự như thế, trong thân này
còn có nhiều thể khác nữa. Những gì được thâu nhiếp
trong thân, thuộc về chất nước, tính nước nhuần thấm
ở bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình, đó là nội
thủy giới’. Này Tỳ-kheo, nội thủy giới hay ngoại thủy
giới đều gọi chung là thủy giới. Tỳ-kheo ấy dùng trí
tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy
không phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu
của những cái ấy. Những cái ấy cũng không phải là tự
ngã’. Tâm vị ấy không nhiễm trước thủy giới ấy. Đó
là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo nào
phân biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có
nội hỏa giới được chấp thọ nơi hữu tình. Nội hỏa
giới là gì? là cái làm cho thân phát nhiệt, thân nóng, thân
phiền muộn, thân âm ấp, làm tiêu đồ ăn thức uống, tương
tự như thế, trong thân này còn những thứ khác nữa, những
gì được thâu nhiếp trong thân thuộc về lửa, tức lửa
làm nóng ở bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình. Đó
là nội hỏa giới’. Này Tỳ-kheo, dù nội hỏa giới hay ngoại
hỏa giới đều gọi chung là hỏa giới. Vị ấy dùng trí
tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy
không phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu
của những cái ấy. Những cái ấy cũng không phải là tự
ngã’. Tâm Tỳ-kheo ấy không nhiễm trước hỏa giới ấy.
Đó là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo nào
phân biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có
nội phong giới được chấp thọ nơi hữu tình. Nội phong
giới là thế nào? Là gió thổi lên, gió thổi xuống, gió
ngang hông, gió co thắt, gió nhảy lên, gió phi đạo, gió cử
động tay chân, gió ở hơi thở ra, thở vào, tương tự như
thế, trong thân này còn các thứ khác nữa. Những gì được
thâu nhiếp trong thân, thuộc về gió, tánh gió, lưu động
bên trong, được chấp thọ nơi hữu tình. Đó là nội phong
giới’. Này Tỳ-kheo, dù ngoại phong giới hay nội phong giới
đều gọi là phong giới. Tỳ-kheo ấy dùng trí tuệ quán biết
như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy không phải là sở
hữu của ta. Ta không phải là sở hữu của những cái ấy.
Những cái ấy cũng không phải là tự ngã’. Đó là Tỳ-kheo
không buông lung trí tuệ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ. Nếu có Tỳ-kheo phân
biệt thân giới như thế này: ‘Nay thân này của ta có nội
không giới, được chấp thọ nơi hữu tình. Nội không giới
là gì? Là lỗ trống ở mắt, lỗ trống ở tai, lỗ trống
ở mũi, lỗ trống ở miệng, cái khiến cho cổ họng cử động,
tức để cho thức ăn được nhai và nuốt từ từ đi qua cổ
họng, đi xuống rồi ra ngoài, tương tự như thế, trong thân
này có những thứ khác nữa thuộc về hư không. Ở chỗ hư
không ấy không bị da, thịt, xương, gân lấp kín. Đó là
nội không giới’. Này Tỳ-kheo, dù nội không giới hay ngoại
không giới đều gọi chung là không giới. Tỳ-kheo dùng trí
tuệ quán biết như thật rằng: ‘Tất cả những cái ấy
không phải là sở hữu của ta. Ta không phải là sở hữu
của những cái ấy. Những cái ấy cũng không phải là tự
ngã’. Tâm vị ấy không nhiễm trước không giới ấy. Đó
là Tỳ-kheo không buông lung trí tuệ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về năm giới
này, sau khi biết như thật, tâm không nhiễm trước chúng thì
được giải thoát, chỉ còn có các thức mà thôi. Đó là
những thức nào? Là thức về lạc, thức về khổ, thức về
hỷ, thức về ưu và thức về xả.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn lạc xúc mà sanh lạc thọ,
vị ấy cảm giác lạc thọ. Khi đã cảm giác lạc thọ, vị
ấy biết mình cảm giác lạc thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt
lạc xúc, sau khi diệt lạc xúc này, nếu có lạc thọ do lạc
xúc sanh, lạc thọ ấy cũng diệt, tĩnh chỉ; biết như vậy
rồi, mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn khổ xúc sanh ra khổ thọ, vị ấy cảm giác
khổ thọ. Sau khi đã cảm giác khổ thọ, vị ấy biết đã
cảm giác khổ thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt khổ xúc, sau khi
diệt khổ xúc, nếu có khổ thọ do khổ xúc sanh, vị ấy
cũng diệt tĩnh chỉ; biết như vậy rồi, mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn hỷ xúc sanh ra hỷ thọ, vị ấy cảm giác hỷ
thọ. Khi đã cảm giác hỷ thọ, vị ấy biết đã cảm giác
hỷ thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt hỷ xúc, sau khi diệt hỷ
xúc này, nếu có hỷ thọ do hỷ xúc sanh, vị ấy cũng diệt,
tĩnh chỉ; biết như vậy rồi, mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn ưu xúc sanh ra ưu thọ, vị ấy cảm giác ưu
thọ. Khi đã cảm giác ưu thọ, vị ấy biết đã cảm giác
ưu thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt ưu xúc, sau khi diệt ưu xúc
này, nếu có ưu thọ do ưu xúc sanh, vị ấy cũng diệt, tĩnh
chỉ; biết như vậy rồi, mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn xả xúc sanh ra xả thọ, vị ấy cảm giác xả
thọ. Khi đã cảm giác xả thọ, vị ấy biết đã cảm giác
xả thọ. Nếu Tỳ-kheo nào diệt xả xúc, sau khi diệt xả
xúc này, nếu có xả thọ do xả xúc sanh, vị ấy cũng diệt,
tĩnh chỉ; biết như vậy rồi, mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, nhơn các xúc ấy sanh ra các thọ ấy. Khi đã diệt
các xúc ấy thì các thọ ấy cũng diệt. Vị ấy biết rằng,
thọ này từ xúc mà có, lấy xúc làm gốc, lấy xúc làm tập
khởi, từ xúc sanh ra, lấy xúc làm đầu mối, y cứ nơi xúc
mà hiện hành.
“Này
Tỳ-kheo, cũng như mồi lửa, nhơn cái dùi, sự nỗ lực của
ngườøi và sức nóng mà lửa phát sanh. Này Tỳ-kheo, khi các
dùi cây ấy tách rời nhau thì lửa mà từ đó phát sanh, sức
nóng của lửa và sự chấp thọ của hữu tình, tất cả đều
tắt biến, vắng bặt, im lìm và dùi cây ấy trở nên nguôïi
lạnh. Cũng vậy, này Tỳ-kheo, các xúc ấy thế này hay thế
kia, sanh ra các thọ như thế này hay thế khác. Diệt các xúc
ấy thì các thọ ấy cũng diệt. Như vậy là đã biết thọ
này từ xúc mà có, lấy xúc làm gốc, lấy xúc làm tập khởi,
từ xúc sanh ra, lấy xúc làm đầu mối, y cứ nơi xúc mà hiện
hành.
“Nếu
Tỳ-kheo nào không nhiễm trước ba thọ này, mà giải thoát,
thì Tỳ-kheo ấy chỉ còn có xả cực kỳ thanh tịnh.
“Này
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng, ‘Ta với xả thanh tịnh này
nhập vào vô lượng không xứ;
tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi
đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó. Ta với xả thanh tịnh
này nhập vào vô lượng thức xứ,
vô sở hữu xứ, phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, tu tập
tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó,
duyên nơi đó, buộc chặt vào đó’.
“Này
Tỳ-kheo, cũng như thợ luyện kim lành nghề, dùng lửa đốt
thỏi vàng, dát cho thật mỏng, rồi lại bỏ vào lò nung, đốt
lửa đều đặn và đúng độ, luyện kỹ cho đến lúc tinh
ròng, rất mềm mại và có ánh sáng. Này Tỳ-kheo, thứ vàng
này là do thợ vàng đã đốt lửa đều đặn và đúng độ,
luyện kỹ thật tinh ròng, rất mềm mại và có ánh sáng. Như
vậy rồi, tự thợ vàng ấy làm theo ý mình, như làm dây đính
vào tơ lụa để trang sức áo mới, làm nhẫn tay, vòng tay,
xuyến, chuỗi, lưới tóc... Cũng vậy, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo
ấy nghĩ rằng: ‘Ta với xả thanh tịnh này nhập vào vô lượng
không xứ; tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó,
xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó. Ta với
xả thanh tịnh này nhập vào Vô lượng thức xứ, Vô sở hữu
xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, tu tập tâm như vậy,
y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó,
buộc chặt vào đó’.
“Tỳ-kheo
ấy lại nghĩ, ‘Ta với xả thanh tịnh này, mà y vào vô lượng
không xứ, như vậy thuộc pháp hữu vi. Là pháp hữu vi thì
vô thường. Cái gì là vô thường, cái ấy là khổ. Nếu cái
gì là khổ thì biết là khổ’. Sau khi biết khổ, vị ấy
xả, không còn di chuyển nhập vô lượng không xứ nữa.
“‘Ta
với xả thanh tịnh này, mà y vào Vô lượng thức xứ, Vô
sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, vẫn là thuộc
pháp hữu vi. Là pháp hữu vi thì vô thường. Cái gì là vô
thường, cái ấy là khổ. Nếu cái gì là khổ thì biết là
khổ’. Sau khi biết khổ, vị ấy xả, không còn di chuyển
nhập Vô lượng thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng
phi vô tưởng xứ nữa.
“Này
Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo nào đối với bốn xứ này bằng tuệ
mà quán sát, biết như thật, tâm không thành tựu, không di
chuyển nhập, thì bấy giờ vị ấy không cần phải làm gì,
và cũng không có gì để tư niệm, nghĩa là những gì liên
hệ dến hữu và vô hữu.
Vị ấy cảm giác về thân tối hậu chấp thọ
thì biết cảm giác về thân chấp thọ cuối cùng; cảm giác
về mạng chấp thọ tối hậu
thì biết cảm giác về mạng chấp thọ tối hậu; và biết
khi thân hoại mạng chung, thọ mạng chấm dứt, những gì được
cảm thọ, tất cả đều tịch diệt, tịch tịnh, tĩnh chỉ
và biết là trở thành rất mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, ví như đèn sáng là nhờ dầu và nhờ bấc. Nếu
không có ai đổ thêm dầu, nối thêm bấc, như vậy khi dầu
và bấc có trước đã cháy hết mà những cái sau không được
tiếp nối sẽ không còn gì để chấp thọ nữa. Tỳ-kheo ấy
cũng thế, cảm giác về chấp thọ thân tối hậu thì biết
cảm giác về chấp thọ thân tối hậu; cảm giác về chấp
thọ sanh mạng tối hậu thì biết cảm giác về chấp thọ
sanh mạng tối hậu; và biết rằng, khi thân hoại mạng chung,
sanh mạng chấm dứt thì tất cả những gì được cảm thọ
thảy đều tịch diệt, tịch tịnh, tĩnh chỉ và biết là
trở thành rất mát lạnh.
“Này
Tỳ-kheo, như thế vị ấy được gọi là Tỳ-kheo tối thắng
chánh tuệ, nghĩa là đạt đến cứu cánh diệt tận, lậu
tận. Tỳ-kheo ấy thành tựu như vậy là thành tựu tối thắng
chánh tuệ xứ.
“Này
Tỳ-kheo, sự giải thoát này an trú nơi chân đế, không bị
di động. Chân đế là pháp như thật. Giả dối là pháp hư
vọng. Tỳ-kheo ấy thành tựu tối thắng chân đế xứ.
“Này
Tỳ-kheo, với thí xả, nếu trước kia có oan gia cố cựu thì
bấy giờ vị ấy phóng xả, lìa bỏ, giải thoát, dứt trừ.
Này Tỳ-kheo, đó là Tỳ-kheo tối thắng chánh huệ thí, là
xả ly tất cả mọi sự ở đời, hoàn toàn vô dục, tịch
tĩnh, tĩnh chỉ. Này Tỳ-kheo, thành tựu như thế là thành
tựu tối thắng huệ thí xứ.
“Này
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tâm bị dục, nhuế và si làm cho ô uế,
không được giải thoát, Tỳ-kheo ấy tận diệt tất cả dâm,
nộ, si, vô dục, tịch tịnh, tĩnh chỉ, chứng đắc tối thắng,
tịch tĩnh. Này Tỳ-kheo, thành tựu như thế là thành tựu
tối thắng tịch tĩnh xứ.
“Này
Tỳ-kheo, ai nghĩ rằng ‘Tôi đang là’, ấy là tự đề cao.
Rằng ‘Tôi sẽ hiện hữu’, ấy là tự đề cao. Rằng “Tôi
sẽ không hiện hữu, cũng không phải không hiện hữu’, ấy
là tự đề cao. ‘Tôi sẽ có sắc’, ấy là tự đề cao.
‘Tôi
sẽ không có sắc’, ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ có tưởng’,
ấy là tự đề cao. ‘Tôi sẽ không có tưởng’, ấy là
tự đề cao. ‘Tôi sẽ không có tưởng, không không có tưởng’,
ấy là tự đề cao. Đó làø cống cao, là kiêu ngạo, là phóng
dật.
“Này
Tỳ-kheo, nếu không có tất cả những sự tự đề cao, cống
cao, kiêu ngạo, phóng dật ấy thì ý tịch tĩnh.
“Này
Tỳ-kheo, nếu ý tịch tĩnh thì không chán ghét, không ưu sầu,
không lao nhọc, không sợ hãi. Vì sao? Vì Tỳ-kheo ấy đã thành
tựu pháp nên không còn chán ghét, không chán ghét thì không
ưu tư, không ưu tư thì không sầu não, không sầu não thì
không lao nhọc, không lao nhọc thì không sợ hãi. Nhơn không
sợ hãi nên sẽ đắc Niết-bàn, biết như thật rằng ‘Sự
sanh đã đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã
làm xong, không còn tái sanh nữa’”.
Đức
Thế Tôn thuyết pháp này xong, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn
ly trần cấu, phát sanh pháp nhãn và các pháp. Bấy giờ, Tôn
giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn thấy pháp, đắc pháp, chứng
pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, không còn ai hơn, không
tùy thuộc ai nữa, không còn do dự, đã an trú vào quả chứng
đắc; đối với pháp của Thế Tôn, chứng đắc vô úy, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật
mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con ăn năn! Bạch Thiện Thệ, con ngay từ đầu như
ngu, như si, như khờ dại, như không hiểu biết, không nhận
ra Bậc Lương Điền mà không tự biết. Vì sao? Vì con đã
gọi Như Lai –Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác– là
“Hiền giả”.
Mong Đức Thế Tôn cho con sám hối. Sau khi sám hối, con sẽ
không còn tái phạm nữa”.
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Tỳ-kheo, ngươi quả thực ngu si, quả thực là khờ dại, không
hiểu biết nên đã gọi Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, là “Hiền giả”. Này Tỳ-kheo, nếu ngươi tự
sám hối, đã thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa,
như thế, này Tỳ-kheo, đối với pháp luật của bậc Thánh
như vậy là tăng ích chứ không tổn hại, vì đã tự sám
hối, đã tự thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa”.
Đức
Phật, thuyết như vậy. Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn sau
khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Hán:
bất
văn ưu thích sự不聞憂戚事.
Pāli: maññussavā nappavattanti, các tưởng hoan hỷ (= vọng tưởng)
không chuyển động.
Thập
bát ý hành 十八意行.
Pāli: Atthādasamanopavicāro. Cũng nói là mười tám ý cận
hành 意近行
(phạm vi hoạt động của ý), gồm sáu hỷ cận hành,
sáu ưu cận hành và sáu xả cận hành. Xem giải
thích Tập Dị 15 (No.1536, Đại 26, trang 430).
Quán觀,đồng
nghĩa cận hành, đi sát, hay chạy theo; Pāli: upavicarati;
trong đó, vicāra, hành (đi), và cũng thường dịch là
tứ
(một thiền chi thuộc Sơ thiền) mà bản Hán này thường
dịch là quán (th.d.: hữu giác hữu quán, Pl. savitakka,
savicāra) Tập Dị (đd): “Mắt sau khi thấy, nó tùy theo trú
xứ của hỷ mà đi sát (hay đi gần, cận hành) với
sắc”. Pāli: Cakkhunā rūpam disvā somanassaṭṭhānīyam rupaṃ
upavicarati.
Pāli:
sukhan ti pi vijānāti, dukkhan ti pi vijānāti…, nhận biết rằng
‘đây là lạc’, nhận biết rằng ‘đây là khổ’…
Nguyên
Hán: nhân lạc canh lạc cố sanh lạc giác因樂更樂故生樂覺;
Pāli: sukhavedanīyaṃ… phassaṃ paṭicca uppajjati sukhā vedanā,
do xúc chạm với đối tượng đáng ưa mà phát sinh cảm giác
lạc.
Nhập
vô lượng không xứ, tức nhập Hư không vô biên xứ, đối
tượng thứ nhất của bốn Vô sắc giới định. Pāli: ākāsānañcāyatanaṃ
upasaṃhareyyaṃ.
Hán:
bất
phục hữu vi diệc vô sở tư, vị hữu cập vô不復有為亦無所思, 謂有及無.
Pāli: so neva taṃ abhisaṃkharoti na abhisaṃcetayati bhavāya vā
vibhavāya vā, vị ấy không hành trì cũng không tư duy về hữu
hay phi hữu.
Pāli:
sabbavedayitāni abhinanditāni sītibhavissanti, “tất cả những
gì được cảm thọ đầy hỷ lạc đều trở thành mát mẻ”.