161.
KINH PHẠM-MA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật du hóa tại nước Bệ-đà-đề,
cùng với chúng Đại Tỳ-kheo.
Bấy
giờ ở Di-tát-la
có Phạm chí tên là Phạm-ma
giàu có, của cải vô lượng, sản nghiệp chăn nuôi không
thể tính toán, phong hộ, thực ấp đầy đủ mọi thứ. Di-tát-la
này cho đến nước, cỏ, cây, đều là đặc tặng, là ân
tứ của Vị Sanh Oán, con bà Bệ-đà-đề, vua nước Ma-kiệt-đà.
Phạm chí Phạm-ma có một Ma-nạp tên là Ưu-đa-la được cha
mẹ sanh ra với sự thọ sanh thanh tịnh cho đến bảy đời
cha mẹ, chủng tộc không tuyệt, đời đời không ác, học
rộng, thông suốt, tụng đọc hết bốn loại kinh điển, thấu
triệt nhân duyên, chánh văn, hí truyện, và thứ năm là cú
thuyết. Phạm chí Phạm-ma nghe có Sa-môn Cù-đàm, con dòng tộc
Thích, đã từ giả dòng họ Thích, cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo, đang du hóa tại nước Bệ-đà-đề cùng với
chúng Đại Tỳ-kheo. Sa-môn Cù-đàm ấy có danh tiếng lớn
lao, muời phương đều nghe: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian
này giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người
cho đến loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành
tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện,
khoảng giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn,
hiển hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ.’
Lại
nghe rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm thành tựu ba mươi hai tướng của
bậc Đại nhân. Nếu ai thành tựu tướng của Đại nhân,
thì chắc chắn có hai trường hợp chân thực không sai lầm.
Đó là, nếu vị ấy ở tại gia thì chắc chắn làm Chuyển
luân vương, thông minh, trí tuệ, có bốn loại quân, chỉnh
trị thiên hạ, tự do, tự tại, là pháp vương như pháp, thành
tựu bảy báu. Bảy báu đó là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc
báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu.
Nhà vua có đủ một ngàn người con, dung mạo khôi ngô, dõng
mãnh, không sợ, hàng phục được địch quân, chắc chắn
thống lãnh toàn cõi đất này, cho đến bể cả, không dùng
đao gậy, chỉ đem pháp giáo hóa, khiến dân an ổn. Và nếu
vị ấy cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thì chắc
chắn đắc quả Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác,
tiếng tăm lan khắp, mười phương đều nghe.’
Phạm
chí Phạm-ma nghe vậy, liền bảo:
“Này
Ưu-đa-la, ta nghe như thế này: 'Sa-môn Cù-đàm, con dòng tộc
Thích, đã từ giã dòng họ Thích, cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất
gia học đạo, đang du hóa tại nước Bệ-đà-đề cùng với
chúng Đại Tỳ-kheo. Sa-môn Cù-đàm ấy có danh tiếng lớn
lao, muời phương đều nghe: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân
Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở trong thế gian này giữa chư
Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người cho đến
loài trời, tự tri tự giác, tự tác chứng, thành tựu và
an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng
giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển
hiện phạm hạnh thanh tịnh trọn đủ.’ Lại nghe rằng: ‘Sa-môn
Cù-đàm thành tựu ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân.
Nếu ai thành tựu tướng của Đại nhân, thì chắc chắn có
hai trường hợp chân thực không sai lầm. Đó là, nếu vị
ấy ở tại gia thì chắc chắn làm Chuyển luân vương, thông
minh, trí tuệ, có bốn loại quân, chỉnh trị thiên hạ, tự
do, tự tại, là pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu.
Bảy báu đó là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu,
cư sĩ báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Nhà vua có
đủ một ngàn người con, dung mạo khôi ngô, dõng mãnh, không
sợ, hàng phục được địch quân, chắc chắn thống lãnh
toàn cõi đất này, cho đến bể cả, không dùng đao gậy,
chỉ đem pháp giáo hóa, khiến dân an ổn. Và nếu vị ấy
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình, xuất gia học đạo, thì chắc chắn đắc
quả Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, tiếng tăm
lan khắp, mười phương đều nghe.’ Ngươi có biết như vậy
chăng?
Ưu-đà-la
đáp:
“Thưa
Tôn sư, con thọ trì các kinh, có biết về ba hai tướng của
bậc Đại nhân, và biết rằng, nếu ai thành tựu tướng của
bậc Đại nhân, thì chắc chắn có hai trường hợp chân thật,
không sai lầm: đó là, nếu vị ấy ở tại gia, thì chắc
chắn làm Chuyển luân vương, thông minh, trí tuệ, có bốn
loại quân, chỉnh trị thiên hạ, tự do, tự tại, là pháp
vương như pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu đó là xe báu,
voi báu, ngựa báu, nữ báu, cư sĩ báu, và tướng quân báu.
Đó là bảy báu. Nhà vua có đủ một ngàn người con dung mạo
khôi ngô, dõng mãnh, không sợ, hàng phục nổi địch quân.
Vị ấy chắc chắn thống lãnh toàn cõi đất này, cho đến
bể cả, không dùng đao gậy, đem pháp giáo hóa, khiến dân
an ổn. Và nếu vị ấy cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí
tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học
đạo, thì chắc chắn đắc quả Như Lai, Bậc Vô Sở Trước
Đẳng Chánh Giác, tiếng tăm lan khắp, mười phương đều
nghe.”
Nghe
vậy, Phạm chí Phạm-ma bảo:
“Này
Ưu-đa-la, ngươi hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, xem Sa-môn Cù-đàm
có đúng như thế, hay không đúng như thế, quả thực có ba
mươi hai tướng của Đại nhân chăng?”
Ma-nạp
Ưu-đa-la nghe bảo như vậy, liền cúi đầu đảnh lễ sát
chân Phạm chí Phạm-ma, đi quanh ba vòng, rồi lui ra, đi đến
chỗ Đức Phật, chào hỏi xong, ngồi qua một bên, quan sát
ba mươi hai tướng trên thân Đức Thế Tôn. Ma-nạp ấy thấy
trên thân Ngài có ba mươi tướng, còn nghi ngờ về hai tướng,
đó là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn thầm nghĩ: "Ưu-đa-la này với ba mươi
hai tướng của Ta, chỉ thấy được ba mươi tướng, còn nghi
ngờ về hai tướng là mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài;
nay Ta nên trừ mối nghi ngờ ấy." Nghĩ vậy, Đức Thế Tôn
liền như vậy mà hiện thần thông.
Sau khi Thế Tôn bằng như vậy mà hiện thần thông, thì Ma-nạp
Ưu-đa-la thấy được tướng mã âm tàng và tướng lưỡi
rộng dài trên thân Đức Thế Tôn. Tướng lưỡi rộng dài
là khi le ra, lưỡi phủ khắp cả mặt.
Khi
đã trông thấy, Ưu-đa-la Ma-nạp nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm thành
tựu ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân, chắc chắn có
hai trường hợp chân thật, không sai lầm: đó là, nếu vị
ấy ở tại gia, thì chắc chắn làm Chuyển luân vương, thông
minh, trí tuệ, có bốn loại quân, chỉnh trị thiên hạ, tự
do, tự tại, là pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu.
Bảy báu đó là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu,
cư sĩ báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Nhà vua có
đủ một ngàn người con, dung mạo khôi ngô, dõng mãnh, không
sợ, hàng phục nổi địch quân. Vị ấy chắc chắn thống
lãnh toàn cõi đất này, cho đến biển cả, không dùng đao
gậy, đem pháp giáo hoá, khiến dân an ổn. Và nếu vị ấy
cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình,
sống không gia đình, xuất gia học đạo, thì chắc chắn đắc
quả Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, tiếng tăm
lan khắp, mười phương đều nghe.’
Ma-nạp
Ưu-đa-la lại nghĩ: “Ta nên quán sát kỹ về oai nghi, lễ
tiết và nơi Cù-đàm du hành.” Nghĩ vậy, Ma-nạp Ưu-đa-la
lẽo đẽo theo Đức Phật, trong bốn tháng hạ, quán sát oai
nghi, lễ tiết và nơi Đức Phật du hành. Qua bốn tháng hạ,
Ma-nạp Ưu-đa-la cảm thấy sung sướng khi đã quán sát oai
nghi, lễ tiết và nơi Đức Phật du hành, liền thưa:
“Thưa
Cù-đàm, con nay có việc muốn trở về, xin từ giã Cù-đàm.”
Thế
Tôn bảo:
“Này
Ưu-đa-la, ngươi cứ đi, tùy ý.”
Ma-nạp
Ưu-đa-la nghe Đức Thế Tôn nói như vậy, khéo thọ trì, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh ba vòng rồi lui ra, đi đến
chỗ Phạm chí Phạm-ma, cúi đầu đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên. Phạm chí Phạm-ma hỏi:
“Này
Ưu-đa-la, có quả như lời đồn, Sa-môn Cù-đàm có tiếng
tăm lớn, mười phương đều nghe, đúng như vậy hay không
đúng như vậy? Quả Cù-đàm có ba mươi hai tướng của bậc
Đại nhân chăng?”
Ma-nạp
Ưu-đa-la đáp:
“Đúng
như vậy, thưa Tôn sư. Quả như lời đồn, Sa-môn Cù-đàm
có tiếng tăm lớn, mười phương đều nghe. Sa-môn Cù-đàm
quả thực như vậy, chứ không phải không thực như vậy,
thực có ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân.
“Sa-môn
Cù-đàm có lòng bàn chân bằng phẳng, đó là tướng của
Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thưa Tôn sư, lòng bàn chân của Sa-môn Cù-đàm có hình
bánh xe. Bánh xe có một ngàn tăm và đầy đủ các bộ phận.
Đó là tướng của Đại nhan Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, ngón chân của Sa-môn Cù-đàm thon dài. Đó là tướng
của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, mu bàn chân của Sa-môn Cù-đàm thì ngay ngắn. Đó là
tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, ở phía sau hai bên mắt cá của gót chân Sa-môn Cù-đàm
thì đầy đặn, bằng phẳng. Đó là tướng của Đại nhân
Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, hai mắt cá nơi bàn chân của Sa-môn Cù-đàm thì nhỏ.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, lông ở thân thể Sa-môn Cù-đàm mọc hướng lên. Đó
là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, bàn tay và bàn chân của Sa-môn Cù-đàm có màng lưới
như nhạn chúa. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, tay chân của Sa-môn Cù-đàm rất đẹp, mềm mại xòe
ra như hoa đâu-la. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, da thịt của Sa-môn Cù-đàm mịm màng, bụi nước không
dính được. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, mỗi một lỗ chân lông ở trên thân của Sa-môn Cù-đàm
mọc một sợi lông màu xanh lóng lánh, xoáy ốc về phía bên
phải. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, đùi của Sa-môn Cù-đàm như đùi của nai chúa. Đó là
tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
Lại
nữa, mã âm tàng của Sa-môn Cù-đàm giống như ngựa chúa
tốt. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thân hình của Sa-môn Cù-đàm cân xứng, đẹp đẽ cũng
giống như cây ni-câu-loại, trên dưới hoàn toàn tương xứng.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thân hình Sa-môn Cù-đàm không gù, không còng. Thân không
còng nghĩa là đứng thẳng mà duỗi tay, thì sờ tận đầu
gối. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thân của Sa-môn Cù-đàm màu vàng, giống như màu vàng
tía. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thân của Sa-môn Cù-đàm có bảy chỗ đầy đặn. Bảy
chỗ đầy đặn là hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và cổ.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, thân của Sa-môn Cù-đàm phần trên lớn giống như thân
sư tử. Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, quai hàm của Sa-môn Cù-đàm như của sư tử. Đó là
tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, xương sống và lưng của Sa-môn Cù-đàm thẳng bằng.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, trên hai vai của Sa-môn Cù-đàm liên tiếp qua cổ đầy
đặn, bằng phẳng. Đó là tướng của đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, Sa-môn Cù-đàm có bốn mươi cái răng, trắng đều đặn,
răng không khuyết hở, răng trắng trong, có mùi vị bậc nhất.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, tiếng nói của Sa-môn Cù-đàm đáng ưa như tiếng trời
Phạm thiên, âm thanh như tiếng chim ca-lăng-tần-già. Đó là
tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, Sa-môn Cù-đàm có lưỡi rộng dài. Lưỡi rộng dài là
lưỡi khi le ra trùm khắp cả mặt. Đó là tướng của Đại
nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, khóe mắt của Sa-môn Cù-đàm đầy như của trâu chúa.
Đó là tướng của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, mắt của Sa-môn Cù-đàm màu xanh lóng lánh. Đó là tướng
của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, đỉnh đầu của Sa-môn Cù-đàm có nhục kế, tròn, cân
đối, xoáy tròn về hướng phải như vỏ ốc. Đó là tướng
của Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Lại
nữa, giữa hai hàng lông mày của Sa-môn Cù-đàm có sợi lông
trắng trong, mọc xoáy về hướng phải. Đó là tướng của
Đại nhân Sa-môn Cù-đàm.
“Sa-môn
Cù-đàm đã thành tựu ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân
như vậy. Nếu ai thành tựu tướng của bậc Đại nhân thì
chắc chắn có hai trường hợp, chân thật, không sai lầm:
đó là, nếu vị ấy ở tại gia thì làm Chuyển luân vương,
thông minh, trí tuệ, có bốn loại quân, chỉnh trị thiên hạ,
tự do, tự tại, là pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu.
Bảy báu đó là: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ
báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Nhà vua
có đủ một ngàn người con, dung mạo khôi ngô, dõng mãnh,
không sợ, hàng phục được quân địch, chắc chắn thống
lãnh toàn cõi đất này, cho đến bể cả, không dùng đao gậy,
đem pháp giáo hóa khiến dân an ổn. Và nếu vị ấy cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, xuất gia học đạo, thì chắc chắn đắc quả Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, tiếng tăm vang khắp
mười phương đều nghe.
“Lại
nữa, thưa Tôn sư, con thấy Sa-môn Cù-đàm lúc đang khoác y,
lúc đã khoác y; lúc đang quấn y, lúc đã quấn y; lúc ra khỏi
phòng, đã ra khỏi phòng; lúc ra khỏi vườn, đã ra khỏi;
đang trên đường đi đến thôn xóm, lúc đã vào thôn xóm;
đứng ở đường hẻm, đang vào nhà, đã vào; đang sửa giường,
đã sửa giường; đang ngồi, đã ngồi; đang rửa tay, đã
rửa tay; đang nhận đồ ăn, thức uống, đã nhận; đang ăn,
đã ăn; sau khi rửa tay, chú nguyện xong, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đang ra khỏi, đã ra khỏi nhà; đến đường hẻm, đang
ra khỏi thôn xóm, đã ra khỏi; lúc đang vào vườn, đã vào;
đang vào phòng, đã vào.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm khoác y ngay ngắn, không cao không thấp,
áo không bó sát thân, gió không thể thổi tung khiến y tuột
khỏi thân.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm quấn y ngay ngắn, không cao không thấp,
y không bó sát thân, gió không thể thổi tung khiến y tuột
khỏi thân.
“Thưa
Cù-đàm, Sa-môn Cù-đàm mỗi khi đắp y mới, tùy thuận Thánh
nhân, dùng dao cắt ra từng miếng rồi may lại, nhuộm thành
hoại sắc, cũng như y hoại sắc của bậc Thánh đã nhuộm.
Vị ấy đắp y không phải vì của cải, không phải vì cống
cao, không phải để trang sức, không phải để cho oai vệ,
mà chỉ để ngăn chặn muỗi mòng và tránh sự ma sát của
gió và nắng, và vì sự hổ thẹn, nên phải che kín thân thể.
“Thưa
Tôn sư, khi ra khỏi phòng, Sa-môn Cù-đàm thân không cúi xuống,
cũng không ngước lên, ra khỏi phòng thân không bao giờ cúi
thấp.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm lúc muốn đi, trước hết bước chân
bên phải, dở chân lên, để chân xuống một cách chững chạc,
đi không gây thành tiếng động, không đi quàng xiên; lúc đi,
hai gót chân không bao giờ chạm nhau. Thưa Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm
lúc đi không bị bụi dính vào. Vì sao? Vì nhờ thiện hành
thuở trước.
“Thưa
Tôn sư, lúc ra khỏi vườn, Sa-môn Cù-đàm thân không cúi xuống,
không ngước lên, lúc ra khỏi vườn, thân không bao giờ cúi
thấp. Đi đến xóm làng, thân luôn luôn quay về lối phải,
quán sát như cái nhìn của một con voi chúa nhìn khắp nơi,
không hãi, không sợ, cũng không khiếp đảm, xem khắp các
phương. Vì sao? Vì là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh
Giác. Thưa Tôn sư, lúc vào thôn xóm, thân không cúi xuống,
không ngước lên, lúc vào thôn xóm, Sa môn Cù-đàm không bao
giờ cúi thấp.
“
Lúc ở đường hẻm Sa-môn Cù-đàm không cúi xuống mà nhìn
cũng không ngước lên mà trông, chỉ nhìn ngay thẳng, trong
đó không có gì ngăn ngại đối với sự thấy và biết.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm có các căn thường định. Vì sao? Vì
nhờ thiện hành thuở trước.
“Thưa
Tôn sư, lúc vào nhà, Sa-môn Cù-đàm thân không cúi xuống,
không ngước lên; lúc vào nhà thân không bao giờ cúi thấp.
“Thưa
ôn sư, Sa-môn Cù-đàm xoay mình lại thì xoay theo hướng phải,
ngồi trên giường kê ngay ngắn; không ngồi lên giường một
cách nặng nề, cũng không chống tay dưới trôn mà ngồi; khi
đã ngồi, không thấy táy máy, không bức rức, cũng không
ham thích; lúc thọ nhận nước rửa, không cao, không thấp,
không nhiều, không ít; thọ nhận đồ ăn thức uống, cũng
không cao, không thấp, không nhiều, không ít.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm thọ thực ngang bình bát; canh và cơm
bằng nhau.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm bốc thức ăn chỉnh tề, từ từ bỏ
vào miệng, khi thức ăn chưa đến thì không há miệng ra mà
đợi sẵn, khi thức ăn đã vào miệng thì nhai ba lần mới
nuốt, không có miếng cơm hay canh nào mà không nghiền nát,
thức ăn còn lại trong miệng thì nuốt xuống hết rồi mới
bốc nắm khác.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm do ba việc thanh tịnh
mà ăn, cảm giác được vị lúc ăn,
nhưng không nhiễm trước vào vị. Vị ấy không phải ăn vì
của cải, không vì cống cao, không vì trang sức, không vì
oai vệ, mà chỉ muốn bảo tồn thân thể sống lâu, không
tai hoạn, để ngăn chận bệnh cũ, không sanh bệnh mới, duy
trì sự sống không tai hoạn, sức khỏe, an lạc.
Ăn xong, vị ấy dùng nước rửa tay, không cao, không thấp,
không nhiều, không ít; dùng nước rửa bát, không cao, không
thấp, không nhiều, không ít. Sau khi rửa tay sạch, thì bát
cũng sạch; rửa bát sạch thì tay cũng sạch; lau tay rồi lau
bát; lau bát rồi lau tay. Khi đã rửa và lau bát xong, để đặt
xuống một bên, không gần, không xa, không nhìn hoài vào bát,
cũng không lơ là bát. Sa-môn Cù-đàm không chê thức ăn này,
cũng không khen thức ăn kia, chỉ im lặng. Ăn xong, thuyết pháp
cho các cư sĩ, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ.
Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến phát
khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, vị ấy liền từ chỗ ngồi
đứng dậy ra về.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm lúc ra khỏi nhà, thân không cúi xuống,
ngước lên; lúc ra khỏi nhà, thân không bao giờ cúi xuống.
Lúc ở tại đường cái, ngõ hẻm, không cúi nhìn xuống, cũng
không ngước lên, chỉ nhìn thẳng đằng trước, trong đó
không có gì ngăn ngại đối với sự biết và sự thấy.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm có các căn thường định. Vì sao? Vì
nhờ thiện hành thuở trước.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm lúc ra khỏi thôn, thân không cúi xuống,
ngước lên; lúc ra khỏi thôn, thân không bao giờ cúi xuống.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm lúc đi vào vườn, thân không cúi xuống,
ngước lên; lúc đi vào vườn thân không bao giờ cúi xuống.
“Thưa
Tôn sư, sau bữa ăn trưa, Sa-môn Cù-đàm thu dọn y, bát, rửa
tay chân, lấy ni-sư-đàn vắt lên vai vào phòng tĩnh tọa. Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm vào phòng tĩnh tọa để làm lợi ích
cho thế gian.
“ThưaTôn
sư, vào lúc xế, Sa-môn Cù-đàm từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy,
sắc diện trong sáng. Vì sao? Vì là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước
Đẳng Chánh Giác.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm từ miệng phát ra với tám thứ âm
thanh, một là sâu sắc, hai là tỳ-ma-lâu-bá,
ba là nhập tâm, bốn là khả ái, năm là rất đầy, sáu là
sống động, bảy là rõ ràng, tám là có trí, khiến cho mọi
người mến chuộng, mọi người ưa thích, mọi người ghi
nhớ, sẽ được định tâm.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp tùy theo chúng; âm thanh
không ra ngoài chúng, chỉ vừa ở trong chúng. Thuyết pháp cho
chúng, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ, Ngài liền
từ chỗ ngồi đứng dậy trở về chỗ cũ.
“Thưa
Tôn sư, Sa-môn Cù-đàm là như thế đó, có những cái thù
thắng hơn nữa. Con muốn đến theo học Phạm hạnh với Sa-môn
Cù-đàm.”
Phạm
chí Phạm-ma đáp:
“Tùy
ý ngươi.”
Rồi
thì, Ma-nạp Ưu-đa-la cúi đầu đảnh lễ sát chân Phạm chí
Phạm-ma, đi quanh ba vòng rồi lui ra, đi đến chỗ Đức Phật,
đảnh lễ sát chân Ngài, ngồi qua một bên và thưa:
“Bạch
Thế Tôn, con nay xin theo Thế Tôn học đạo, thọ Cụ túc giới,
trở thành Tỳ-kheo, để được theo Thế Tôn tu hành Phạm
hạnh.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn độ cho Ma-nạp Ưu-đa-la, cho theo học đạo,
cho thọ Cụ túc. Sau khi độ cho Ma-nạp Ưu-đa-la, cho theo học
đạo, cho thọ Cụ túc, Thế Tôn du hành tại nước Bệ-đà-đề
cùng đại chúng Tỳ-kheo, lần hồi đi lên Di-tát-la, trú ở
rừng xoài Đại thiên
trong xứ ấy.
Các
cư sĩ ở Di-tát-la nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm là con dòng
họ Thích, từ bỏ thân tộc, xuất gia học đạo, đang du hành
tại nước Bệ-đà-đề cùng đại chúng Tỳ-kheo, lần hồi
đi lên Di-tát-la, trú ở rừng xoài Đại thiên trong xứ ấy.
Sa-môn Cù-đàm có tiếng tăm lớn, mười phương đều nghe:
‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu; Sa-môn
ấy ở đời này, giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí
từ Người đến Trời, mà tự tri, tự giác, tự thân chứng
đắc, thành tựu an trú; vị ấy thuyết pháp phần đầu thiện,
phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, có nghĩa, có
văn, đầy đủ thanh tịnh, hiển hiện Phạm hạnh.’ Nếu
ai chiêm ngưỡng đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh
Giác, mà kính trọng lễ bái, cúng dường, thừa sự thì sẽ
được thiện lợi, vui thay! Chúng ta nên cùng nhau đến chiêm
ngưỡng Sa-môn Cù-đàm và lễ bái, cúng dường.”
Rồi
thì, Phạm chí cư sĩ ở Di-tát-la, mỗi hạng có quyến thuộc
tháp tùng, từ Di-tát-la đi đến hướng bắc, đến rừng xoài
Đại thiên, muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn, lễ bái, cúng dường.
Khi đã đến chỗ Đức Phật, trong số Phạm chí cư sĩ ấy,
có người cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi sang
một bên; có người chấp tay hướng về Đức Phật rồi ngồi
sang một bên, có người từ xa nhìn dức Phật, rồi im lặng
ngồi xuống. Khi các cư sĩ Phạm chí Di-tát-la đã ngồi xong,
Đức Phật thuyết pháp cho họ, khuyến phát tâm khát ngưỡng,
thành tựu hoan hỷ. Sau khi Đức Phật dùng vô lượng phương
tiện thuyết pháp cho họ, khuyến phát tâm khát ngưỡng, thành
tựu hoan hỷ, Ngài im lặng an trú.
Phạm
chí Phạm-ma nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm con dòng họ Thích,
từ bỏ tông tộc họ Thích, xuất gia học đạo, du hành tại
nước Bệ-đà-đề cùng chúng Đại Tỳ-kheo, lần hồi đi
đến nước Di-tát-la, trú ở rừng xoài Đại thiên. Sa-môn
Cù-đàm có tiếng tăm lớn lao, mười phương đều nghe. Sa-môn
ấy là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp
Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Vị ấy ở đời này,
giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ Người đến
Trời mà tự tri, tự giác, tự thân chứng đắc, thành tựu
an trú. Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp phần đầu thiện, phần
giữa thiện, phần cuối cũng thiện, có nghĩa, có văn, đầy
đủ thanh tịnh, hiển hiện Phạm hạnh. Nếu ai chiêm ngưỡng
Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, kính trọng,
lễ bái, cúng dường, thừa sự thì sẽ được thiện lợi,
an vui. Vậy, ta nên đến chiêm ngưỡng Sa-môn Cù-đàm và lễ
bái cúng dường.”
Phạm
chí Phạm-ma bảo người đánh xe:
“Ngươi
hãy sửa soạn xe. Ta muốn đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm.”
Người
đánh xe vâng lời, sửa soạn xe xong, trở lại thưa:
“Xe
đã sửa soạn xong, mong Tôn sư tự biết thời.”
Rồi
Phạm-ma dùng cỗ xe rất xinh đẹp, từ Di-tát-la đi đến hướng
Bắc, đến rừng xoài Đại thiên để chiêm ngưỡng Thế Tôn
và lễ bái, cúng dường. Bấy giờ Đức Thế Tôn đang thuyết
pháp cho vô lượng đồ chúng ngồi vây quanh trước sau. Phạm
chí Phạm-ma từ xa trông thấy Thế Tôn đang thuyết pháp cho
vô lượng đồ chúng ngồi vây quanh trước sau. Thấy vậy,
Phạm-ma khiếp sợ, liền rẽ qua một bên lề đường dừng
lại dưới gốc cây, bảo một Ma-nạp rằng:
“Ngươi
hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, thay ta thăm hỏi thế này: ‘Thưa
Cù-đàm, Thánh thể có khang kiện, an lạc, không bệnh, đi
đứng thoải mái, khí lực như thường chăng?’ Ngươi hãy
nói như thế này: ‘Thưa Cù-đàm Tôn sư Phạm-ma của con xin
kính lời thăm hỏi Ngài Thánh thể có khang kiện, an lạc,
không bệnh, đi đứng thoải mái, khí lục như thường chăng?
Tôn sư Phạm-ma của con muốn đến chiêm ngưỡng Sa-môn Cù-đàm’.”
Bấy
giờ Ma-nạp vâng lời, đến chỗ Phật, chào hỏi rồi ngồi
qua một bên thưa:
“Thưa
Cù-đàm, Tôn sư Phạm-ma của con có lời thăm hỏi rằng: ‘Thánh
thể Cù-đàm có khang kiện, an lạc, không bệnh, đi đứng
thoải mái, có khí lực như thường chăng?’ Thưa Cù-đàm,
Tôn sư Phạm-ma của con muốn đến chiêm ngưỡng Sa-môn Cù-đàm.”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
Ma-nạp, mong cho Phạm chí Phạm-ma an ổn khoái lạc, mong cho
Trời và Người, A-tu-la, Kiền-đạt-hòa, La-sát và các chủng
loại khác, được an ổn khoái lạc, này Ma-nạp, Phạm chí
Phạm-ma muốn đến thì tùy ý.”
Nghe
Đức Phật nói như vậy, Ma-nạp khéo thọ trì, từ chỗ ngồi
đứng dậy, đi quanh Phật ba vòng rồi lui ra, trở về chỗ
Phạm chí Phạm-ma và thưa:
“Thưa
Tôn sư, con đã thưa như vậy với Sa-môn Cù-đàm. Sa-môn Cù-đàm
hiện đang đợi Tôn sư. Mong Tôn sư biết thời.”
Phạm
chí Phạm-ma bèn bước xuống, đi đến chỗ Phật. Chúng kia
từ xa trông thấy Phạm-ma đi đến, bèn đứng dậy tránh đường.
Vì sao? Vì là người có danh đức, và nổi tiếng.
Phạm
chí Phạm-ma nói với chúng kia rằng:
“Chư
Hiền, mời các vị ngồi lại chỗ cũ. Tôi muốn đi thẳng
đến thăm Sa-môn Cù-đàm.”
Rồi
Phạm-ma đi đến chỗ Phật, chào hỏi xong, ngồi sang một
bên.
Lúc
bấy giờ, hai căn của Phạm-ma, nhãn căn và nhĩ căn, chưa
bị hủy hoại. Sau khi ngồi xuống, Phạm-ma quán sát kỹ ba
mươi hai tướng nơi thân Phật. Ông thấy ba mươi tướng.
Hai tướng còn ngờ; đó là mã âm tàng và tướng lưỡi rộng
dài. Phạm chí Phạm-ma nói bài kệ để hỏi Đức Thế Tôn:
Như
trước tôi từng nghe,
Đại
nhân ba hai tướng.
Nay
xem thân Cù-đàm,
Trong
đó, thiếu hai tướng,
Mã
âm tàng có chăng,
Kín
nhiệm, Bậc Tôn Quý?
Tại
sao nay Tối Tôn,
Không
hiện lưỡi vi diệu?
Nếu
có lưỡi rộng dài,
Mong
tôi nay được thấy.
Nay
tôi thật nghi hoặc,
Mong
Điều Ngự giải trừ.
Thế
Tôn nghĩ rằng: "Phạm chí Phạm-ma này muốn tìm ba mươi hai
tướng nơi thân Ta, nay chỉ thấy được ba mươi tướng, còn
nghi ngờ về hai tướng là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi
rộng dài. Nay Ta nên trừ mối nghi hoặc ấy." Đức Thế Tôn
biết thế, nên như vậy mà thị hiện như ý túc. Sau khi Thế
Tôn như vậy mà thị hiện như ý túc, Phạm chí Phạm-ma thấy
được tướng mã âm tàng và lưỡi rộng dài trên thân Đức
Thế Tôn. Trong đó, tướng lưỡi rộng và lưỡi khi từ trong
miệng le ra trùm khắp cả mặt. Đức Thế Tôn thâu lại như
ý túc, nói cho Phạm-ma nghe bài tụng:
Trước
đây ông từng nghe,
Đại
nhân ba hai tướng,
Tất
cả trên thân Ta,
Tròn
đầy, Chánh tối thượng,
Điều
Ngự đoạn trừ nghi,
Phạm
chí phát diệu tín,
Thực
khó được thấy nghe,
Bậc
Chánh Giác tối thượng.
Quả
rất hiếm ra đời,
Bậc
Chánh Giác tối thượng,
Phạm
chí, Ta Chánh Giác,
Chánh
pháp Vô thượng vương.
Phạm
chí Phạm-ma nghe vậy liền nghĩ: "Sa-môn Cù-đàm này thành
tựu ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân. Ai thành tựu
tướng của bậc Đại nhân, thì chắc chắn có hai trường
hợp chân thật không sai lầm: ấy là nếu vị ấy ở tại
gia, thì chắc chắn làm Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ,
có bốn loại quân, chỉnh trị thiên hạ, tự do, tự tại,
là pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu ấy
là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu,
và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Nhà vua có đủ một
ngàn người con, dung mạo khôi ngô, dõng mãnh, không sợ, hàng
phục được địch quân. Vị ấy chắc chắn thống lãnh toàn
cõi đất này, cho đến bể cả, không dùng đao gậy, đem pháp
giáo hóa, khiến dân an lạc. Và nếu vị ấy cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình, xuất gia học đạo, thì chắc chắn đắc quả Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, tiếng tăm lan khắp mười
phương đều nghe."
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nghĩ như thế này: "Phạm chí Phạm-ma này
không bao giờ dua nịnh, lừa dối, nếu muốn hỏi điều gì
là vì muốn biết, chớ không phải để quấy rầy. Phạm chí
ấy cũng vậy, ta nên thuyết A-tỳ-đàm thậm thâm cho vị ấy.
Đức Thế Tôn biết như vậy, liền nói cho Phạm chí Phạm-ma
nghe bài tụng:
Vì
pháp lạc đời nay,
Và
ích lợi đời sau,
Phạm
chí hãy thưa hỏi,
Tùy
những điều đã nghĩ.
Phạm
chí hỏi các điều,
Ta
đoạn nghi cho ông,
Thế
Tôn đã cho phép,
Phạm
chí Phạm-ma hỏi.
Thế
Tôn về những điều,
Tùy
theo ý đã nghĩ.
Thế
nào là Phạm chí?
Tam
đạt
có nghĩa gì,
Vì
sao nói Vô trước,
Đẳng
Chánh Giác là gì?
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nói tiếp bài kệ để giải thích:
Diệt
pháp ác, bất thiện,
Vững
trú nơi Phạm hạnh,
Tu
tập hạnh Phạm chí,
Như
vậy là Phạm chí.
Thấu
suốt về quá khứ,
Thấy
lạc và ác đạo,
Dứt
trừ sạch vô minh,
Biết
vậy là Mâu-ni.
Khéo
biết tâm thanh tịnh,
Dứt
sạch dâm, nộ, si.
Thành
tựu được ba minh,
Như
vậy là tam đạt.
Viễn
ly pháp bất thiện,
Chánh
trú đệ nhất nghĩa,
Thế
gian tôn kính nhất,
Như
vậy là Vô trước.
Làm
lợi ích Trời, Người,
Thánh
nhân, dứt đấu tranh.
Biết
khắp chứng diệt tận,
Như
vậy là Chánh giác.
Nghe
vậy, Phạm-ma liền đứng dậy, cúi đầu lễ sát chân Phật.
Bấy giờ đại chúng cùng một lúc nói lớn rằng:
"Sa-môn
Cù-đàm kỳ lạ thay, hy hữu thay! Ngài có Đại như ý túc,
có Đại oai đức, có Đại phước hựu, có Đại oai thần.
Vì sao? Vì trong tất cả Phạm chí, cư sĩ ở Di-tát-la này,
thì Phạm chí Phạm-ma là người bậc nhất về sự thọ sanh.
Phạm chí Phạm-ma được cha mẹ sanh ra với sự thọ sanh thanh
tịnh cho đến bảy đời cha mẹ, chủng tộc không tuyệt,
đời đời không ác, thế mà Phạm chí ấy đã hết lòng tôn
kính, lễ bái, cúng dường, phụng sự Sa-môn Cù-đàm.
“Sa-môn
Cù-đàm kỳ lạ thay, hy hữu thay! Ngài có Đại như ý túc,
Đại oai đức, Đại phước hựu. Vì sao? Vì trong tất cả
Phạm chí, cư sĩ ở Di-tát-la này, Phạm chí Phạm-ma là người
bậc nhất, về sự học kinh điển, Phạm chí Phạm-ma học
rộng, thông suốt, đọc tụng hết bốn loại kinh điển, thấu
triệt nhân duyên, chánh văn, hí truyện thứ năm và cú thuyết;
thế mà Sa-môn Phạm chí ấy đã hết lòng cung kính, lễ bái
cúng dường, phụng sự Sa-môn Cù-đàm.
“Sa-môn
Cù-đàm kỳ lạ thay, hy hữu thay! Ngài có Đại như ý túc,
có Đại oai đức, có Đại phước hựu, Đại oai thần. Vì
sao? Vì trong tất cả Phạm chí cư sĩ ở Di-tát-la này Phạm
chí Phạm-ma là người bậc nhất về tài sản, Phạm chí Phạm-ma
rất giàu, của cải vô lượng, sản nghiệp chăn nuôi không
thể tính toán, phong hộ thực ấp đầy đủ mọi thứ. Di-tát-la
này cho đến nươc, cỏ cây đều là đặc tặng, ân tứ của
Vị Sanh Oán, con bà Bệ-đà-đề, vua nước Ma-kiệt-đà; thế
mà Phạm chí ấy đã hết lòng tôn trọng, lễ bái, cúng dường,
phụng sự Sa-môn Cù-đàm.
“Sa-môn
Cù-đàm kỳ lạ thay, hy hữu thay! Ngài có Đại như ý túc,
Đại oai đức, Đại phước hựu, Đại oai thần. Vì sao? Vì
trong tất cả Phạm chí, cư sĩ ở nước Di-tát-la này, Phạm
chí Phạm-ma là người bậc nhất về tuổi thọ. Phạm chí
Phạm-ma là vị trưởng lão, sống đến một trăm hai mươi
sáu tuổi. Thế mà Phạm chí ấy đã hết lòng tôn kính, lễ
bái, cúng dường, phụng sự Sa-môn Cù-đàm.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn với tha tâm trí, biết tâm đại chúng
đang nghĩ gì. Biết vậy, Thế Tôn bảo Phạm chí Phạm-ma:
“Hãy
thôi, này Phạm chí, chỉ cần với tâm thỏa mãn là được.
Hãy ngồi trở lại, Ta sẽ thuyết pháp cho.”
Phạm
chí Phạm-ma cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, ngồi xuống
một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho Phạm chí, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng
phương tiện thuyết pháp, khuyến phát khát ngưỡng, thành
tựu hoan hỷ, đúng như pháp của chư Phật, trước hết, Đức
Thế Tôn thuyết pháp đoan chánh, khiến người nghe hoan duyệt.
Đó là thuyết về pháp thí, về giới và về sanh thiên, chỉ
trích dục là tai họa, sanh tử là ô uế; tán thán vô dục
là diệu đạo phẩm, là bạch tịnh. Sau khi thuyết như vậy,
Thế Tôn biết Phạm chí ấy có tâm hoan hỷ, tâm cụ túc,
tâm nhu nhuyến, tâm kham nhẫn, tâm tăng thượng, tâm nhất
hướng, tâm không nghi, tâm không bị che lấp, có đủ khả
năng thọ nhận Chánh pháp của Phật, Đức Thế Tôn theo như
những pháp qua yếu mà chư Phật đã thuyết, Ngài thuyết cho
Phạm chí nghe đầy đủ về Khổ, Tập, Diệt và Đạo. Phạm
chí Phạm-ma ngay nơi chỗ ngồi thấy bốn Thánh đế, Khổ,
Tập, Diệt, Đạo. Cũng như vải trắng nhuộm dễ ăn màu;
cũng vậy, Phạm-ma ngay trong chỗ ngồi thấy rõ bốn Thánh
đế, Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Bấy giờ, Phạm-ma đã thấy
pháp đắc pháp, chứng pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi hoặc,
không còn tôn kính một ai khác nữa, không còn do dự, đã
an trú vào quả vị chứng đắc. Đối với pháp của Thế
Tôn, Phạm chí chứng đắc vô úy, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ sát chân Phật và bạch:
“Bạch
Thế Tôn, con nay đem mình quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo.
Mong Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc từ nay và suốt
đời; con đem mình quy y cho đến lúc mạng chung.”
Và
rồi Phạm chí Phạm-ma lại chấp tay hướng về Thế Tôn và
bạch tiếp:
“Bạch
Thế Tôn, mong ngày mai Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo đoái
tưởng nhận lời mời của con!”
Đức
Thế Tôn im lặng nhận lời mời của Phạm-ma.
Phạm
chí Phạm-ma biết Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời mời,
nên cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, đi quanh ba vòng và
lui ra, trở về nhà.
Ngay
đêm ấy, Phạm chí Phạm-ma cho sửa soạn các món ăn mỹ diệu
ngon lành, đủ các thức nhai và nuốt. Sửa soạn xong, sáng
lại cho trải giường, và đúng lúc thì xướng lên rằng:
“Bạch Thế Tôn, bữa cơm được soạn xong, kính mong Đức
Thánh biết thời.”
Sáng
hôm ấy, Đức Thế Tôn mang y cầm bát đi trước, chúng Tỳ-kheo
theo sau, đi đến nhà của Phạm chí Phạm-ma, đến nơi, Đức
Thế Tôn trải chỗ ngồi, ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Phạm
chí Phạm-ma thấy Đức Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo đã ngồi
xong, liền thân hành múc nước rửa, đem thức ăn ngon lành,
cùng các thứ nhai và nuốt, tự tay sớt vào, khiến các vị
ăn no. Sau khi ăn rồi, thu dọn và lấy nước rửa xong, Phạm
chí ngồi vào một ghế nhỏ để thọ nhận sự chú nguyện.
Phạm chí Phạm-ma ngồi xong, Đức Thế Tôn chú nguyện rằng:
Chú
hỏa, tế bậc nhất,
Thông
âm, gốc các âm,
Vua,
tôn quý trong người,
Biển,
lớn hơn sông ngòi,
Trăng,
sáng hơn các sao,
Nhưng
sáng nhất: mặt trời.
Cùng
tận khắp mười phương,
Trong
tất cả thế gian,
Chư
Thiên và Nhân loại,
Duy
Phật đệ nhất tôn.
Sau
khi chú nguyện cho Phạm chí Phạm-ma, Đức Thế Tôn từ chỗ
ngồi đứng dậy, đến nước Di-tát-la, ở lại vài ngày,
rồi mang y, cầm bát du hành nước Xá-vệ. Lần hồi đi đến
nước Xá-vệ, Ngài trú tại vườn Cấp cô độc, trong rừng
Thắng. Bấy giờ, có nhiều Tỳ-kheo vào Xá-vệ khất thực
nghe Phạm chí Phạm-ma nước Di-tát-la, sau khi dùng bài kệ
hỏi Đức Phật mọi việc thì liền lâm chung. Nghe vậy, sau
bữa ăn trưa, các Tỳ-kheo thu dọn y bát, rửa tay chân, lấy
ni-sư-đàn vắt lên vai, đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu
đảnh lễ, rồi đứng sang một bên, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo chúng con vào lúc sáng sớm mang y, cầm bát
vào Xá-vệ khất thực, nghe rằng Phạm chí Phạm-ma ở nước
Di-tát-la, sau khi dùng bài kệ vấn sự Đức Phật, thì liền
lâm chung. Bạch Thế Tôn, như vậy Phạm chí ấy sẽ đến
nơi nào? Sanh nơi nào? Đời sau ra sao?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Nay
các Tỳ-kheo, Phạm chí Phạm-ma có đại lợi ích, vào lúc
tối hậu, đã biết pháp, vì pháp cho nên không làm phiền
nhọc Ta. Này Tỳ-kheo, Phạm chí Phạm-ma đã dứt sạch năm
hạ phần kết, sanh đến nơi ấy sẽ đắc Niết-bàn, đắc
pháp bất thối, không trở lại cõi này nữa. Bấy giờ Ta
đã ghi nhận rằng Phạm chí Phạm-ma đắc A-na-hàm.”
Đức
Phật thuyết như vậy, Phạm chí Phạm-ma và các Tỳ-kheo sau
khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Ma-kiệt-đà
vương, Vị Sanh Oán, Bệ-đà-đề Tử 摩竭陀王, 未生怨, 鞞陀子.
Pāli: Magadharāja-Ajātasattu-Vedehiputta
Đạo
Pháp Ngự. Pàli: Damma-sārathi, Điều Ngự Trượng Phu. Bản
Hán đọc là dhamma-(đạo pháp), thay vì là damma- (huấn luyện,
điều ngự).
Hán:
cụ túc thanh tịnh hiển hiện phạm hạnh具足清淨.
Pāli: kevala-paripuṇṇaṃ pari-suddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti,
hiển bày đời sống phạm hạnh thanh tịnh và hoàn hảo tuyệt
đối.
Tỳ-ma-lâu-bá 毗摩樓簸;
không rõ phiên âm từ chữ gì. Tám thứ giọng theo bản Pāli:
visaaṭṭha (cực hay), viññeyya (dễ biết), mañju (dịu dàng),
savanīya (hài hòa), bindu (sung mãn), avisārī (phân minh), gambhīra
(sâu xa), ninnādi (lan rộng).