152.
KINH ANH VŨ [1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Phật du hóa thành Vương xá, ở trong rừng Trúc, vườn
Ca-lan-đa.
Bấy
giờ, Ma-nạp Anh Vũ, con trai ông Đô-đề,
có một ít việc phải làm nên đến trọ tại nhà một người
cư sĩ trong thành Vương xá. Tại đây, Ma-nạp Anh Vũ con trai
ông Đô-đề nói với người cư sĩ mà mình ngủ trọ:
“Có
Sa-môn, Phạm chí nào, bậc Tông chủ, bậc Thầy của mọi
người, thống lãnh một số đông đồ chúng, rất được
mọi người tôn kính, để tôi tùy thời đến thăm viếng,
kính phụng, hoặc có thể do khi kính phụng đó mà được
hoan hỷ chăng?”
Cư
sĩ đáp:
“Có.
Này Thiên ái,
có Sa-môn Cù-đàm, con dòng họ Thích, lìa bỏ Thích tộc, cạo
bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống
không gia đình mà học đạo, chứng quả Vô thượng Chánh
giác.
Này Thiên ái, ông có thể tùy thời đến thăm viếng, kính
phụng, hoặc có thể do khi kính phụng đó mà được hoan hỷ.”
Ma-nạp
Anh Vũ lại hỏi:
“Sa-môn
Cù-đàm hiện nay ở chỗ nào? Tôi muốn đến gặp.”
Cư
sĩ đáp:
“Sa-môn
Cù-đàm hiện ở tại rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa, trong thành
Vương xá. Ông có thể đến đó để gặp.”
Khi
ấy, Ma-nạp Anh Vũ liền rời khỏi chỗ trọ, nhà cư sĩ, thẳng
đến rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Ma-nạp Anh Vũ từ xa trông
thấy Đức Thế Tôn ở giữa rừng cây, tướng mạo đoan chánh,
đẹp đẽ khác thường, như ánh trăng giữa rừng sao sáng
chói, lóng lánh như khối núi vàng, đầy đủ tướng tốt,
vòi vọi oai nghi, các căn vắng lặng, an định, không một
mảy may ngăn ngại, hoàn toàn tự chế ngự, lắng tâm tĩnh
mặc.
Sau
khi thấy như thế, Ma-nạp liền đến trước Phật và bạch:
“Bạch
Cù-đàm, con có đều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho con mới dám
trình bày.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, muốn hỏi, cứ tùy ý.”
Ma-nạp
Anh Vũ hỏi:
“Bạch
Cù-đàm, như con được nghe,
‘Nếu sống tại gia thì được hiểu biết tốt, biết đúng
như pháp.
Người xuất gia học đạo thì không như vậy.’ Con xin hỏi
Cù-đàm, việc đó như thế nào?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Ma-nạp, sự kiện đó không nhất định.”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, mong Ngài phân biệt sự kiện này cho con được rõ.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, hãy lắng nghe khéo suy nghĩ, Ta sẽ phân biệt đầy
đủ cho ngươi rõ.”
Ma-nạp
Anh Vũ vâng lời lắng nghe.
Đức
Phật nói:
“Này
Ma-nạp, nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo nào
làm điều tà hạnh, thì Ta không khen ngợi người đó. Vì
sao vậy? Nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo làm
điều tà hạnh, thì kẻ ấy không được hiểu biết tốt,
không biết đúng như pháp. Do đó, này Ma-nạp, nếu những
kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo làm điều tà hạnh,
thì Ta không khen ngợi kẻ ấy.
“Này
Ma-nạp, nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo nào
thực hành chánh hạnh, thì Ta khen ngợi người đó. Vì sao
vậy? Nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo thực hành
chánh hạnh, thì kẻ ấy chắc chắn được hiểu biết tốt,
biết đúng như pháp. Do đó, này Ma-nạp, nếu kẻ tại gia
hoặc xuất gia học đạo thực hành chánh hạnh, thì Ta khen
ngợi kẻ ấy.
“Này
Ma-nạp, Ta nói như vậy, nói về hai pháp ấy, phân biệt như
vậy, hiển thị như vậy. Nhưng nếu có Sa-môn, Phạm Chí nào
có năng lực, thâm nhập kiên cố, chấp chặt theo một chiều,
vị ấy sẽ nói rằng, ‘Đây là chân thật, ngoài ra là hư
vọng’.”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, như con được nghe, ‘Nếu ai sống tại gia thì có
lợi ích lớn, có công đức lớn; người xuất gia học đạo
thì không như vậy.’
Con xin hỏi Cù-đàm, sự kiện ấy như thế nào?”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, sự kiện ấy không nhất định.”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, mong Ngài phân biệt sự kiện đó cho con được rõ.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, hãy lắng nghe khéo suy nghĩ, Ta sẽ phân biệt đầy
đủ cho ngươi rõ.”
Ma-nạp
Anh Vũ vâng lời lắng nghe.
Đức
Phật nói:
“Này
Ma-nạp, nếu sống tại gia có tai hoạn lớn, có đấu tranh
lớn, có oán ghét lớn, nhưng lại làm điều tà hạnh, thì
sẽ không được quả báo lớn, không được công đức lớn.
Ví như người làm ruộng, có tai hoạn lớn, có đấu tranh
lớn, có oán ghét lớn, lại làm điều tà hạnh, thì sẽ không
được quả báo lớn, không được công đức lớn. Như vậy,
này Ma-nạp, người sống tại gia cũng lại như thế.
“Này
Ma-nạp, người xuất gia học đạo ít có tai hoạn, ít có
đấu tranh, ít có oán ghét, nhưng lại làm điều tà hạnh,
thì sẽ không được quả báo lớn, không được công đức
lớn. Ví như người buôn bán, ít có tai hoạn, ít có đấu
tranh, ít có oán ghét, nhưng lại làm điều tà hạnh, thì sẽ
không được quả báo lớn, không được công đức lớn. Như
vậy, này Ma-nạp, người xuất gia học đạo cũng lại như
thế.
“Này
Ma-nạp, người sống tại gia có tai hoạn lớn, có đấu tranh
lớn, có oán ghét lớn, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì
sẽ được quả báo lớn, được công đức lớn. Ví như người
làm ruộng có tai hoạn lớn, có đấu tranh lớn, có oán ghét
lớn, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì sẽ được quả
báo lớn, được công đức lớn. Như vậy, này Ma-nạp, người
sống tại gia cũng lại như thế.
“Này
Ma-nạp, người xuất gia học đạo ít có tai hoạn, ít có
đấu tranh, ít có oán ghét, nhưng lại thực hành chánh hạnh,
thì được quả báo lớn, được công đức lớn. Ví như người
buôn bán, ít có tai hoạn, ít có đấu tranh, ít có oán ghét,
nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì sẽ được quả báo
lớn, được công đức lớn. Như vậy, này Ma-nạp, người
xuất gia học đạo lại cũng như thế.
“Này
Ma-nạp, Ta nói như vậy, nói về hai pháp ấy, phân biệt như
vậy, hiển thị như vậy. Nhưng nếu có Sa-môn, Phạm chí nào
có năng lực, thâm nhập kiên cố, chấp chặt theo một chiều,
vị ấy sẽ nói rằng, ‘Đây là chân thật, ngoài ra là hư
vọng.’”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, các Phạm chí kia chủ trương có năm pháp có quả
báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Nếu
các Phạm chí chủ trương có năm pháp có quả báo lớn, có
công đức lớn, tạo phước được thiện; vậy nay ngưới
có thể ở giữa đại chúng mà trình bày lại chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, đối với con không có sự kiện không thể. Vì sao
vậy? Vì Cù-đàm hiện đang ngồi ở giữa đại chúng này.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Vậy
ngươi hãy trình bày.”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, mong Ngài khéo nghe cho. Bạch Cù-đàm, Phạm chí chủ
trương thứ nhất là pháp Chân đế, có quả báo lớn, có
công đức lớn, tạo phước được thiện; pháp thứ hai là
Tụng tập; pháp thứ ba là Nhiệt hành; pháp thứ tư là Khổ
hạnh. Bạch Cù-đàm, Phạm chí chủ trương pháp thứ năm là
Phạm hạnh
có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được
thiện.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Nếu
các Phạm chí chủ trương năm pháp này có quả báo lớn, có
công đức lớn, tạo phước, được thiện; vậy trong số
những Phạm chí ấy, có Phạm chí nào nói như thế này: ‘Tôi
đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã
tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của
chúng.’?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch
Cù-đàm, không có.”
Thế
Tôn nói:
“Có
vị Tôn sư hay Tổ sư nào, cho đến bảy đời cha mẹ nói
như thế này, ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời
hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi
nói lên kết quả của chúng.’?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch
Cù-đàm, không có.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn hỏi:
“Này
Ma-nạp, xưa kia có những Phạm chí tuổi thọ hết, mạng chung,
đã tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập
kinh điển: một là Dạ-tra, hai là Bà-ma, ba là Bà-ma-đề-bà,
bốn là Tỳ-xa-mật-đa-la, năm là Dạ-bà-đà-kiền-ni, sáu
là Ứng-nghi-la-bà, bảy là Bà-tư-tra, tám là Ca-diếp, chín
là Bà-la-bà, mười là Bà-hòa.
Nay các Phạm chí đối với các kinh điển ấy tụng tập,
thọ trì, học hỏi. Nhưng họ có nói như thế này: ‘Tôi
đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã
tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của
chúng.’?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Không
có. Nhưng các Phạm chí ấy do tin mà thọ trì.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Trong
các Phạm chí, không có một Phạm chí nào nói như vầy, ‘Tôi
đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã
tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của
chúng.” Và cũng không có vị Tôn sư hay Tổ sư nào, cho đến
bảy đời cha mẹ nói như thế này, ‘Tôi đối với năm pháp
này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác,
tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng.’
“Xưa
kia có những Phạm chí tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng
trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập điển
kinh: một là Dạ-tra, hai là Bà-ma, ba là Bà-ma-đề-bà, bốn
là Tỳ-xa-mật-đa-la, năm là Dạ-bà-đà-kiền-ni, sáu là Ứng-nghi-la-bà,
bảy là Bà-tư-tra, tám là Ca-diếp, chín là Bà-la-bà, mười
là Bà-hòa. Nay các Phạm chí đối với các kinh điển ấy,
tụng tập, thọ trì, học hỏi, nhưng họ không nói như vầy,
‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau
khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết
quả của chúng.’ Thế thì này Ma-nạp, các Phạm chí ấy
há không vì sự kiện này mà trong sự tin tưởng có thiếu
căn bản chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch:
“Bạch
Cù-đàm, thật sự không căn bản. Nhưng các Phạm chí nghe
rồi thọ trì.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Ví
như một đám người mù dắt nhau, người trước không thấy
người ở sau, cũng không thấy người ở giữa; người giữa
không thấy người ở trước, cũng không thấy người ở sau;
người ở sau không thấy người ở giữa, cũng không thấy
người ở trước. Này Ma-nạp, Ta nói các Phạm chí cũng như
vậy. Này Ma-nạp, trước ngươi nói là do tin, sau đó ngươi
nói là do nghe.”
Ma-nạp
Anh Vũ liền tức giận Đức Thế Tôn, hằn học, không vui,
phỉ báng Thế Tôn, chỉ trích Thế Tôn, mạ lỵ Thế Tôn,
và nghĩ rằng, ‘Cần phải phỉ báng Cù-đàm, cần phải chỉ
trích Cù-đàm, cần phải hạ nhục Cù-đàm.’ Liền nói với
Đức Thế Tôn:
“Này
Cù-đàm, có một Phạm chí tên là Phất-ca-sa-sa-la,
thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn,
nói như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào cho rằng
mình đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân;
sau khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận
được. Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng
như pháp. Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói
là được pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết,
tôi thấy pháp Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp
lý.”
Khi
ấy, Đức Thế Tôn liền nghĩ như thế này: “Ma-nạp Anh Vũ,
con ông Đô-đề phẫn nộ đối với Ta, hằn học, không vui,
phỉ báng Ta, chỉ trích Ta, mạ lỵ Ta, nghĩ rằng: ‘Cần phải
phỉ báng Cù-đàm, cần phải chỉ trích Cù-đàm, cần phải
hạ nhục Cù-đàm.’ Liền nói với Đức Thế Tôn: ‘Này
Cù-đàm, có một Phạm chí tên là Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng
tánh thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn, nói
như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào cho rằng mình
đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân; sau
khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận được.
Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng như pháp.
Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói là được
pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp
Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lý’.”
Đức
Thế Tôn biết thế nên nói:
“Này
Ma-nạp, có phải Phạm chí tên là Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng
tánh thuần khiết, không gián đoạn, ông ấy biết điều mong
nghĩ trong tâm của hết thảy Sa-môn, Phạm chí rồi mới nói
như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào cho rằng mình
đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân; sau
khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận được.
Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng như pháp.
Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói là được
pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp
Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lýchăng?’”
Ma-nạp
Anh Vũ đáp:
“Bạch
Cù-đàm, Phạm chí Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần
khiết, không gián đoạn, có một nữ tỳ tên là Bất-ni nhưng
đối với tâm niệm của nữ tỳ tên là Bất-ni.
Nhưng đối với tâm niệm của nữ tỳ này, ông còn không
thể biết, huống nữa là biết tâm tư của tất cả Sa-môn,
Phạm chí! Nếu cho rằng ông ấy biết, thì sự kiện này không
thể có.”
Thế
Tôn nói:
“Cũng
như người sanh ra đã mù; người ấy nói như thế này, ‘Không
có màu đen, màu trắng, cũng không thấy màu đen, màu trắng;
không có sắc tốt, sắc xấu, cũng không thấy sắc tốt, sắc
xấu; không có sắc ngắn, sắc dài, cũng không thấy sắc ngắn,
sắc dài; không có sắc gần, sắc xa, cũng không thấy sắc
gần, sắc xa; không có sắc thô, sắc tế, cũng không thấy
sắc thô, sắc tế; vì ta không bao giờ thấy, không bao giờ
biết, cho nên nói không có màu sắc.’ Người mù bẩm sinh
kia nói như vậy là đúng sự thật chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch
Cù-đàm, không phải vậy. Vì sao? Vì có màu đen, màu trắng,
cũng có người thấy màu đen, màu trắng; có sắc tốt, sắc
xấu, cũng có người thấy sắc tốt, sắc xấu; có sắc ngắn,
sắc dài, cũng có người thấy sắc ngắn, sắc dài; có sắc
gần, sắc xa, cũng có người thấy sắc gần, sắc xa; có sắc
thô, sắc tế, cũng có người thấy sắc thô, sắc tế. Nếu
nói, ‘Tôi không hề thấy, không hề biết, cho nên nói không
có màu sắc,’ thì người mù bẩm sinh nói như vậy là không
đúng sự thật.”
“Này
Ma-nạp, Phạm chí Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần
khiết, không gián đoạn; lời nói của ông ấy có khác gì
hạng người mù bẩm sinh, không có mắt kia chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch
Cù-đàm, như mù vậy.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu xưa kia có những Phạm chí,
tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng trì kinh thư, đã truyền
bá kinh thư, đã tụng tập điển kinh;
đó là các Phạm chí Thương-già, Phạm chí Sanh Văn, Phạm
chí Phất-ca-sa-sa-la và Đô-đề, thân phụ ngươi;
những điều mà họ nói, được chấp nhận hay không được
chấp nhận? Chân thật hay không chân thật? Có cao, có thấp
chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Nếu
xưa kia có những Phạm chí, tuổi thọ hết, mạng chung, đã
tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập điển
kinh, đó là các Phạm chí Thương gia, Phạm chí Sanh Văn, Phạm
chí Phất-ca-sa-sa-la và Đô-đề, thân phụ con; những điều
được nói ấy; thì theo ý con, họ mong được chấp nhận,
không mong không được chấp nhận; mong là chân thật, không
mong không phải là chân thật; mong là sự cao thượng, không
mong là sự thấp hèn.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn hỏi:
“Này
Ma-nạp, Phạm chí Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần
khiết, không gián đoạn; điều mà ông ấy nói, há không phải
là không được chấp nhận, không có sự được chấp nhận?
Là không chân thật, không có sự chân thật? Há không phải
là rất thấp hèn, không có cái gì cao?”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa Đức Thế Tôn:
“Thật
vậy, bạch Cù-đàm.”
“Lại
nữa, này Ma-nạp, có năm pháp gây chướng ngại, gây che lấp,
làm cho mù, không có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây
ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn. Những
gì là năm? Này Ma-nạp, pháp thứ nhất là dục, gây chướng
ngại, gây che lấp, làm cho mù, không có mắt, có thể diệt
mất trí tuệ, gây ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc
Niết-bàn. Này Ma-nạp, sân nhuế, thân kiến, giới thủ và
thứ năm là nghi, gây chướng ngại, gây che lấp làm cho mù,
không có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây ra sự nhọc
nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn.
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ai bị năm pháp này làm chướng
ngại, che lấp, quấn chặt, người ấy nếu muốn quan sát
ý nghĩa lợi ích của mình, ý nghĩa lợi ích của người khác,
ý nghĩa lợi ích của cả hai, và biết tất cả Sa-môn, Phạm
chí nghĩ gì trong tâm; sự kiện ấy không thể có.
“Này
Ma-nạp, Phạm chí Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần
khiết, không gián đoạn, bị nhiễm bởi dục, bị ô uế bởi
dục, nhiễm dục, xúc dục, say đắm nơi dục, vào trong dục
mà không thấy tai hoạn, không biết sự xuất yếu và sống
theo dục; vị ấy bị năm pháp này chướng ngại, che lấp,
quấn chặt; vị ấy nếu muốn quán sát ý nghĩa lợi ích của
mình, ý nghĩa lợi ích của người khác, ý nghĩa lợi ích
của cả hai, và biết tất cả Sa-môn, Phạm chí nghĩ gì trong
tâm; sự kiện ấy không thể có.
“Lại
nữa, này Ma-nạp, có năm công đức của dục, khả ái, khả
niệm, khả ý, khả lạc, có khát ái liên hệ sắc dục, rất
đáng ham muốn. Những gì là năm? Là sắc được thấy bởi
mắt, tiếng được nghe bởi tai, hương được ngửi bởi mũi,
vị được nếm bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Chúng sanh do năm công đức của
dục này cho nên phát sanh lạc, phát sanh hỷ, chẳng còn có
điều gì ở ngoài đây chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Thế Tôn:
“Quả
như vậy, bạch Cù-đàm.”
Thế
Tôn hỏi:
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Lửa do cỏ, cây được đốt cháy,
và lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; thứ lửa nào
có ngọn sáng tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; sự kiện
này không thể có. Chỉ có thể có do sức mạnh của Như ý
túc. Bạch Cù-đàm, lửa không do cỏ, cây mà được đốt
cháy; lửa ấy có ngọn sáng tối thượng, tối diệu, tối
thắng.”
Thế
Tôn nói:
“Quả
như vậy, quả như vậy! Nếu lửa không do cỏ, cây mà được
đốt cháy sự kiện này không thể có. Chỉ có do sức mạnh
của như ý túc, lửa không do cỏ cây mà được đốt cháy;
thứ lửa ấy có ngọn sáng tối thượng, tối diệu, tối
thắng.
“Này
Ma-nạp, ở đây Ta giả thiết rằng, cũng như thứ lửa do
cỏ cây mà được đốt cháy, sự phát sanh hỷ lạc của chúng
sanh cũng vậy, là do dục, do pháp ác, bất thiện, không đạt
được lạc do xả và tịch tĩnh. Này Ma-nạp, cũng như thứ
lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; sự phát sanh xả
lạc của chúng sanh cũng vậy, là do ly dục, từ các pháp thiện,
không đạt được lạc do xả và tịch tĩnh.”
Thế
Tôn lại nói:
“Này
Ma-nạp, ở đây, một Phạm chí lễ trai tự, hành bố thí,
nhưng có một đồng tử Sát-lợi từ phương Đông đến nói
như vầy, ‘Ta ở trong đây được chỗ ngồi bậc nhất, nước
rửa bậc nhất, ăn uống bậc nhất.’ Nhưng vì ở đó không
được chỗ ngồi bậc nhất, nước rửa bậc nhất, nó bèn
sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Hoặc từ phương Nam có đồng
tử Phạm chí đến, nói như vầy, ‘Ta ở trong đây được
thức ăn tịnh diệu.’ Nhưng ở đó không được thức ăn
tịnh diệu, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Hoặc từ
phương Tây có đồng tử Cư sĩ đến nói như vầy, ‘Ta ở
trong đây được thức ăn dồi dào.’ Nhưng ở đó không được
thức ăn dồi dào, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét.
Hoặc từ phương Bắc có đồng tử Công sư đến nói như
vầy, ‘Ta ở trong đây ăn no đủ.’ Nhưng ở đó không được
ăn no đủ, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Này Ma-nạp,
các vị Phạm chí ấy thực hành sự bố thí như vậy, sẽ
giả thiết những báo ứng nào?”
Ma-nạp
Anh Vũ thưa:
“Bạch
Cù-đàm, Phạm chí không thực hành bố thí với tâm như vậy,
khiến người khác oán hận, ôm lòng ganh ghét. Cù-đàm nên
biết, Phạm chí hành sự bố thí vì do tâm thương xót; do
tâm thương xót mà hành sự bố thí thì được đại phước.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, các Phạm chí há không phải chủ trương pháp thứ
sáu có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được
thiện chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ đáp:
“Quả
như vậy, bạch Cù-đàm.”
Đức
Thế Tôn hỏi:
“Này
Ma-nạp, nếu có Phạm chí chủ trương năm pháp có quả báo
lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện; thì ngươi
thấy pháp ấy phần nhiều ở tại đâu? Tại gia chăng? Xuất
gia học đạo chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ đáp:
“Bạch
Cù-đàm, nếu có Phạm chí chủ trương năm pháp có quả báo
lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện; thì con
thấy pháp ấy phần nhiều ở sự xuất gia học đạo, chứ
không phải ở tại gia. Vì sao? Vì tại gia có nhiều công việc,
có nhiều bổn phận phải làm, có nhiều kết hận, có nhiều
ganh ghét đấu tranh, không có thể thành tựu sự thủ hộ,
sự thành thật. Bạch Cù-đàm, người xuất gia học đạo
ít công việc, ít bổn phận phải làm, ít có kết hận, ít
có ganh ghét, nên có thể thành tựu sự thủ hộ, sự thành
thật.
“Bạch
Cù-đàm, sự thành thật ấy con thấy phần nhiều ở xuất
gia học đạo, chứ không phải ở tại gia. Vì sao? Vì tại
gia có nhiều công việc, nhiều bổn phận phải làm, có nhiều
kết hận, có nhiều ganh ghét, đấu tranh, không được hành
sự bố thí, không được tụng tập, không được hành khổ
hạnh, không được sống Phạm hạnh. Bạch Cù-đàm, người
xuất gia học đạo ít có công việc, ít có bổn phận phải
làm, ít có kết hận, ít có ganh ghét, vị ấy có thể hành
sự bố thí, có thể tụng tập, có thể hành khổ hạnh, có
thể sống Phạm hạnh.
“Bạch
Cù-đàm, Người sống Phạm hạnh, con thấy pháp phần nhiều
ở xuất gia học đạo chứ không phải ở tại gia.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, nếu có Phạm chí chủ trương năm pháp có quả báo
lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện, Ta nói
sự kiện ấy từ tâm mà khởi. Thế nào gọi là từ tâm mà
khởi? Nếu tâm không kết, không oán không sân nhuế, không
tranh chấp là do tu tập những pháp ấy.
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có Tỳ-kheo thủ hộ thành thật,
thì vị ấy do thủ hộ thành thật cho nên được hỷ, được
duyệt. Này Ma-nạp, nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện,
Ta nói sự kiện đó từ tâm mà khởi. Thế nào gọi là từ
tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không oán, không sân nhuế,
không tranh chấp, là do tu tập những pháp ấy. Như vậy, vị
ấy, được hành sự bố thí, được sự tụng tập, được
sự hành khổ hạnh, được sống Phạm hạnh. Vị ấy do sống
Phạm hạnh cho nên được hỷ, được duyệt.
“Này
Ma-nạp, nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện, Ta nói
sự kiện ấy từ tâm mà khởi. Thế nào gọi là từ tâm mà
khởi? Nếu tâm không kết, không oán, không sân nhuế, không
tranh chấp, tâm ấy đi đôi với từ, biến mãn một phương,
thành tựu an trụ; cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy,
trên dưới, bao trùm tất cả, tâm đi đôi với từ, không
kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng,
rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế
gian, thành tựu an trụ; cũng vậy, với bi và hỷ. Tâm đi đôi
với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh
chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.
“Này
Ma-nạp, cũng như có người khéo thổi tù và. Nếu có phương
nào chưa nghe được, người ấy vào lúc nửa đêm, leo lên
núi cao, đem hết sức thổi tù và, phát ra âm thanh vi diệu,
biến mãn cả bốn phương; cũng vậy, Tỳ-kheo tâm đi đôi
với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ; cũng vậy,
hai, ba, bốn phương, tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả,
tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế,
không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu
tập, biến mãn cả thế gian, thành tựu an trụ; cũng vậy
với bi và hỷ. Tâm đi đôi với xả, không kết, không oán,
không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô
lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu
an trụ.
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ở đây, có người cầu làm Trời.
Vì để sanh lên trời, nên người ấy thực hành tâm tương
ưng với tham lam, và nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Trời này,
hay vị Trời khác.’ Lại có người cầu làm Trời; vì để
sanh lên trời, nên không kết, không oán, không sân nhuế, không
tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập,
tâm định, ý xác quyết, biến mãn, thành tựu an trụ, và
nghĩ rằng. ‘Mong ta làm vị Trời này, hay vị Trời khác.’
Ngươi xem các người đó, ai được làm vị Trời này hay vị
Trời khác?”
Ma-nạp
Anh Vũ đáp:
“Bạch
Cù-đàm, nếu có người cầu làm Trời; vì để sanh lên trời,
nên không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp,
rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, tâm định,
ý xác quyết, biến thành tựu an trụ, con xem người ấy chắc
chắn được làm vị Trời này hay vị Trời khác.”
Thế
Tôn hỏi:
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có người cầu Phạm thiên.
Vì để sanh lên Phạm thiên, nên thực hành tâm tương ưng
với tham lam, và nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Phạm thiên này,
hay vị Phạm thiên khác.’ Ở đây, lại có người cầu Phạm
thiên. Vì để sanh lên Phạm thiên, nên không kết, không oán,
không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô
lượng, khéo tu tập, tâm định, ý xác quyết, biến mãn, thành
tựu an trụ, và nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Phạm thiên này
hay vị Phạm thiên khác.’ Ngươi xem các người đó, ai được
làm Phạm thiên này, hay Phạm thiên khác?”
Ma-nạp
Anh Vũ đáp:
“Bạch
Cù-đàm, nếu người này cầu Phạm thiên, vì để sanh lên
Phạm thiên, nên không kết, không oán, không sân nhuế, không
tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập,
tâm định, ý xác quyết, con thấy rằng, người này chắc
chắn được làm vị Phạm thiên này, hay vị Phạm thiên khác.”
Ma-nạp
Anh Vũ lại hỏi:
“Cù-đàm
biết con đường dẫn đến Phạm thiên
chăng?”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, nay Ta hỏi ngươi, hãy tùy theo sự hiểu biết mà trả
lời. Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Thôn Na-la-ca-la
cách chúng hội này không xa chăng?”
Ma-nạp
AnhVõ đáp:
“Không
xa.”
Thế
Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ngươi nói với một người trong
chúng hội này rằng: ‘Ông hãy đến thôn Na-la-ca-la kia. Đến
đó rồi quaỷ về.’ Người ấy vâng lời ngươi, nhanh chóng
đi đến thôn Na-la-ca-la; đến đó rồi trở về. Sau khi người
ấy đi và về rồi, ngươi hỏi đường đi, hỏi sự việc
đi và về, ra và vào nơi thôn Na-la-ca-la, người ấy há lại
đứng im, không thể trả lời chăng?”
Ma-nạp
Anh Vũ trả lời Đức Thế Tôn:
“Không
vậy, bạch Cù-đàm.”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
Ma-nạp, người ấy đi và về nơi thôn Na-la-ca-la, khi được
hỏi về đường đi, có thể đứng im, không biết trả lời.
Nhưng nếu hỏi Như Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác
về con đường dẫn đến Phạm thiên thì hoàn toàn không có
sự kiện giây lát im lặng, không biết trả lời.”
Ma-nạp
Anh Vũ bạch Thế Tôn:
“Sa-môn
Cù-đàm không chấp trước nơi sự tế tự chư Thiên; sự
kiện ấy đã trọn đủ. Bởi vì khi được hỏi về con đường
dẫn đến Phạm thiên thì Ngài có thể trả lời nhanh chóng.
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã rõ. Nay con
xin tự quy y Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận
con làm Ư-bà-tắc, kể từ hôm nay quy y cho đến lúc mạng
chung.”
Đức
Phật thuyết như vậy, Ma-nạp Anh Vũ sau khi nghe Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
CHU THICH
Anh
Vũ Ma-nạp Đô-đề Tử 鸚鸇摩納都題子.
Pāli: Subho māṇavo todeyyaputto, thanh niên Shubha, con trai của
Todeyya.
Thiên
ái 天愛.
Pāli: Devānampiya, người được Trời thương; thường dùng
để xưng hô với người ngu khờ. Bản Pāli: bhante: này ông
bạn.
Hán:
tiện đắc thiện giải, tắc tri như pháp 便得善解則知如法.
Pāli: ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ, là người nhiệt
tình với pháp thiện đúng chánh lý.
Bản
Pāli: vibhajjavādo kho aham ettha māṇava nāham ekaṃsavādo, Ta
thuyết có phân tích. Ta không thuyết pháp theo một chiều.
Pāli:
mahaṭṭham idaṃ mahākiccaṃ mahādhikaraṇam mahāsamārambhaṃ
gharācāsakammaṭṭhānaṃ mahapphalaṃ hoti, sự nghiệp của
người tại gia cần nhiều kinh doanh, nhiều việc phải làm,
nhiều tác vụ, nhiều nỗ lực, do đó, có kết quả to lớn.
Pāli:
atthi māṇana kammaṭṭhānaṃ mahaṭṭhaṃ mahākiccaṃ mahādhikaraṇam
mahāsamārambhaṃ vipajjamānaṃ appaphalaṃ hoti, có sự nghiệp
cần nhiều kinh doanh nhiều việc phải làm, nhiều tác vụ,
nhiều nỗ lực, nhưng không làm tốt, cho nên, kết quả nhỏ.
Có lẽ, trong bản Pāli: mahākicca (nhiều nghĩa vụ), trong bản
Hán đọc là mahācicha (nhiều khó nhọc, đại tai hoạn).
Pāli: mahādhikaraṇa, có nghĩa: sự vụ hay tác vụ, cũng có
nghĩa tranh chấp; bản Hán hiểu theo nghĩa thứ ha (đại
đấu tránh). Pāli: samārambha, có hai nghĩa: nỗ lực (do
gốc động từ rabh); hoặc gây tổn hại (do gốc động
từ radh); bản Hán hiểu theo nghĩa sau (đại tắng
oán).
Năm
pháp theo Pāli: saccam (sự thật), tapam (khổ hành), brahmacariyam
(tiết dục hay phạm hạnh), ajjhenam (tụng đọc), cāga (thí
xả). Bản Hán thay cāga (thí xả) bằng nhiệt hành.
Danh
sách mười đạo sĩ thời thượng cổ: Dạ-tra 夜吒,
Bà-ma 婆摩,
Bà-ma-đề-bà 婆摩提婆,
Tỳ-xa-mật-đa-la 毗奢蜜哆羅,
Dạ-bà-đà-kiền-ni 夜婆陀犍尼,
Ứng-nghi-la-bà 應疑羅婆,
Bà-tư-tra 婆私吒,
Ca-diếp 迦葉,
Bà-la-bà 婆羅婆,
Bà-hòa 婆惒. Danh
sách Pāli: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa,
Vāseṭṭha, Kassapa, Bhāradvājā.
Phất-ca-sa-sa-la 弗架娑娑羅;
Pāli: Pokkarasāti Opamañño Subhagavaniko, (người Bà-la-môn tên
là) Pokkharasāti Opamañño, sống trong rừng Subha.
Hán:
tánh trực thanh tịnh hóa 姓直清淨化;
chỉ thuộc một dòng họ Bà-la-môn thuần chủng, không lai
tạp trong nhiều đời liên tục.
Các
Bà-la-môn Thương-già 商伽,
Sanh Văn 生聞,
Phất-ca-sa-sa-la 弗袈娑娑羅
và Đô-đề 都提;
Pāli: Caṅki, Jānussoṇi, Pokkharasāti, Todeyya.
[20]Năm
pháp chướng ngại, bản Hán: dục, nhuế, thân kiến, giới
thủ kiến và nghi. Trong bản Pāli, pañca nīvaraṇā (năm triền
cái): kāmacchanda (dục vọng), vyāpāda (sân hận), thīnamiddha
(hôn trầm), uddhaccakukkucca (trạo cử), vicikicchā (nghi).
Hán:
Phạm đạo tích 梵道跡.
Pāli: brahmānaṃ sahavyatāya maggaṃ, con đường dẫn đến cộng
trú với Phạm thiên.
Na-la-ca-la
thôn 那羅迦邏村.
Pāli: Naḷakāra, thôn phụ cận Xá-vệ.