146.
KINH TƯỢNG TÍCH DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng
lâm, vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ dị học Ti-lô
vào lúc sáng sớm ra khỏi nước Xá-vệ, đi đến chỗ Phật,
cúi đầu làm lễ rồi ngồi xuống một bên. Phật thuyết
pháp cho ông nghe, khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan
hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khuyến
phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong rồi Phật ngồi
im lặng.
Dị
học Ti-lô sau khi được Phật thuyết pháp, khuyến phát khát
ngưỡng, thành tựu hoan hỷ xong, rời chỗ ngồi đứng dậy,
cúi đầu lễ chân Phật, đi quanh ba vòng rồi lui về.
Bấy
giờ, Phạm chí Sanh Văn
ngồi trên cỗ xe trắng rất đẹp, cùng với năm trăm đệ
tử, vào lúc sáng sớm, khi ra khỏi Xá-vệ, đi đến một khu
rừng để dạy đệ tử tụng đọc kinh thơ. Phạm chí Sanh
Văn từ xa trông thấy dị học Ti-lô đi đến, bèn hỏi:
“Này
Bà-ta,
mới sáng sớm đã từ đâu về vậy?”
Dị
học Ti-lô đáp:
“Này
Phạm chí, tôi đi thăm Đức Thế Tôn, lễ sự, cúng dường
rồi về đây.”
Phạm
chí Sanh Văn hỏi:
“Có
biết Sa-môn Cù-đàm ở nơi trống vắng yên tĩnh học trí
tuệ chăng?”
Dị
học Ti-lô đáp:
“Phạm
chí, hạng người nào mà có thể biết Thế Tôn ở nơi trống
vắng yên tĩnh học trí tuệ? Này Phạm chí, nếu biết Thế
Tôn ở nơi trống vắng yên tĩnh, học trí tuệ thì cũng phải
bằng Thế Tôn. Nhưng, này Phạm chí, kinh thơ mà tôi đọc
có bốn cú nghĩa
và do bốn cú nghĩa này mà tôi nhất định tin tưởng Thế
Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp
được nói bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử
Như Lai khéo thú hướng.
“Này
Phạm chí, cũng như thợ săn voi rành nghề, đi rảo trong một
khu rừng, ở giữa rừng cây nhìn thấy dấu chân voi to lớn,
thấy rồi thì nhất định tin tưởng con voi này phải là rất
lớn mới có dấu chân như vậy. Này Phạm chí, tôi cũng như
vậy. Trong kinh thơ mà tôi đọc có bốn cú nghĩa, do bốn cú
nghĩa này mà tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được nói bởi
Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử của Như Lai khéo
thú hướng.
“Bốn
cú nghĩa ấy là thế nào?
“Này
Phạm chí, các luận sĩ Sát-lợi có trí tuệ, học rộng, quyết
định,
có thể khuất phục người đời, không thứ gì là không biết,
rồi đem những điều được thấy mà tạo tác văn chương,
lưu hành trong thế gian. Họ nghĩ như vầy, ‘Ta đến chỗ
Sa-môn Cù-đàm hỏi sự việc như vầy, nếu trả lời được,
Ta lại hỏi nữa. Nếu không trả lời được, Ta khuất phục
rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp
nào đó, bèn tìm đến. Sau khi gặp Thế Tôn, hỏi còn không
dám, há lại nói đến sự khuất phục. Này Phạm chí, kinh
thư mà tôi đã đọc dùng được cho cú nghĩa thứ nhất này.
Nhân ý nghĩa này, tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được nói
bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử của Như
Lai khéo thú hướng.
“Cũng
vậy, những Phạm chí có trí tuệ, những Cư sĩ có trí tuệ,
những luận sĩ Sa-môn có trí tuệ, đa văn, quyết định, có
khả năng khuất phục người đời, không điều gì là không
biết, rồi đem những điều được thấy tạo tác văn chương
lưu hành thế gian. Họ nghĩ như vầy, ‘Ta đến chỗ Sa-môn
Cù-đàm hỏi sự việc như vầy, nếu trả lời được, Ta
lại hỏi nữa. Nếu không trả lời được, Ta khuất phục
rồi bỏ đi’. Họ nghe Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp
nào đó, bèn tìm đến. Sau khi gặp Thế Tôn, hỏi còn không
dám, há lại nói đến sự khuất phục. Này Phạm chí, kinh
thư mà tôi đã đọc dùng được cho cú nghĩa thứ tư này.
Nhân ý nghĩa này, tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được nói
bởi Thế Tôn là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử của Như
Lai khéo thú hướng.
“Này
Phạm chí, kinh thơ mà tôi được đọc có bốn cú nghĩa này.
Tôi do bốn cú nghĩa này mà nhất định tin tưởng rằng Thế
Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp
được Thế Tôn nói là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như
Lai khéo thú hướng.”
Phạm
chí Sanh Văn nói rằng:
“Này
Bà-ta, ông thật hết sức cúng dường Sa-môn Cù-đàm. Do sở
nhân, sở duyên này mà hoan hỷ phụng hành.
Dị
học Ti-lô đáp:
“Này
Phạm chí, thật vậy, thật vậy, tôi hết sức cúng dường
Đức Thế Tôn ấy và cũng hết sức tán thán. Tất cả thế
gian cũng nên cúng dường.”
Lúc
bấy giờ Phạm chí Sanh Văn trên xe bước xuống, quỳ gối
phải xuống đất, chắp tay hướng về rừng Thắng, vườn
Cấp cô độc ba lần làm lễ:
“Nam
mô Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Ba
lần như vậy xong, trở lên cỗ xe trắng rất đẹp, đi đến
rừng Thắng, vườn Cấp cô độc. Đến chỗ xe có thể đi
được, rồi xuống xe đi bộ, tiến về chỗ Phật, chào hỏi
xong ngồi xuống một bên, đem câu chuyện mà Phạm chí Sanh
Văn vừa thảo luận với dị học Ti-lô, kể lại hết cho
Phật nghe.
Thế
Tôn nghe xong, nói rằng:
“Này
Phạm chí, dị học Ti-lô nói thí dụ về dấu chân voi chưa
được hoàn hảo, chưa được trọn vẹn. Thí dụ về dấu
chân voi mà được nói một cách hoàn hảo, trọn vẹn để
Ta nói cho ông nghe. Hãy khéo nghe kỹ.
“Này
Phạm chí, cũng như thợ săn voi rành nghề, đi vào trong một
khu rừng, ở giữa đám cây rừng, nhìn thấy dấu chân voi
to lớn. Thấy rồi, có thể tin rằng con voi kia phải hết sức
to lớn mới có dấu chân như vậy.
“Này
Phạm chí, thợ săn voi rành nghề ấy, hoặc giả không tin,
vì rằng trong khu rừng ấy có một loại voi cái được gọi
là Gia-lê-nậu,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Rồi thợ săn
tìm theo dấu chân. Lại thấy dấu chân voi rất lớn. Thấy
rồi có thể tin rằng con voi này hết sức to lớn mới có
dấu chân như vậy.
“Này
Phạm chí, thợ săn rành nghề ấy, hoặc giả vẫn không tin,
vì rằng trong khu rừng ấy lại còn có loại voi cái được
gọi là Gia-la-lê,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Rồi thợ săn
tìm theo dấu chân này, lại thấy dấu chân voi to lớn. Thấy
rồi, có thể tin rằng con voi này phải hết sức to lớn mới
có dấu chân như vậy.
“Này
Phạm chí, thợ săn rành nghề ấy, hoặc giả vẫn không tin,
vì rằng trong rừng này còn có loại voi cái được gọi là
Bà-hòa-nậu,
thân thể rất cao lớn, nó có dấu chân này. Bèn đi tìm dấu
chân này. Lại thấy dấu chân voi to lớn. Thấy rồi có thể
tin rằng con voi này phải hết sức to lớn mới có dấu chân
này. Thợ săn sau khi tìm theo dấu chân, thấy dấu chân voi
rất lớn. Dấu chân voi rất lớn, vuông vức, rất dài, rất
rộng, toàn thể chu vi bàn chân lún sâu xuống đất, và thấy
con voi ấy hoặc đi lui, hoặc đi tới, hoặc dừng lại, hoặc
chạy, hoặc đứng, hoặc nằm. Thấy con voi ấy rồi bèn nghĩ
‘Nếu có dấu chân lớn ấy tất phải con voi lơn này’.
“Này
Phạm chí, cũng vậy, nếu trong đời xuất hiện Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên
Nhân Sư, Phật Chúng Hựu; vị ấy đối với thế gian này,
gồm chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ người đến
người, mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an
trụ, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Vị ấy thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có
văn, có nghĩa, trọn đủ thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh,
pháp được vị áy thuyết giảng, hoặc Cư sĩ, hoặc con nhà
Cư sĩ, nghe xong được tín tâm. Sau khi ở trong chánh pháp luật
của Như Lai mà được tín tâm rồi, bèn nghĩ rằng ‘Tại
gia chật hẹp, đầy những nhọc nhằn bụi bặm. Đời xuất
gia học đạo rộng rãi bao la. Ta nay sống tại gia bị những
phiền lớn khóa chặt, không được trọn đời tịnh tu phạm
hạnh. Vậy ta hãy từ bỏ những tài vật ít hay tài vật nhiều,
từ giã thân thuộc lớn hay thân thuộc nhỏ, cạo bỏ râu
tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình để học đạo’.
“Người
ấy về sau hãy từ bỏ những tài vật ít hay tài vật nhiều,
từ giã thân thuộc lớn hay thân thuộc nhỏ, cạo bỏ râu
tóc, khoác áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia
đình để học đạo. Vị ấy sau khi xuất gia, từ giã thân
thuộc, thọ yếu pháp Tỳ-kheo, tu tập cấm giới, thủ hộ
Tùng giải thoát; lại khéo thu nhiếp các oai nghi, lễ tiết,
thấy những lỗi nhỏ nhặt cũng thường đem lòng lo sợ, thọ
trì học giới.
“Người
ấy lìa bỏ sát sanh, đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy,
có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho
đến côn trùng. Người ấy đối với sự sát sanh, tâm đã
tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy của
không cho, chỉ lấy của được cho, vui trong sự lấy của
được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không keo kiết, không
trông chờ báo đáp. Người ấy đối với sự lấy của không
cho, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, siêng
tu phạm hạnh, tinh cần diệu hạnh thanh tịnh vô uế, ly dục,
đoạn dâm. Người ấy đối với sự phi phạm hạnh tâm đã
tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa nói láo, đoạn trừ nói láo, nói lời chắc thật,
an trụ trên sự thật không di động, nói tất cả những lời
đều đáng tin, không lừa gạt thế gian. Người ấy đối
với sự nói láo, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa nói hai lưỡi, đoạn trừ nói hai lưỡi, sống không
hai lưỡi, không phá hoại người khác. Không nghe người này
nói lại người kia để phá hoại người này. Không nghe từ
người kia nói lại người này để phá hoại người kia. Chia
rẽ thì làm cho hòa hợp, đã hòa hợp thì làm cho hoan hỷ.
Không kết bè đảng, không vui theo bè đảng, không ca ngợi
việc kết bè đảng. Người ấy đối với hai lưỡi, tâm
đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa lời nói cộc cằn, đoạn trừ nói cộc cằn. Nếu
có lời nói nào mà lời lẽ thô lỗ, tiếng dữ chói tai, mọi
người không vui, mọi người không thích, khiến người khác
khổ não, khiến không được định, đoạn trừ những lời
như vậy. Nếu có những lời nào mà ôn hòa, mềm mỏng, nghe
lọt tai, thấm vào lòng, đáng ưa, đáng thích, khiến người
khác an ổn, lời tiếng rõ ràng đầy đủ, không khiến người
sợ, khiến người được định. Nói những lời như vậy.
Người ấy đối với sự nói cộc cằn, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa nói thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt; nói đúng
thời, nói đúng sự thật, nói đúng pháp, nói đúng nghĩa,
nói tịch tịnh, nói sự ưa thích tịch tịnh, hợp sự việc,
hợp thời cơ, khéo khuyến giáo, khéo khiển trách. Người
ấy đối với sự nói thêu dệt, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa việc buôn bán, dẹp bỏ cân đong và đấu hộc;
cũng không nhận hàng hóa, không buộc trói người, không mong
đong lừa, cân thiếu, không vì lợi nhỏ mà xâm hại, gạt
gẫm người. Người ấy đối với sự buôn bán, tâm đã tịnh
trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận đàn bà góa, đồng nữ, đoạn trừ
sự thâu nhận đàn bà góa, đồng nữ. Đối với sự thâu
nhận đàn bà góa, đồng nữ, người ấy tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận nô tỳ, đoạn trừ sự thâu nhận
nô tỳ. Người ấy đối với sự thâu nhận nô tỳ, tâm đã
tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận voi, ngựa, bò, dê, đoạn trừ sự
thâu nhận voi, ngựa, bò, dê. Người ấy đối với sự thâu
nhận voi, ngựa, bò, dê, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận gà, heo, đoạn trừ sự thâu gà,
heo. Người ấy đối với sự thâu nhận gà, heo, tâm đã tịnh
trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận ruộng vườn, quán xá, đoạn trừ
sự thâu nhận ruộng vườn, quán xá. Người ấy đối với
sự thâu nhận ruộng vườn, quán xá, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận lúa, thóc, đậu sống, đoạn trừ
sự thâu nhận lúa, thóc, đậu sống. Người ấy đối với
sự thâu nhận lúa, thóc, đậu sống, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Người ấy đối với
sự uống rượu, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa giường cao rộng lớn, đoạn trừ giường cao rộng
lớn. Người ấy đối với giường cao rộng lớn, tâm đã
tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa tràng hoa, anh lạc, hương bột, phấn sáp; đoạn
trừ tràng hoa, anh lạc, hương bột, phấn sáp. Người ấy
đối với tràng hoa, anh lạc, hương bột, phấn sáp, tâm đã
tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe; đoạn trừ
ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Người ấy đối với
ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự thâu nhận tiền bạc, đoạn trừ sự thâu nhận
tiền bạc. Người ấy đối với sự thâu nhận tiền bạc,
tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy xa lìa sự ăn quá ngọ, đoạn trừ sự ăn quá ngọ. Người
ấy đối với sự ăn quá ngọ, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này rồi, lại sống hết
sức tri túc, áo chỉ cốt che thân, ăn chỉ cốt nuôi thân,
du hành đến đâu đều mang theo y bát, đi không luyến tiếc,
cũng như con nhạn mang theo đôi cánh bay liệng trong không.
“Người
ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc
rồi, lại thủ hộ các căn, thường niệm sự khép kín, niệm
tưởng muốn minh đạt, thủ hộ niệm tâm mà được thành
tựu, hằng mướn khởi ý. Khi mắt thấy sắc, không chấp
thủ sắc tướng, không đắm sắc vị; vì sự phẫn tránh
mà thủ hộ căn con mắt, trong tâm không sanh tham lam, ưu não,
ác bất thiện pháp, vì thú hướng đến kia,
nên thủ hộ căn con mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân,
khi ý biết pháp không chấp thủ pháp tướng, không đắm pháp
vị; vì sự phẫn tránh mà thủ hộ ý căn, trong tâm không
sanh tham lam, ưu não, ác bất thiện pháp, vì thú hướng đến
kia, nên thủ hộ ý căn.
“Người
ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc,
thủ hộ các căn rồi, lại biết rõ chân chánh sự ra vào,
khéo quán sát phân biệt sự co, duỗi, cúi, ngước, nghi dung
chững chạc, khéo đắp Tăng-già-lê và mang các y bát; đi,
đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết
rõ chân chánh.
“Người
ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc,
thủ hộ các căn, biết rõ chân chánh sự ra vào rồi lại
sống cô độc tại nơi xa vắng, ở trong rừng vắng, trong
rừng sâu, dưới gốc cây, những nơi trống vắng yên tĩnh,
sườn non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong
rừng, hoặc giữa bãi tha ma. Người ấy sau khi ở trong rừng
vắng, hoặc đến gốc cây, những chỗ không nhàn yên tĩnh,
trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, chánh thân chánh nguyện,
hướng niệm nội tâm,
đoạn trừ tâm tham lam, không có não hại, thấy tài vật và
các nhu dụng sinh sống của người khác mà không khởi tâm
tham lam muốn khiến về mình. Người ấy đối với tham lam,
tâm được tịnh trừ.
“Cũng
vậy, đối với sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn trừ
nghi hoặc, đối với các thiện pháp không còn do dự. Vị
ấy đối với sự nghi hoặc, tâm đã tịnh trừ.
“Người
ấy đoạn trừ năm triền cái này, những thứ làm tâm ô uế,
tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán,
có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu
an trụ.
“Này
Phạm chí, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được
Như Lai hành, được Như Lai phục, nhưng người ấy không cho
đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói
là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi
người ấy giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không
giác, không quán, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc Nhị thiền,
thành tựu an trụ.
“Này
Phạm chí, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được
Như Lai hành, được Như Lai phục, nhưng người ấy không cho
đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói
là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi
người ấy ly hỷ dục, xả, vô cầu, an trụ nơi chánh niệm,
chánh trí, thân cảm lạc thọ, điều mà Thánh nói là Thánh
sở xả niệm lạc trụ thất, đạt đến Tam thiền, thành
tựu an trụ.
“Này
Phạm chí, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được
Như Lai hành, được Như Lai phục, nhưng người ấy không cho
đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói
là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Rồi
người ấy lạc diệt, khổ diệt, ưu hỷ vốn cũng đã diệt,
không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh, đạt đến Tứ
thiền, thành tựu an trụ.
“Này
Phạm chí, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được
Như Lai hành, được Như Lai phục, nhưng người ấy không cho
đây là cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói
là toàn thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Người
ấy sau khi đạt đến tịnh tâm như vậy, thanh tịnh, không
uế, không phiền, nhu nhuyến, an trụ vững vàng, đạt được
bất động tâm, thú hướng đến sự tác chứng lậu tận
trí thông. Người ấy biết như thật đây là Khổ, biết như
thật đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt
đạo, biết như thật đây là lậu, biết như thật đây là
lậu tận, đây là lậu diệt, đây là lậu diệt đạo.
“Người
ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu,
tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi thì
biết mình đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa’.
“Này
Phạm chí, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được
Như Lai hành, được Như Lai phục, Người ấy lấy đây làm
cứu cánh để nói rằng ‘Thế Tôn là Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác, pháp được Thế Tôn nói là toàn
thiện, Thánh chúng đệ tử Như Lai khéo thú hướng’.
“Này
Phạm chí, ý ông nghĩ sao? Thí dụ về dấu chân voi như vậy
là khéo trình bày được trọn vẹn chăng?”
Phạm
chí Sanh Văn bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã rõ. Bạch
Thế Tôn, con nay tự quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng.
Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay
tự quy y cho đến mạng tận.”
Phật
thuyết như vậy. Phạm chí Sanh Văn và Dị học Ti-lô sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành
CHU THICH