138.
KINH PHƯỚC[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Phật bảo các vị Tỳ-kheo:
“Đừng
sợ hãi phước[2]
mà hãy có ý niệm yêu thích. Vì sao vậy? Vì những gì được
gọi là phước thì cũng nói là lạc. Sự sợ hãi đối với
phước là không có ý niệm yêu thích. Vì sao vậy? Những gì
là phi phước được nói là khổ.
“Ta
nhớ lại trong thời quá khứ, lâu dài tác phước, lâu dài
thọ báo mà ý niệm yêu thích. Thời quá khứ Ta hành từ tâm
trong bảy năm mà trải qua bảy lần kiếp thành và kiếp hoại,
không tái sanh trong thế gian này. Nếu thời kiếp hoại, Ta
sanh lên cõi trời Hoảng dục[3].
Trong thời kiếp thành, Ta tái sanh trở xuống trong cung điện
trống không của Phạm thiên và là Đại Phạm thiên trong cõi
Phạm thiên đó.
“Trong
những trường hợp khác, ta trải qua một ngàn lần làm Tự
Tại Thiên vương, ba mươi sáu lần làm Thiên Đế Thích và
vô lượng lần làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh.
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn thớt voi lớn được phủ những đồ cưỡi rất đẹp;
dùng các báu bạch châu lạc[4]
trang sức, phủ lên voi chúa đầu đàn Vu-sa-hạ[5].
“Này
Tỳ-kheo, lúc Ta làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn
ngàn con ngựa được phủ lên các thứ đồ cưỡi đẹp. Dùng
các báu vàng, bạc, dao lạc để trang sức cho ngựa đầu đàn
là ngựa Mao[6].
“Này
Tỳ-kheo, lúc Ta làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn
ngàn cỗ xe, trang sức bằng bốn cánh, dùng da vằn quý báu
đủ màu của các thú như sư tử, cọp, beo, dệt thành đủ
loại màu sắc xen lẫn trang sức cho cỗ xe dẫn đầu chạy
rất nhanh chóng tên là xe Nhạc thanh[7].
“Này
Tỳ-kheo, lúc Ta làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, có tám vạn bốn
ngàn thành lớn, giàu có cùng cực, dân chúng đông đúc, lấy
vương thành Câu-xá-hòa-đề[8]
làm đầu.
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn ngôi lầu; có bốn loại lầu báu, làm bằng vàng, bạc,
lưu ly và thủy tinh; đứng đầu là Chánh pháp điện[9].
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn ngự tòa; bốn loại tòa báu, bằng vàng, bạc, lưu ly
và thủy tinh; trải lên bằng các thứ nệm, chiếu dệt bằng
lông năm sắc, phủ lên bằng những gấm, the, sa trun, lụa
là; có chăn nệm lót, hai đầu để gối, trải thảm quý bằng
da sơn dương[10].
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn chiếc áo song y, áo sơ-ma[11],
áo gấm, áo lụa, áo kiếp bối, áo gia-lăng-già-ba-hòa-la.
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn người nữ, thân thể nõn nà, sạch sẽ sáng sủa, sắc
đẹp hơn người, không thua chư Thiên, tư dung đoan chánh, ai
nhìn cũng sinh ưa thích, trang điểm bằng các thứ vật báu,
anh lạc; tất cả đều thuộc dòng Sát-lợi. Ngoài ra, những
người thuộc dòng khác thì nhiều vô số.
“Này
Tỳ-kheo, lúc làm vua Sát-lợi Đảnh Sanh, Ta có tám vạn bốn
ngàn món ăn, ngày đêm thường dọn ra cho Ta ăn.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn món ăn kia, có một món hết
sức ngon, sạch sẽ, có vô lượng mùi vị, là món Ta thường
ăn.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn người nữ kia có một người
thuộc dòng Sát-lợi, đoan chánh đẹp đẽ khác thường, hầu
hạ Ta.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn song y kia có một chiếc áo
song y, hoặc là áo sơ ma, hoặc áo gấm, hoặc áo lụa, hoặc
áo kiếp-bối[12],
hoặc áo gia-lăng-già-ba-hòa-la là Ta thường mặc.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn ngự tòa kia, có một ngự
tòa làm bằng vàng, hoặc bạc, hoặc lưu ly, hoặc thủy tinh;
đồ trải lên thì dùng những tấm nệm, những chiếc chiếu
dệt bằng lông năm sắc; đồ phủ lên thì dùng gấm, the,
sa trun, lụa là, có chăn nệm lót, hai đầu để gối, có trải
thảm quý bằng da sơn dương, là Ta thường nằm.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn lầu quán kia, có một lầu
quán làm bằng vàng, hoặc bạc, hoặc lưu ly, hoặc thủy tinh,
tên là Chánh pháp điện, là nơi Ta thường ở.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn thành lớn kia, có một thành
giàu có cùng cực, dân chúng đông đúc, gọi là thành Câu-xá-hòa-đề
là chỗ ta thường ở.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn cỗ xe kia, có một cỗ được
dùng da đủ màu của các thú như sư tử, cọp, beo dệt thành,
màu sắc xen kẽ để trang hoàng, chạy rất nhanh chóng, tên
là xe Nhạc thanh, Ta thường ngồi lên, đi đến các lầu quán
để ngắm nhìn các vườn tược.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn con ngựa kia có một con màu
xanh biếc, đầu như chim, gọi là ngựa Mao, là Ta thường cưỡi,
đi đến các lầu quán để ngắm các vườn tược.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn thớt voi lớn kia, có một
thớt toàn thân trắng toát, bảy chi thảy đều ngay thẳng,
gọi là voi Chúa Vu-sa-hạ, là Ta thường cưỡi đi đến các
lầu quán để ngắm các vườn tược.
“Này
Tỳ-kheo, bấy giờ Ta nghĩ: ‘Đó là nghiệp quả gì, là nghiệp
báo gì, mà ngày nay Ta có đại như ý túc, đại oai đức,
đại phước hựu, đại oai thần?’
“Này
Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: ‘Đó là ba nghiệp quả, là ba nghiệp
báo, khiến ta ngày nay có đại như ý túc, có đại oai đức,
có đại phước hựu, có đại oai thần: một là bố thí,
hai là điều phục, ba là thủ hộ’.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói bài kệ:
Quán
sát phước báo này,
Diệu
thiện, nhiều ích lợi.
Tỳ-kheo,
Ta quá khứ
Bảy
năm tu từ tâm;
Bảy
kiếp thành, kiếp hoại,
Không
tái sinh cõi này.
Lúc
thế gian hủy hoại,
Ta
sanh trời Hoảng dục.
Lúc
thế gian chuyển thành,
Ta
sanh vào Phạm thiên;
Ở
đó, Ta Đại phạm.
Nghìn
sanh, Tự Tại thiên;
Ba
sáu lần Đế thích;
Vô
lượng trăm Đảnh vương.
Sát-lợi
Đảnh Sanh vương,
Tối
tôn trong loài người.
Đúng
pháp, không dao gậy,
Thống
trị cả thiên hạ.
Đúng
pháp, không dối trá
Chánh
an lạc, dạy dân.
Đúng
pháp, lần lượt truyền,
Khắp
tất cả cõi đất.
Chỗ
giàu sang, nhiều của,
Sanh
vào chủng tộc ấy;
Lúa
gạo thảy tràn đầy’
Thánh
tựu bảy trân bảo.
Do
các phước lớn ấy,
Chỗ
sanh đều tự tại.
Chư
Phật ngự thế gian,
Những
điều Phật ấy dạy;
Biết
điều này kỳ diệu,
Thấy
thần thông không ít.
Ai
biết mà không tin,
Như
vậy sanh trong tối.
Vì
vậy hãy vì mình
Mong
cầu đại phước hựu.
Hãy
cung kính Chánh pháp;
Thường
niệm Pháp Luật Phật.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
CHU THICH
Pāli:
mā bhikkhave puññānaṃ bhāyittha, sukkhass’etaṃ bhikkhave adhivacanaṃ,
yad idaṃ puññaun ti, “đừng sợ phước; đồng nghĩa với
lạc, đó là phước”.
Như
pháp bất gia uổng如法不加抂.
Pāli: asāhasena dhammena, đúng theo pháp chứ không cưỡng chế.