137.
KINH THẾ GIAN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như
Lai đã tự mình giác ngộ về thế gian và cũng nói lại cho
người khác. Như Lai biết[2]
thế gian. Như Lai tự giác ngộ về sự tập khởi của thế
gian và cũng nói lại cho người khác. Như Lai đoạn trừ thế
gian tập. Như Lai tự giác ngộ sự diệt tận của thế gian
và cũng nói cho người khác. Như Lai chứng ngộ thế gian diệt.
Như Lai tự giác ngộ đạo tích[3]
của thế gian và cũng nói cho người khác. Như Lai tu thế gian
đạo tích.
“Nếu
có tất cả những gì cần đuơc hiểu biết một cách toàn
diện[4],
tất cả những gì điều đó Như Lai đã biết, thấy, giác,
ngộ, chứng đắc. Vì sao vậy? Như Lai từ đêm chứng ngộ
Vô thượng chánh đẳng chánh giác cho đến ngày hôm nay vào
lúc ban đêm sẽ đi vào tịch diệt trong Vô dư Niết-bàn giới[5];
trong khoảng thời gian giữa đó, nếu những gì được nói
ra, được ứng đối từ chính miệng của Như Lai, tất cả
những điều ấy đều là chắc thật, không hư vọng, không
ra ngoài sự Như[6],
cũng không phải là điên đảo. Đó là sự chắc thật, là
sự chân thật.
“Nếu
nói về sư tử như thế nào, thì hãy nói về Như Lai cũng
như vậy. Vì sao vậy? Như Lai ở giữa đại chúng nếu có
giảng thuyết thì đó chính là tiếng rống của Sư tử[7].
“Đối
với tất cả thế gian, Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí,
từ trời đến người, Như Lai là Phạm Hữu[8].
Như Lai là Bậc Chí Lãnh[9]
vì không phiền cũng không nhiệt. Như Lai là Bậc Chân Thật
không hư vọng[10].”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói bài kệ:
Biết
tất cả thế gian;
Ra
khỏi mọi thế gian;
Thuyết
tất cả thế gian;
Trọn
thế gian như thật[11]
Đấng
Tối Tôn Đại Hùng
Giải
thoát mọi triền phược,
Diệt
tận hết thảy nghiệp,
Sanh
tử đều giải thoát.
Là
trời cũng là người,
Thảy
đều quy mạng Phật.
Cúi
đầu lễ Như Lai,
Đại
dương sâu vô cực.
Chư
Thiên, thần Hương âm[12],
Kính
lạy Đấng Đã Biết.
Chúng
sanh trong tử sanh,
Đều
cúi đầu quy phục,
Cúi
đầu lễ Trí sĩ;
Quy
mạng Đấng Thượng Nhân;
Không
trần lụy, vô ưu,
Vô
ngại, các giải thoát;
Vì
vậy, hãy vui thiền,
Sống
viễn ly tịch tịnh.
Hãy
tự mình đốt đèn,
Vì
Như Lai khó gặp[13].
Không
gặp thời Như Lai,
Đời
sống trong địa ngục.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli A.4.23 Loka-sutta; tham chiếu It. 112 Loka.
[2]
Bốn Thánh đế, tri khổ, đoạn tập, chứng diệt và tu đạo.
[3]
Đạo tích 道 跡; Pāli: paṭipāda, phương pháp, hay đường
lối thực hành.
[4]
Nhất thiết tận phổ chánh hữu 一 切 盡 普 正 有 (?) Có
lẽ là (…) chánh tri, thay vì chánh hữu. Tham chiếu Pāli: yam…
sadevakassa lokassa… sadevamanussasāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ
viññataṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā sabbaṃ taṃ
tathāgatena abhisaṃbuddhaṃ, thế giới này bao gồm Thiên giới,
cho đến, chư Thiên và nhân loại, những gì được thấy,
được nghe, được nghĩ đến, được biết đến, được
đạt đến, được tầm cầu, được suy xét bởi ý; tất
cả những cái ấy đều được Như Lai giác ngộ.
[5]
Vô dư Niết-bàn giới 無 餘 涅 槃 界. Pāli: anupādisesā nibbānadhātu.
[6]
Bất ly ư như 不 離 於 如. Pāli nói: sabbaṃ tam tatheva hoti,
no aññathā, tất cả những điều ấy chính thực là như vậy,
không thể khác.
[7]
Pāli khác hẵn: nói như vậy thì cũng làm như vậy (...) cho
nên gọi là Như Lai. Yathāvādī tathākārī (...) tathāgato vuccati.
[8]
Phạm Hữu 梵 有được hiểu là “Bậc Tối Diệu” (Pāli:
Brahmabhūta, S.IV. Pp-95, M.I. P.111), không được đề cập trong
bản Pāli.
[9]
Chí lãnh hữu 至 冷 有, cực kỳ mát lạnh, vì đã dập tắt
các thứ lửa. Pāli:?
[10]
Chân đế bất hư hữu 真 諦 不 虛 有, không rõ Pāli. Đoạn
văn Pāli được coi tương đương: (…) Tathāgato abhibhū anabhibhūti
aññadṛatthudaso vasavattī, Như Lai là Vị chiến thắng, Vị
không thể bị đánh bại, là Vị thấy tất cả, biết tất
cả, tự do tự tại.
[11]
Pāli: sabhaṃ loke yathātatham, (biết) tất cả thế gian một
cách như thật.
[12]
Hương âm thần 香 音 神, hay nhạc thần, hay Càn-thát-bà;
Pāli: Gandhabba.
[13]
Vô ngã tất thất thời 無 我 必 失 時.