134.
KINH THÍCH VẤN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại phía Đông thành Vương xá, nước
Ma-kiệt-đà, trong động đá Nhân-đà-la, trên núi Bệ-đà-đề,
phía Bắc thôn Nại lâm[2].
Bấy
giờ Thiên Vương Thích[3] nghe Phật du hóa tại phía Đông thành
Vương xá, nước Ma-kiệt-đà, trong động Nhân-đà-la, trên
núi Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại lâm. Khi ấy, Thiên Vương
Thích bảo Ngũ Kết nhạc tử[4] rằng:
“Ta
nghe Đức Thế Tôn du hóa tại phía Đông thành Vương xá, nước
Ma-kiệt-đà, trong động Nhân-đà-la, trên núi Bệ-đà-đề,
phía Bắc thôn Nại lâm. Này Ngũ Kết, ngươi hãy cùng ta đến
yết kiến Đức Thế Tôn”.
Ngũ
Kết nhạc tử thưa rằng:
“Xin
vâng.”
Rồi
thì, Ngũ kết nhạc tử ôm đàn lưu ly[5] cùng đi theo Thiên
Vương Thích. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên nghe Thiên Vương
Thích rất khát khao muốn gặp Phật, chư Thiên Tam thập tam
thiên cũng theo hầu Thiên vương mà đi. Bấy giờ trong khoảnh
khắc, nhanh như lực sĩ co duỗi cánh tay, Thiên Vương Thích
cùng chư Thiên Tam thập tam và Ngũ Kết biến mất khỏi cõi
trời Tam thập tam, đã hiện đến phía Đông thành Vương xá,
nước Ma-kiệt-đà, trên núi Bệ-đà-đề, phía Bắc thôn Nại
lâm, cách động đá không xa.
Lúc
bấy giờ núi Bệ-đà-đề hào quang chiếu sáng rực rỡ như
lửa cháy. Nhân dân ở chung quanh núi thấy vậy nghĩ rằng:
“Núi Bệ-đà-đề bị lửa đốt cháy khắp nơi.”
Khi
ấy Thiên Vương Thích sau khi đã đứng xuống tại một nơi,
bảo rằng:
“Này
Ngũ Kết, Đức Thế Tôn là như vậy. Ngài ở trong rừng vắng,
trong rừng sâu, dưới gốc cây, thích ở trên sườn núi cao,
vắng bặt không tiếng động, xa lánh, không có sự dữ, không
có bóng người, tùy thuận mà tĩnh tọa, có đại oai đức;
cùng với chư Thiên, ưa thích đời sống xa lánh, tĩnh tọa
ấy, đời sống an ổn khoái lạc ấy. Chúng ta chưa thông báo
trước, không nên tự tiện bước tới. Này Ngũ Kết, ngươi
hãy đi đến thông báo trước, sau đó chúng ta mới bước
tới.”
Ngũ
kết thưa rằng:
“Xin
vâng lời.”
Ngũ
Kết sau khi vâng lời dạy của Thiên Vương Thích, liền ôm
đàn lưu ly đi trước, đến động đá Nhân-đà-la, rồi nghĩ
rằng: “Hãy ở nơi này, cách Phật không gần cũng không xa,
để Phật biết được và nghe được âm thanh của ta.”.
Khi
đã đến đứng ở nơi kia, Ngũ Kết gảy đàn và hát lên
những bài tụng nói về tình yêu, nói về rồng, nói về Sa-môn,
nói về A-la-hán[6]:
Hiền
nương ơi[7]!
Ta
kính lễ phụ mẫu nàng;
Mặt
trăng và Đam-phù-lâu[8];
Đã
sanh nàng thù diệu,
Gây
hoan lạc lòng ta.
Như
nóng cầu gió mát;
Như
khát cầu nước lạnh;
Như
vậy, ta yêu nàng,
Như
La-hán yêu Pháp.
Như
dòng nước, khó giữ!
Lụy
tình cũng như vậy.
Đời
đời mong sống chung,
Như
cúng dường Vô Trước.
Ao
nước trong, vừa mát;
Dưới
đáy có cát vàng[9];
Như
voi chúa[10]
nóng bức,
Xuống
ao tắm mặc tình.
Như
voi bị móc câu
Lòng
ta bị nàng khuất
Hành
động nàng không hay
Yểu
điệu, chưa được nàng.
Tâm
ý ta hoàn toàn lệ thuộc,
Và
phiền oan đã đốt cháy tim;
Và
vì vậy không còn hoan lạc,
Như
một người đi vào hang hùm.
Như
Thích tử tư duy thiền tọa,
Hằng
vui say trong sự nhất tâm.
Như
Mâu-ni đạt thành giác ngộ [11];
Cũng
diệu tịnh như ta được nàng.
Như
niềm vui Đại thánh Mâu-ni[12]
Do
chứng đắc viên toàn giác đạo.
Niềm
vui ta cũng ở nơi kia,
Bằng
khao khát được nàng hội tụ
Như
người bệnh mong cầu phương dược;
Như
đói ăn hoài niệm thức ăn;
Ơi
Hiền nữ, mong lòng ta tắt,
Như
nước rưới cho ngọn lửa tàn.
Nếu
ta có hành vi tạo phước,
Như
cúng dường La-hán chân nhân[13];
Thọ
báo ấy tức thành tịnh diệu,
Ta
mong cùng Hiền nữ sống chung.
Ta
ước nguyện bên nàng vĩnh kiếp;
Không
xa nàng sống lẻ đơn thân.
Và
ta hẹn theo nàng được chết,
Không
mong gì cách biệt ly sanh.
Ôi,
Thiên đế cho tôi lời nguyện,
Bậc
tôn cao Tam thập tam thiên!
Ôi
Đại Thánh, trên đời tối thượng,
Biết
cho tôi lời nguyện vững bền.
Kính
lễ Đấng Hùng Lực,
Tối
thượng giữa nhân gian,
Dứt
trừ gai ái dục,
Con
lạy Đấng Nhật Thân[14].
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn từ tam-muội dậy, tán thán Ngũ Kết Nhạc
tử:
“Lành
thay! Lành thay! Ngũ Kết, giọng ca của ngươi cùng với tiếng
đàn hòa điệu; tiếng đàn và giọng ca hòa điệu. Giọng
ca không đi ngoài tiếng đàn; tiếng đàn không đi ngoài giọng
ca. Này Ngũ Kết, ngươi nhớ lại ngày xưa, ngươi có ca tụng
bài kệ liên quan đến tình yêu, liên quan đến rồng, liên
quan đến Sa-môn, liên quan đến La-hán này chăng?”
Ngũ
Kết thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, mong Đại Tiên Nhân[15] tự biết cho. Bạch Đại
Tiên Nhân, ngày xưa, khi Thế Tôn mới chứng đắc giác đạo,
ở tại Uất-bệ-la[16], bên bờ sông Ni-liên-thiền[17], dưới
gốc cây A-xà-hòa-la-ni-câu-loại[18]. Bấy giờ con gái của
Nhạc vương Đam-phù-lâu[19], tên là Hiền Nguyệt Sắc[20] và
có một thiên thần tên là Kết, con trai của Ma-đâu-lệ, người
đánh xe[21], yêu người con gái kia.
“Bạch
Đại Tiên Nhân, vị ấy trong lúc đang yêu người con gái ấy,
con cũng yêu người con gái ấy. Nhưng, bạch Đại Tiên Nhân,
khi con yêu người con gái ấy mà cuối cùng không được. Bấy
giờ con đứng sau người con gái ấy mà ngâm bài kệ liên
quan đến tình yêu, liên quan đến rồng, liên quan đến Sa-môn,
liên quan đến La-hán này.
“Bạch
Đại Tiên Nhân, khi con ngâm bài kệ này, người con gái ấy
quay nhìn lại, hân hoan cười nụ và nói với con rằng: ‘Ngũ
Kết, tôi chưa được thấy Phật Thế Tôn kia, nhưng tôi nghe
từ các vị trời Tam thập tam nói rằng: ‘Đức Thế Tôn
kia là Như Lai, là Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Thành Tựu Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu’. Này Ngũ
Kết, nếu anh đã từng nhiều lần ca ngợi Đức Thế Tôn,
vậy anh có thể cùng với tôi đồng thờ kính Đấng Đại
Tiên Nhân’. Con chỉ gặp gỡ nàng được một lần duy nhất,
từ đó về sau không còn thấy lại.”
Bấy
giờ Thiên Vương Thích nghĩ rằng: “Ngũ Kết nhạc tử đã
làm cho Thế Tôn ra khỏi thiền định, thông báo ta với Đức
Thiện Thệ.” Rồi thì, Thiên Vương Thích nói:
“Ngũ
Kết, ngươi hãy đến nơi ấy, thay mặt ta đảnh lễ sát chân
Phật mà thăm hỏi Đức Thế Tôn rằng: ‘Thánh thể có khỏe
mạnh, an ổn khoái lạc, không bệnh, đi đứng thoải mái,
khí lực bình thường chăng? Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên Vương
Thích và chư Thiên ở Tam thập tam muốn đến yết kiến Thế
Tôn’.”
Ngũ
kết thưa:
“Xin
vâng.”
Khi
đó, Ngũ Kết bỏ đàn lưu ly xuống, chắp tay hướng về Phật,
bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn! Kính Đại Tiên Nhân! Thiên Vương Thích xin cúi đầu
dưới chân Phật, thăm hỏi Thế Tôn rằng: ‘Thánh thể có
khỏe mạnh, an ổn khoái lạc, không bệnh, đi đứng thoải
mái, khí lực bình thường chăng? Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên
Vương Thích và chư Thiên ở Tam thập tam muốn đến yết kiến
Thế Tôn’.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này
Ngũ Kết, mong cho Thiên Vương Thích được an ổn khoái lạc.
Chư Thiên, loài người, A-tu-la, Kiền-thát-bà, La-sát và tất
cả các loài chúng sanh khác đều được an ổn, khoái lạc.
Này Ngũ Kết, Thiên Vương Thích có muốn đến yết kiến Ta,
vậy xin cứ tùy ý.”
Ngũ
Kết nghe Phật dạy xong, khéo léo thọ trì, đảnh lễ chân
Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra, trở về đến chỗ Thiên
Vương Thích thưa rằng:
“Tâu
Thiên vương, tôi đã bạch với Thế Tôn. Thế Tôn nay đang
đợi Thiên vương. Mong Thiên vương nên tự biết thời.”
Bấy
giờ, Thiên Vương Thích cùng chư Thiên Tam thập tam và Ngũ
kết nhạc tử đi đến chỗ Phật. Khi ấy, Thiên Vương Thích
cúi đầu sát chân Phật, ba lần tự xưng danh tánh rằng:
“Bạch
Đại Tiên Nhân! Con là Thiên Vương Thích! Con là Thiên Vương
Thích!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Quả
thật vậy! Quả thật vậy. Này Câu-dực[22], ngươi chính là
Thiên Vương Thích.”
Thiên
Vương Thích ba lần tự xưng danh tánh, đảnh lễ chân Phật
rồi đứng sang một bên. Khi ấy, Thiên Vương Thích thưa rằng:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, con nên ngồi cách Thế Tôn xa hay gần?”Đức
Thế Tôn dạy:
“Ngươi
hãy ngồi gần ta. Vì sao? Vì người có hàng chư Thiên quyến
thuộc đông vậy.”
Rồi
Thiên Vương Thích đảnh lễ chân Phật và ngồi sang một bên.
Chư Thiên Tam thập tam và Ngũ Kết nhạc tử cũng đảnh lễ
chân Phật rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy động Nhân-đà-la
bỗng nhiên rộng lớn. Vì sao? Vì do oai thần của Phật và
oai đức của chư Thiên vậy.
Thiên
Vương Thích sau khi ngồi xuống, thưa rằng:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, đã từ lâu con muốn đến yết kiến Thế
Tôn, muốn thưa hỏi về giáo pháp. Bạch Đại Tiên Nhân, xưa
kia, một thời Đức Thế Tôn du hóa tại nước Xá-vệ, trong
một vách đá[23]. Bạch Đại Tiên Nhân, lúc đó con có việc
riêng, cùng với chư Thiên Tam thập tam đi xe ngàn voi[24] đến
nhà của đại vương Bệ-Sa-môn[25]; Bệ-sa-môn đại vương
gia có người thiếp tên là Bàn-xà-na[26].
“Lúc
bấy giờ Thế Tôn đang nhập định, im lặng tịch nhiên. Người
thiếp kia chắp tay đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn. Bạch
Đại Tiên Nhân, con nói với Bàn-xà-na rằng: ‘Này hiền muội,
nay không phải lúc ta đến yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang
nhập định. Nếu khi nào Thế Tôn xuất định, hiền muội
hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và hỏi thăm Thánh thể
của Thế Tôn có khỏe mạnh, an ổn, khoái lạc, không bệnh,
đi đứng thoải mái, khí lực bình thường không nói như vầy:
‘Bạch Đại Tiên Nhân, Thiên Vương Thích đảnh lễ chân
Phật và thăm hỏi rằng: ‘Thế Tôn có khỏe mạnh, an ổn,
khoái lạc, không bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình
thường không?’ Bạch Đại Tiên Nhân, cô em ấy có thay mặt
con đảnh lễ chân Phật và thăm hỏi Thế Tôn, Thế Tôn có
nhớ chăng?”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
Câu-dực, cô em ấy có thay mặt ngươi đảnh lễ và cũng nói
lại ý ngươi muốn thăm hỏi. Ta có nhớ việc ấy. Này Câu-dực,
khi người đi, Ta nghe tiếng xe lăn mà xuất định.”
“Bạch
Thế Tôn, ngày xưa con có nghe rằng, khi Đức Như Lai, Bậc
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên
Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu xuất hiện ở đời thì thiên chúng
được hưng thịnh mà A-tu-la bị giảm thiểu.
“Bạch
Đại Tiên Nhân, chính mắt con trông thấy Tỳ-kheo đệ tử
Thế Tôn theo Phật tu hành phạm hạnh, xả dục, ly dục. Khi
thân hoại mạng chung được đến cõi an lành, sanh lên trời.
“Bạch
Đại Tiên Nhân, Thích nữ Cù-tỳ[27] là đệ tử của Thế
Tôn cũng theo Thế Tôn tu tập phạm hạnh, ghê tởm thân nữ,
ái lạc thân nam, chuyển thân nữ thành thân nam, xả dục,
ly dục, khi thân hoại mạng chung được sanh đến cõi Tam thập
tam thiên làm con của con. Nàng đã thọ sanh rồi, chư Thiên
thảy đều biết, Cù-bà thiên tử[28], có đại như ý túc,
có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần.
“Bạch
Đại Tiên Nhân, con lại thấy có ba vị Tỳ-kheo đệ tử Thế
Tôn cũng theo Thế Tôn tu tập phạm hạnh, nhưng không xả ly
dục, khi thân hoại mạng chung chúng sanh vào trong Kỹ nhạc
cung[29] thấp kém. Họ đã thọ sanh rồi, ngày ngày đến Tam
thập tam thiên cùng chư Thiên hầu hạ Cù-bà thiên tử. Thiên
tử thấy chúng liền nói bài kệ:
Pháp
nhãn Ưu-bà-di[30],
Tôi
vốn tên Cù-tì,
Phụng
kính Phật và pháp,
Tịnh
ý thờ Tăng-già.
Tôi
đã nhờ ân Phật,
Thích
tử phước đức lớn,
Diệu
sanh Tam thập tam,
Thiên
tử, mọi người biết.
Biết
người vốn Tỳ-kheo,
Sanh
làm thần kỹ nhạc;
Chắp
tay đứng trước mặt
Cù-bà
nói kệ cho.
Vốn
con Đức Cù-đàm;
Khi
tôi ở nhân gian,
Nhà
ta các ngươi đến;
Ẩm
thực tôi cúng dường.
Ngươi
vốn cùng bậc Thánh
Hành
vô thượng phạm hạnh;
Nay
lại để người sai,
Thường
nhật kính phụng trời.
Xưa
tôi hầu hạ người,
Cùng
nghe Thánh diệu pháp.
Được
tín, thành tựu giới;
Khéo
sanh cõi trời này.
Người
vốn được thờ phụng,
Hành
vô thượng phạm hạnh.
Nay
lại để người sai
Thường
nhật kính phụng trời.
Mặt
mày người là gì?
Phật
pháp đã thọ trì,
Quay
lưng, không hướng Pháp,
Pháp
nội tâm chứng tri[31],
Thánh
nhãn đã dạy rõ[32].
Tôi
xưa hầu các vị;
Nay
nhạc thần thấp kém;
Tự
theo phi pháp hành,
Tự
sanh chỗ phi pháp.
Ta
sống đời tại gia;
Nay
xem thắng đức ta,
Chuyển
nữ thành thiên tử,
Thọ
ngũ dục tự do.
Con
Cù-đàm bị mắng,
Buồn
nản, khen Cù-đàm[33]:
Ta[34]
nay hãy tiến hành;
Thiên
tử nói thật đúng.
Hai
trong số cần hành,
Nhớ
pháp luật Cù-đàm,
Biết
dục là tai họa,
Bèn
xả ly dục tham.
Chúng
bị dục trói chặt,
Tức
xả ly được liền.
Như
voi bứt dây xích,
Vượt
Tam thập tam thiên.
Nhân-đà-la,
Thiên, Phạm,
Tất
cả đều đến nhóm.
Họ
liền vượt chỗ ngồi,
Hùng
mãnh xả trần dục.
Đế
Thích thấy chúng phiền[35];
Thắng
Thiên[36], trời trên trời.
Chúng
vốn sanh hạ tiện,
Nay
vượt Tam tam thiên.
Ưu
phiền, rồi tấm tắc[37].
Cù-bà
nói sau hết:
Loài
người có Đại Giác,
Đấng
Mâu-ni thắng dục[38].
Con
Ngài do lãng quên,
Bị
quở trách, lại được.
Một
trong ba vị kia
Sanh
trong thần kỹ nhạc.
Hai
vị chánh đạo thành
Tại
trời, vui định căn.
Ngươi
nói pháp như vầy;
Đệ
tử không mê hoặc,
Vượt
lậu, đoạn tà nghi,
Lễ
Phật, thắng phục căn[39].
Bởi
vì tỏ các pháp,
Hai
vị được tiến thăng.
Từ
chỗ tiến thăng ấy
Sanh
lên trời Phạm thiên.
Chúng
con biết pháp ấy
Nên
đến đây, Đại Tiên!”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Vị Quỷ[40] này không bao
giờ dua nịnh, dối trá, không huyễn hoặc, chất trực. Nếu
có hỏi tất là muốn biết, chứ không phải muốn xúc nhiễu.
Những điều vị này muốn hỏi cũng vậy. Ta hãy nói A-tỳ-đàm
thậm thâm.”
Đức
Thế Tôn biết như thế rồi, Ngài liền nói bài kệ cho Thiên
Vương Thích:
Vì
an lạc đời này,
Và
an lạc đời sau,
Câu-dực
tùy ý hỏi,
Theo
những điều sở thích.
Điều
này hay điều kia,
Ta
quyết đoán hết thảy.
Thế
Tôn đã nghe cho
Nhật
Thiên cầu đạo nghĩa,
Tại
nước Ma-kiệt-đà
Hiền
Bà-sa-bà hỏi[41].
Bấy
giờ Thiên Vương Thích thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, các loại trời, người, A-tu-la, Kiền-đạt-hòa,
La-sát và các chủng loại khác[42], mỗi mỗi có bao nhiêu kết
sử[43]?”
Đức
Thế Tôn nghe xong, đáp:
“Này
Câu-dực, các loại trời, người, A-tu-la, Kiền đạt hòa,
La-sát và các chủng loại khác, mỗi mỗi đều có hai kết
là bỏn sẻn và ganh tị[44]. Mỗi chủng loại ấy đều nghĩ
rằng: ‘Mong sao ta không gậy[45], không kết, không oán, không
nhuế, không tranh, không đấu, không khổ, sống trong an lạc[46].’
Chúng tuy nghĩ như vậy, nhưng vẫn có gậy, có kết, có oán,
có nhuế, có tranh, có đấu, có khổ mà không sống trong sự
an lạc.”
Thiên
Vương Thích nghe thế, thưa rằng:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân, các loài trời,
người, A-tu-la, Kiền đạt hòa, La-sát và các chủng loại
khác, mỗi mỗi đều có hai kiết sử. Chúng nghĩ rằng: ‘Mong
sao ta không gậy, không kết, không oán, không nhuế, không tranh,
không đấu, không khổ, mà sống trong sự an lạc’. Chúng
tuy nghĩ như vậy, nhưng vẫn có gậy, có kết, có oán, có
nhuế, có tranh, có đấu, có khổ mà không sống trong sự an
lạc. Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy,
bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân.
Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn
trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật
dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng
hành; rồi lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, bỏn sẻn, ganh tị do nhân gì duyên gì, từ
đâu sanh ra, do đâu mà có? Lại do nhân gì, duyên gì mà không
có bỏn sẻn và ganh tị?”
Thế
Tôn đáp rằng:
“Này
Câu-dực, bỏn sẻn và ganh tị nhân nơi yêu và không yêu[47],
duyên nơi yêu và không yêu; từ nơi yêu và không yêu sanh ra;
do yêu và không yêu mà có. Nếu không có yêu, và không yêu
thì không có bỏn sẻn và ganh tị vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa rằng:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân. Bỏn sẻn và
ganh tị nhân nơi yêu và không yêu, duyên nơi yêu và không
yêu; từ nơi yêu và không yêu sanh ra; do yêu và không yêu mà
có. Nếu không có yêu, và không yêu thì không có bỏn sẻn
và ganh tị. Thật sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như
vậy, bạch Thiện Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên
Nhân. Đúng như pháp mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã
đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe những điều
Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, yêu và không yêu là do nhân gì, duyên gì,
từ đâu phát sanh, do đâu mà có? Lại do nhân nào mà không
có yêu và không yêu?”
Đức
Thế Tôn bảo rằng:
“Này
Câu-dực, yêu và không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục
mà phát sanh, do dục mà có[48]. Nếu vô dục thì không có yêu
và không yêu vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa rằng:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thậït sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Yêu và không
yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh, do dục
mà có. Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy. Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp
mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn trừ nghi hoặc,
không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, dục là do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà
sanh, do đâu mà có; do nhân nào không có dục?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, dục là do nhân niệm[49] và duyên nơi niệm, từ
nơi niệm mà phát sanh; do niệm mà có; nếu không có suy niệm
thì không có dục.”
Thiên
Vương Thích nghe thế thưa rằng:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân, dục là do
nhân niệm và duyên nơi niệm, từ nơi niệm mà phát sanh; do
niệm mà có; nếu không có suy niệm thì không có dục. Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp
mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc,
không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, niệm là do nhân gì, duyên gì, từ đâu mà
sanh, do đâu mà có. Lại do nhân nào không có suy niệm?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, niệm là nhân nơi tư và duyên nơi tư, từ nơi tư
mà phát sanh, do tư mà có[50]. Nếu không có tư thì không có
niệm.
“Do
niệm có dục, do dục có yêu và không yêu. Do yêu và không
yêu có bỏn sẻn và ganh tị. Do bỏn sẻn và ganh tị mà sanh
ra dao, gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, dối trá, nói
láo, nói hai lưỡi, trong tâm sanh ra vô lượng pháp ác bất
thiện. Như vậy, toàn khối lớn khổ đau này phát sanh.
“Nếu
không có tư thì không có niệm. Nếu không có niệm thì không
có dục. Nếu không có dục thì không có yêu và không yêu.
Nếu không có yêu và không yêu thì không có bỏn sẻn và ganh
tị. Nếu không có bỏn sẻn và ganh tị thì không có dao gậy,
đấu tranh, thì nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói hai
lưỡi, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện.
Như vậy, toàn khối lớn đau khổ này tiêu diệt”.
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa rằng:
“Con
đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ!
Con đã hiểu, bạch Đại Tiên Nhân. Niệm là nhân nơi tư và
duyên nơi tư, từ nơi tư mà phát sanh, do tư mà có. Nếu không
có tư thì không có niệm.
“Do
niệm có dục, do dục có yêu và không yêu. Do yêu và không
yêu có bỏn sẻn và ganh tị. Do bỏn sẻn và ganh tị mà sanh
ra dao, gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, dối trá, nói
láo, nói hai lưỡi, trong tâm sanh ra vô lượng pháp ác bất
thiện. Như vậy, toàn khối lớn khổ đau này phát sanh.
“Nếu
không có tư thì không có niệm. Nếu không có niệm thì không
có dục. Nếu không có dục thì không có yêu và không yêu.
Nếu không có yêu và không yêu thì không có bỏn sẻn và ganh
tị. Nếu không có bỏn sẻn và ganh tị thì không có dao gậy,
đấu tranh, thì nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói hai
lưỡi, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện.
Như vậy, toàn khối lớn đau khổ này tiêu diệt.
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp
mà Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc,
không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe xong những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, thế nào là con đường tiêu diệt hý luận[51].
Tỳ-kheo thực hành như thế nào để hướng đến con đường
tiêu diệt hý luận?”
Đức
Thế Tôn đáp rằng:
“Này
Câu-dực, con đường tiêu diệt hý luận là Thánh đạo tám
chi. Đó là, chánh kiến, chánh tư duy, cho đến chánh định.
Này Câu-dực, đó là con đường tiêu diệt hý luận. Tỳ-kheo
thực hành như vậy để hướng đến con đường tiêu diệt
hý luận.”
Thiên
Vương Thích nghe dạy xong, thưa rằng:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân, con đường
tiêu diệt hý luận là Thánh đạo tám chi. Đó là, chánh kiến,
chánh tư duy, cho đến chánh định. Này Câu-dực, đó là con
đường tiêu diệt hý luận. Tỳ-kheo thực hành như vậy để
hướng đến con đường tiêu diệt hý luận. Đúng như vậy,
bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện thệ! Đúng như
vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp mà Đức Phật đã
dạy, con đã rõ. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không còn do
dự, do nghe những điều Phật dạy”.
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, một Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu
diệt hý luận phải đoạn bao nhiêu pháp và hành bao nhiêu
pháp?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận
phải đoạn ba pháp và tu hành ba pháp. Thế nào là ba? Một
là niệm, hai là ngôn, ba là cầu[52].
“Này
Câu-dực, niệm ấy Ta nói có hai loại, nên hành và không nên
hành. Nếu niệm mà không nên hành thì Ta liền đoạn trừ.
Nếu niệm nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành, có niệm,
có trí để thành tựu niệm kia vậy. Ngôn cũng như thế.
“Này
Câu-dực, cầu ấy Ta nói cũng có hai loại, nên hành và không
nên hành. Nếu cầu mà không nên hành thì Ta liền đoạn. Nếu
cầu mà nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành, có niệm, có
trí, để thành tựu cầu kia vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa:
“Thật
sự như vậy, bạch Thế Tôn! Thật sự như vậy, bạch Thiện
Thệ! Thật sự như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo không
hướng đến con đường tiêu diệt hý luận, đoạn ba pháp,
tu hành ba pháp. Thế nào là ba? Một là niệm, hai là ngôn,
ba là cầu.
Đại
Tiên Nhân đã nói, niệm có hai loại nên hành và không nên
hành. Nếu niệm tăng trưởng pháp ác bất thiện và giảm
tổn thiện pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu
niệm giảm tổn pháp ác bất thiện và tăng trưởng thiện
pháp thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào nên hành, có niệm,
có trí để thành tựu niệm kia vậy. Ngôn cũng như vậy. Đại
Tiên Nhân đã nói cầu cũng có hai loại, nên hành và không
nên hành. Nếu cầu tăng trưởng pháp ác bất thiện và tổn
giảm thiện pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu
cầu mà giảm tổn pháp ác bất thiện và tăng trưởng thiện
pháp thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào nên hành, có niệm,
có trí để thành tựu cầu kia vậy.
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ!
Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp Phật
đã nói, con đã biết. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không
còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt
hý luận, có bao nhiêu pháp; để thủ hộ Tùng giải thoát[53],
hành bao nhiêu pháp?
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận
có sáu pháp; để thủ hộ tùng giải thoát hành sáu pháp.
Sáu pháp ấy là gì? Đó là, mắt thấy sắc, tai nghe thanh,
mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc, ý biết pháp.
“Này
Câu-dực, mắt thấy sắc ấy, Ta nói có hai loại, nên hành
và không nên hành. Nếu mắt thấy sắc không nên hành thì
Ta liền đoạn trừ. Nếu mắt sắc nên hành thì Ta biết lúc
nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu mắt vậy.
“Cũng
như thế, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi
nếm vị, thân biết xúc và ý biết pháp ấy, Ta nói cũng có
hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu ý biết pháp không
nên hành thì Ta liền đoạn trừ. nếu ý biết pháp nên hành
thì Ta biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành
tựu ý vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ!
Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến
con đường tiêu diệt hý luận có sáu pháp; để thủ hộ
Tùng giải thoát hành sáu pháp. Sáu pháp ấy là gì? Mắt thấy
sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân
biết xúc, ý biết pháp. Đại Tiên Nhân đã nói, mắt thấy
sắc có hai loại, nên hành và không nên hành. Nếu mắt thấy
mà tăng trưởng pháp ác bất thiện và làm tổn giảm thiện
pháp thì Đại Tiên Nhân liền đoạn trừ. Nếu mắt thấy
sắc làm tổn giảm pháp ác bất thiện và làm tăng trưởng
thiện pháp thì Đại Tiên Nhân biết lúc nào nên hành vậy.
Có niệm, có trí để thành tựu mắt vậy. Cũng như thế,
đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị,
thân biết xúc, ý biết pháp cũng có hai loại, nên hành và
không nên hành. Nếu ý biết pháp làm tăng trưởng pháp ác
bất thiện và giảm tổn thiện pháp thì Đại Tiên Nhân liền
đoạn trừ. Nếu ý biết pháp làm tổn giảm pháp ác bất
thiện và tăng trưởng thiện pháp thì Đại Tiên Nhân biết
lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu ý vậy.
Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện
Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp
Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi, trừ hoặc,
không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, vị Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu
diệt hý luận, khi thân mạng tồn tại trong một khoảnh khắc,
phải đoạn bao nhiêu pháp và tu hành bao nhiêu pháp?”
Đức
Thế Tôn dạy:
“Này
Câu-dực, Tỳ-kheo hướng đến con đường tiêu diệt hý luận,
khi thân mạng tồn tại trong một khoảnh khắc, lại cũng phải
đoạn ba pháp và tu hành ba pháp. Ba pháp ấy là gì? Một là
hỷ, hai là ưu và ba là xả[54].
“Này
Câu-dực, hỷ ấy Ta nói có hai loại, nên hành và không nên
hành. Nếu hỷ mà không nên hành thì Ta liền đoạn trừ. Nếu
hỷ nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí
để thành tựu hỷ vậy. Ưu cũng như thế.
“Này
Câu-dực, xả ấy Ta nói cũng có hai loại, nên hành và không
nên hành. Nếu xả mà không nên hành thì Ta liền đoạn trừ.
nếu xả nên hành thì Ta biết lúc nào nên hành, có niệm,
có trí để thành tựu xả vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ!
Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Tỳ-kheo hướng đến
con đường tiêu diệt hý luận, khi thân mạng tồn tại trong
một khoảnh khắc phải đoạn trừ ba pháp và thực hành ba
pháp. Ba pháp ấy là gì? Một là hỷ, hai là ưu, ba là xả.
Đại Tiên Nhân đã nói hỷ có hai loại, nên hành và không
nên hành. Nếu hỷ làm tăng trưởng pháp ác bất thiện và
giảm tổn thiện pháp thì liền đoạn trừ. Nếu hỷ làm giảm
tổn pháp ác bất thiện và tăng trưởng thiện pháp thì biết
lúc nào nên hành, có niệm, có trí để thành tựu hỷ vậy.
Ưu cũng như thế. Đại Tiên Nhân đã nói xả cũng có hai loại,
nên hành và không nên hành. Nếu xả làm tăng trưởng pháp
ác bất thiện và giảm tổn thiện pháp thì liền đoạn trừ.
Nếu xả làm tổn giảm pháp ác bất thiện và trăng trưởng
thiện pháp thì biết lúc nào nên hành, có niệm, có trí để
thành tựu xả vậy. Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như
vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân!
Đúng như pháp Phật đã nói, con đã biết. Con đã đoạn nghi
trừ hoặc, không còn do dự, do nghe những điều Phật dạy.”
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đồng một
thuyết, đồng một mong cầu, đồng một sở thích, đồng
một an lạc, đồng một ý hướng chăng?[55]”
Đức
Phật dạy:
“Này
Câu-dực, tất cả Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết,
không đồng một mong cầu, không đồng một sở thích, không
đồng một an lạc, không đồng một ý hướng.”
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, tất cả Sa-môn, Phạm chí vì lý do gì mà
không đồng một thuyết, không đồng một mong cầu, không
đồng một sở thích, không đồng một an lạc, không đồng
một ý hướng?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, thế giới này có nhiều chủng loại giới, có vô
lượng giới[56]. Vị ấy tùy theo một giới được biết đến,
rồi nhân giới đó tùy khả năng của mình mà nói một chiều
rằng ‘Đây là chân thật, ngoài ra đều hư dối’. Này Câu-dực,
cho nên tất cả Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết,
không đồng một mong cầu, không đồng một sở thích, không
đồng một an lạc, không đồng một ý hướng vậy.”
Thiên
Vương Thích nghe xong, thưa:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ!
Đúng như vậy, bạch Đại Tiên Nhân! Thế giới này có nhiều
chủng loại giới, có vô lượng giới. Vị ấy tùy theo một
giới được biết đến, rồi ở nơi giới đó tùy khả năng
của mình mà nói một chiều rằng ‘Đây là chân thật, ngoài
ra đều hư vọng’. Bạch Đại Tiên Nhân, vì thế mà tất
cả Sa-môn, Phạm chí không đồng một thuyết, không đồng
một mong cầu, không đồng một sở thích, không đồng một
an lạc, không đồng một ý hướng vậy. Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Đúng như vậy,
bạch Đại Tiên Nhân! Đúng như pháp Phật đã nói, con đã
biết. Con đã đoạn trừ nghi hoặc, không còn do dự, do nghe
những điều Phật dạy”.
Thiên
Vương Thích sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng
hành.
Thiên
Vương Thích lại hỏi:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đạt đến
cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh, thành
tựu cứu cánh phạm hạnh chăng[57]?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
Câu-dực, không hẳn tất cả Sa-môn, Phạm chí đều đạt
đến cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh,
thành tựu cứu cánh phạm hạnh.”
Thiên
Vương Thích, thưa:
“Bạch
Đại Tiên Nhân, vì lý do gì mà không hẳn tất cả Sa-môn,
Phạm chí đều đạt đến cứu cánh, cứu cánh phạm bạch
tịnh, cứu cánh phạm hạnh, thành tựu cứu cánh phạm hạnh?”
Đức
Thế Tô