131.
KINH HÀNG MA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Bạt-kì-sấu, trong núi Ngạc,
rừng Bố, vườn Lộc dã[2].
Lúc
bấy giờ Đại Mục-kiền-liên đang coi việc dựng thiền thất
cho Phật[3]. Trong lúc Tôn giả đang kinh hành trên khoảng đất
trống, bấy giờ Ma vương hóa hình nhỏ xíu, chui vào trong
bụng của Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Lúc đó, Tôn giả
Đại Mục-kiền-liên nghĩ như vầy, “Bụng ta cảm thấy nặng,
giống như đang ăn phải hạt đậu. Ta hãy nhập Như kỳ tượng
định, bằng Như kỳ tượng định ta nhìn vào bụng xem.”
Rồi
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đi đến cuối đường kinh hành,
trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, nhập như kỳ tượng
định, bằng như kỳ tượng định mà nhìn vào bụng mình,
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thấy Ma vương đang ở trong
đó. Tôn giả bèn ra khỏi định, nói với Ma vương:
“Này
Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ
có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như
Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái
sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ.”
Khi
ấy, Ma vương liền nghĩ: “Sa-môn này không thấy, không biết,
thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần,
ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc
nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa,
vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ’. Tôn
sư của ông ta có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại
phước hựu, có đại oai thần, cũng không thể thấy mau lẹ,
biết mau lẹ như vậy, huống nữa là đệ tử mà thấy biết
được sao!”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên lại nói với Ma vương rằng:
“Ta
lại biết trong ý của ngươi, ngươi nghĩ như vầy, ‘Sa-môn
này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần,
ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc
nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng
sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ,
thọ vô lượng khổ’. Tôn sư của ông ta có đại như ý
túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai
thần, cũng không thể thấy mau lẹ, biết mau lẹ như vậy,
huống nữa là đệ tử mà thấy biết được sao!’”
Ma
Ba-tuần kia nghĩ rằng: “Sa-môn này đã thấy và biết ta nên
mới nói như vậy.” Rồi ma Ba-tuần hóa hình nhỏ xíu, từ
trong miệng vọt ra, đứng ngay trước mặt Tôn giả Đại Mục-kiền-liên.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên bảo rằng:
“Này
ma Ba-tuần, thuở xưa, có Như Lai tên là Giác-lịch-câu-tuân-đại[4],
Đấng Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Lúc đó ta làm ma có
tên là Ác[5]. Ta có người em gái[6] tên là Hắc[7]. Ngươi
chính là con trai của nó. Này ma Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên
ngươi là cháu gọi ta bằng cậu.
“Này
ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác có hai đệ tử, một tên là Âm[8],
hai tên là Tưởng[9]. Này Ba-tuần, do ý nghĩa nào được gọi
là Âm? Ba-tuần, Tôn giả đó lúc sống trên cõi trời Phạm
thiên, tiếng nói bình thường của ngài vang cả ngàn thế
giới, lại không có một đệ tử nào có âm thanh ngang bằng,
hoặc tương tợ, hoặc trội hơn được. Này Ba-tuần, vì lẽ
ấy cho nên Tôn giả đó được gọi là Âm vậy. Ba-tuần,
lại do ý nghĩa nào mà Tôn giả Tưởng có tên là Tưởng?
Này Ba-tuần, Tôn giả Tưởng nương nơi thôn ấp mà du hành.
Khi đêm đã qua, lúc trời hừng sáng, Tôn giả ấy đắp y,
mang bình bát, đi vào thôn ấp khất thực, cẩn thận thủ
hộ thân, thu nhiếp các căn, giữ vững chánh niệm. Ngài sau
khi khất thực xong và sau khi ăn vào lúc giữa trưa, thâu vén
y bát, rửa tay chân, vắt Ni-sư-đàn trên vai, đi vào rừng
vắng vẻ, hoặc đến dưới gốc cây trong rừng sâu, hoặc
đến chỗ không tĩnh, trải ni-sư-đàn ngồi kết già, liền
nhập Tưởng tri diệt định một cách mau chóng. Lúc ấy có
những người đang lùa trâu, dê, người đi mót cỏ, hoặc
người đi đường, họ vào trong núi, thấy ngài nhập Tưởng
tri diệt định, bèn nghĩ rằng: ‘Nay Sa-môn này ngồi mà chết
trong khu rừng vắng này. Chúng ta hãy nhặt cỏ khô chất đống
phủ lên trên, ràng rịt cẩn thận, lượm củi chất chồng
lên trên thân để hỏa thiêu’. Họ bèn nhặt cỏ chất đống
phủ lên thân ngài, nổi lửa đốt rồi bỏ mà đi. Tôn giả
kia, sau khi đêm đã qua, trời vừa hừng sáng, ra khỏi định,
đập phủi y phục, du hành trở về thôn ấp, đắp y, mang
bình bát vào thôn ấp khất thực như thường lệ, khéo giữ
gìn thân căn, giữ vững chánh niệm. Những người lùa trâu,
dê, những người mót cỏ khô, hoặc người đi đường vào
trong núi đã gặp Tôn giả trước kia, họ bèn nghĩ: ‘Đây
là Sa-môn ngồi mà chết trong khu rừng vắng vẻ này. Chúng
ta đã nhặt cỏ khô chất đống phủ trên thân, nổi lửa
đốt rồi bỏ đó mà đi. Song Hiền giả này vẫn còn biết
tưởng[10].’ Này Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên Tôn giả Tưởng
được gọi là Tưởng vậy.
“Này
Ba-tuần, lúc ấy ác ma nghĩ rằng: ‘Sa-môn trọc đầu này
bị da đen trói chặt[11], bị tuyệt chủng, không con cái, học
thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò
xét[12]. Giống như con lừa trọn ngày mang nặng, bị cột lại
trong tàu, không được ăn lúa mạch, nó dò xét, ngong ngóng
dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; Sa-môn trọc đầu này
bị da đen trói chặt, tuyệt chủng, không con cái, chúng nó
học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng
dò xét.
“‘Giống
như con mèo ngồi rình bên hang chuột, vì muốn bắt chuột
nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò
xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt,
tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong
ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“
‘Cũng giống như con cú mèo[13] ở giữa đống củi khô, vì
muốn bắt chuột nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn
ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da
đen trói chặt, tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền,
dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“
‘Giống như con chim hạc[14] ở bên bờ nước, vì muốn bắt
cá nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng
dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt,
bị tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét,
ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.
“‘Chúng
dò xét cái gì? Dò xét với mục đích gì? Dò xét để mong
cái gì? Chúng nó loạn trí, phát cuồng, bại hoại. Ta chẳng
biết chúng nó ở đâu đến, cũng chẳng biết chúng nó đi
về đâu, chẳng biết chúng nó sống ở đâu, chẳng biết
chúng nó chết như thế nào, sanh như thế nào? Ta hãy dạy
bảo các Phạm chí, Cư sĩ rằng: ‘Ngươi hãy đi đến mà
chửi, mà đập, mà phá, mà rủa xả Sa-môn tinh tấn kia’.
Vì sao vậy? Khi bị chửi, bị đập, bị phá, bị rủa xả,
biết đâu chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ lợi dụng’.
“Bấy
giờ ác ma bèn xúi dục các Cư sĩ, Phạm chí. Các Cư sĩ, Phạm
chí ấy chửi, đập phá, rủa xả Sa-môn tinh tấn. Các Cư
sĩ, Phạm chí ấy hoặc dùng cây đánh, hoặc lấy đá ném,
hoặc vác gậy đập, có khi gây thương tích Sa-môn tinh tấn,
có khi làm rách toạc áo, có khi làm bể bình bát. Bấy giờ
trong số Cư sĩ Phạm chí ấy do nhân duyên này thân hoại mạng
chung phải đến ác xứ, sanh trong địa ngục. Chúng sanh vào
đó rồi, suy nghĩ như vầy, ‘Ta phải thọ khổ này, lại
phải thọ cực khổ hơn nữa. Vì cớ sao? Vì chúng ta đã đối
xử tàn ác với Sa-môn tinh tấn vậy’.
“Này
Ba-tuần, đệ tử của Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như
Lai, Đấng Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác mang đầu thương
tích, mang y rách toạc, mang bình bát bể, đi đến chỗ Giác-lịch-câu-tuân-đại
Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác. Lúc bấy giờ
Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước
Đẳng Chánh Giác đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn
quyến thuộc vây quanh. Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như
Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác trông thấy từ
xa một đệ tử mang đầu bị thương tích, y rách toạc, bình
bát bể đi đến. Ngài thấy vậy, bảo các Tỳ-kheo rằng:
‘Các ngươi có thấy chăng, ác ma đã xúi dục các Cư sĩ,
Phạm chí rằng ‘Các ngươi hãy đến mà chửi, mà đập,
mà rủa xả Sa-môn tinh tấn. Vì cớ sao? Khi bị chửi, bị
đập, bị rủa xả, biết đâu chúng nó chẳng nổi ác tâm
để ta dễ dàng lợi dụng’.’ Này các Tỳ-kheo, hãy với
tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu
an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy thượng hạ
bao trùm tất cả, tâm tương ưng với từ, Bồ tát kết, không
oán, không nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Bi và hỷ cũng vậy. Tâm tương ưng với xả, không kết,
không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn bao la, vô lượng,
khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an
trụ. Với tâm ấy khiến ác ma không thể lợi dụng’.
“Này
ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô
Sở Trước Đẳng Chánh Giác bằng giáo pháp như vậy mà dạy
đệ tử. Họ bèn thọ lãnh giáo pháp ấy, tâm tương ưng với
từ, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn bao la, khéo
tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Với tâm ấy, ác ma kia không thể lợi dụng được.
“Này
ma Ba-tuần, lúc đó ác ma lại nghĩ: ‘Bằng sự việc ấy
ta muốn lợi dụng Sa-môn tinh tấn mà không thể được. Bây
giờ ta hãy xúi dục các Cư sĩ, Phạm chí rằng: ‘Các người
hãy đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn’.
Biết đâu do sự phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh
tấn, chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ dàng lợi dụng’.
“Này
Ma Ba-tuần, các Cư sĩ, Phạm chí kia sau khi bị ác ma xúi dục,
họ đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn.
Họ lấy áo trải lên mặt đất mà nói rằng ‘Sa-môn tinh
tấn, xin đạp lên mà đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những
việc khó làm, khiến cho chúng tôi mãi mãi được lợi ích,
được an ổn khoái lạc’. Hoặc có Phạm chí trải tóc lên
mặt đất, nói rằng ‘Sa-môn tinh tấn, xin đạp lên tóc mà
đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến
cho chúng tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái
lạc’. Hoặc có Cư sĩ, Phạm chí hai tay bưng đủ các loại
ẩm thực, đứng bên dưới đợi và nói rằng ‘Sa-môn tinh
tấn, xin nhận vật thực này, xin cứ mang đi tùy ý mà thọ
dụng, để cho tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn
khoái lạc’. Các Cư sĩ, Phạm chí thành tín thấy Sa-môn tinh
tấn, cung kính bồng bế vào nhà, đem đủ thứ tài vật ra
cho Sa-môn tinh tấn và nói rằng: ‘Xin thọ nhận cái này,
xin thọ dụng cái này, xin mang cái này đi, tùy ý mà thọ dụng’.
Lúc bấy giờ trong số các Cư sĩ, Phạm chí đó có người
chết, do nhân duyên này thân hoại mạng chung được đi đến
thiện xứ, sanh lên cõi trời. Sau khi sanh vào đó, họ bèn
nghĩ ‘Ta đáng thọ hưởng sự an lạc này, lại sẽ thọ
hưởng cực lạc hơn nữa. Vì sao thế? Vì chúng ta đã làm
các việc lành với Sa-môn tinh tấn vậy’.
“Này
ma Ba-tuần, đệ tử của Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như
Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác, sau khi được phụng
kính, cúng dường, lễ sự, họ đi đến Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại
Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác. Lúc đó Đức
Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng
Chánh Giác đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đệ tử
vây quanh. Khi Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Vô Sở
Trước Đẳng Chánh Giác trông thấy từ xa các đệ tử được
phụng kính, cúng dường, lễ sự đang đi đến, thấy vậy,
ngài bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Các ngươi có thấy chăng? Ác
ma xúi dục các Cư sĩ, Phạm chí rằng ‘Các ngươi hãy đến
phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn’. Biết
đâu do phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn, chúng
sẽ nổi ác tâm để ta dễ dàng lợi dụng. Này các Tỳ-kheo,
các ngươi hãy quán các hành vô thường, quán các pháp hưng
suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt, quán đoạn để
cho bọn ác ma không thể lợi dụng’.
“Này
ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô
Sở Trước Đẳng Chánh Giác bằng giáo pháp như vậy mà dạy
các đệ tử, họ bèn thọ lãnh giáo pháp ấy, quán các hành
vô thường, quán pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly, quán
diệt, quán đoạn, khiến cho ác ma không thể lợi dụng.
“Này
ma Ba-tuần, lúc đó ác ma bèn nghĩ: ‘Bằng việc ấy ta muốn
lợi dụng Sa-môn tinh tấn mà không được. Ta hóa hình làm
một đứa nhỏ[15] tay cầm cây gậy lớn, đứng bên đường,
đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt’.
“Này
ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô
Sở Trước Đẳng Chánh Giác sau đó đang du hành trong thôn
ấp. Khi đêm đã qua, lúc trời hừng sáng, mang y bát vào trong
thôn xóm khất thực, Tôn giả Âm đi hầu theo phía sau. Ma Ba-tuần,
lúc ấy ác ma hóa hình làm một đứa bé, tay cầm một cây
gậy lớn đứng bên đường, đánh vỡ đầu Tôn giả Âm,
khiến máu chảy ướt cả mặt. Ma Ba-tuần, Tôn giả Âm sau
khi bị vỡ đầu chảy máu, vẫn đi theo sau Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại
Như Lai, Đấng Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác như bóng không
rời hình. Này ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như
Lai, Bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác sau khi đến thôn
ấp, bằng sức mạnh cực kỳ của bản thân, Ngài xoay nhìn
theo phía hữu, như cái nhìn của một voi chúa, không sợ không
hãi, không kinh không khiếp, quán sát khắp mọi phía. Này ma
Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Bậc Vô Sở
Trước Đẳng Chánh Giác nhìn thấy Tôn giả Âm đầu bị chảy
máu ướt cả mặt, đang đi theo sau Phật như bóng không rời
hình, bèn nói rằng: ‘Ác ma thật là hung bạo này có đại
oai lực, ác ma này không biết vừa đủ’.
“Này
ma Ba-tuần, Đức Giác-lịch-câu-tuân-đại Như Lai, Đấng Vô
Sở Trước Đẳng Chánh Giác nói chưa xong thì ngay tại chỗ
đó ác ma liền bị đọa vào đại địa ngục Vô khuyết[16].
Ma Ba-tuần, đại địa ngục này có bốn tên gọi[17], một
là Vô khuyết, hai là Bách đinh, ba là Nghịch thích, bốn là
Lục cánh. Trong đại địa ngục đó có ngục tốt đi đến
chỗ ác ma ở mà nói rằng: ‘Ngươi nay nên biết, nếu đinh
hiệp với các đinh, phải biết mãn một trăm năm’.”
Ma
Ba-tuần nghe nói như vậy xong, trong lòng hết sức rúng động,
kinh sợ, khủng khiếp vô cùng, tóc lông dựng ngược, bèn
hướng đến tôn giả Đại Mục-kiền-liên mà nói bài kệ:
Địa
ngục kia thế nào,
Xưa
ác ma ở đó?
Nhiễu
hại bậc Phạm hạnh
Xúc
phạm cả Tỳ-kheo.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên đáp lại ma Ba-tuần bài kệ rằng:
Địa
ngục tên Vô khuyết,
Ác
ma từng ở trong.
Nhiễu
hại bậc Phạm hạnh,
Xúc
phạm Tỳ-kheo Tăng.
Đinh
sắt cả trăm cái,
Thảy
đều đâm ngược lên.
Địa
ngục tên Vô khuyết,
Ác
ma từng ở trong.
Nếu
như ai không biết,
Đệ
tử Phật, Tỳ-kheo,
Tất
nhiên khổ như vậy,
Mà
thọ báo nghiệp đen.
Trong
nhiều loại viên quán,
Loài
người trên đất này,
Ăn
loại lúa tự mọc,
Đời
Bắc châu, tự nhiên.[18]
Đại
Tu di triền núi
Xông
ướp bởi nhân lành.[19]
Tu
tập nơi giải thoát,
Thọ
trì tối hậu thân,
Đứng
sững trên suối lớn,
Cung
điện kiếp lâu bền.[20]
Sắc
vàng thật ái lạc,
Như
lửa rực huy hoàng[21].
Nhạc
trời trỗi các thứ;
Đến
Đế Thích thiên cung.
Kiếp
xưa với nhà cửa,
Thiện
Giác đã cúng dường[22].
Nếu
Đế Thích đi trước,
Lên
điện Tỳ-xà-diên[23],
Hân
hoan chào đón Thích,
Thiên
nữ vũ chúc mừng.
Nếu
thấy Tỳ-kheo đến[24],
Nhìn
lui, vẻ thẹn thùng.
Nếu
Tỳ-lan-diên hiện,
Luận
nghĩa cùng Sa-môn,
Ái
tận, đắc giải thoát[25];
Đại
tiên có biết chăng?
Tỳ-kheo
liền đáp lại,
Người
hỏi đúng như nghĩa.
Câu-dực,
ta biết đây,
Ái
tận, đắc giải thoát.
Nghe
lời giải đáp này,
Đế
Thích hoan hỷ lạc.
Tỳ-kheo
ban lợi ích,
Nói
năng đúng nghĩa chân.
Trên
Tỳ-xà-diên điện,
Hỡi
Đế Thích thiên vương,
Cung
điện tên gì vậy,
Mà
người nhiếp trì thành?
Thích
đáp: Đại Tiên Nhân!
Tên
Tỳ-xà-diên-đá.
Gọi
là thế giới ngàn,
Ở
trong ngàn thế giới;
Không
cung điện nào hơn
Như
Tỳ-la-diên-đá.
Thiên
vương Thiên Đế Thích,
Tự
tại mà du hành.
Ái-lạc
na-du-đá[26],
Hóa
một thành trăm hàng.
Trong
Tỳ-lan-diên điện,
Đế
Thích tự tại chơi.
Tỳ-lan-diên
đại điện,
Ngón
chân đủ lung lay[27].
Thiên
vương mắt xem thấy,
Đế
Thích tự tại chơi.
Giảng
đường Lộc tử mẫu[28],
Nền
sâu, đắp kiên cố,
Khó
động, khó lung lay,
Lay
bởi định như ý.
Kia
có đất lưu ly,
Thánh
nhân bước lên đi
Trơn
nhuần, cảm thọ lạc,
Trải
gấm êm diệu kỳ.
Ái
ngữ thường hòa hiệp,
Thiên
vương thường hân hoan.
Nhạc
trời hay khéo trỗi,
Âm
tiết họa nhịp nhàng.
Thiên
chúng đều hội tụ,
Nhưng
thuyết Tu-đà-hoàn[29].
Biết
mấy vô lượng ngàn,
Và
hằng trăm na thuật.
Đến
Tam thập tam thiên,
Bậc
Tuệ Nhãn thuyết pháp.
Nghe
Ngài thuyết pháp xong,
Hoan
hỷ và phụng hành.
Ta
cũng có pháp ấy,
Như
lời của tiên nhân;
Tức
lên cõi Đại phạm,
Hỏi
Phạm thiên sự tình.
Phạm
vẫn có thấy ấy;
Tức
thấy có từ xưa,
Ta
vĩnh tồn, thường tại,
Hằng
hữu, không biến đổi.
Đại
Phạm trả lời kia,
Đại
tiên tôi không thấy,
Tức
thấy có từ xưa,
Ta
thường hằng không đổi.
Tôi
thấy cảnh giới này,
Các
Phạm thiên quá khứ;
Ta
nay do đâu nói,
Thường
hằng không biến đổi.
Ta
thấy thế gian này,
Bậc
Chánh Giác đã dạy.
Tùy
nhân duyên sanh ra,
Luân
chuyển rồi trở lại.
Lửa
không nghĩ thế này:
“Ta
đốt kẻ ngu dại”
Lửa
đốt, ngu sờ tay,
Tất
nhiên phải bị cháy.
Cũng
vậy, ma Ba-tuần,
Đến
Như Lai pháp khuất,
Mãi
làm điều bất thiện,
Tất
thọ báo miên viễn.
Ngươi
đừng trách Phật-đà,
Chớ
hại Tỳ-kheo tịnh.
Một
Tỳ-kheo hàng ma,
Tại
Bố Lâm rừng già.
Con
quỷ sầu áo não,
Bị
Kiền-liên quở la.
Hãi
hùng mất trí tuệ,
Biến
mất bèn đi xa.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên thuyết như vậy. Ma Ba-tuần sau khi
nghe Tôn giả thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.50. Māratajjaniya-sutta. Biệt dịch No.66
và No.67.
[2]
Ngạc sơn, Bố lâm: xem cht.3, kinh 74.
[3]
No.66 cũng nói dữ kiện này. No.67 và Pāli không có.
[4]
Giác-lịch-câu-tuân-đại 覺 礫 拘 荀 大. No.66: Câu-lâu-tôn.
No.67: Câu-lâu-tần. Pāli:Kakusandha.
[5]
Ác 惡. No.66: xúc nhiễu ma. No.67: sân hận. Pāli: Dūsī.
[6]
No.66 cũng nói là muội. No.67 nói là tỷ, chị. Pāli: bhaginī.
[7]
Hắc 黑. No.67: Yểm hắc. Pāli: Kālī.
[8]
Âm 音; Pāli: Vidhura.
[9]
Tưởng 想; Pāli: Sañjīva.
[10]
Thử Hiền giả cánh phục tưởng 此 賢 者 更 復 想; Pāli:
ayaṃ samaṇo... svāyaṃ paṭisañjīvito, sa-môn này tự mình
sống lại. Ở đây, sañjīva: người còn sống; bản Hán đọc
là saññīva; người còn có tưởng.
[11]
Dĩ hắc sở phược 以 黑 所 縳. Pāli: kiṇhā bandhupādāpacca,
đen điu, nòi giống ti tiện (sinh từ bàn chân của bà con của
Phạm thiên). Trong bản Hán, bandhu, bà con, được đọc là
bandha, sự cột trói.
[12]
Cố dịch sát: học thiền, tứ, tăng tứ, sác sác tăng tứ
學 禪 伺 增 伺 數 數 增 伺. Pāli: jhāyanti, pajjhāyanti, nijjhāyanti,
apajjhāyanti (chúng nó thiền, chúng nó thiền trầm ngâm, chúng
nó thiền đắm đuối, chúng nó thiền si dại). Hán tăng tứ
thường dịch chữ abhijjhā, tham cầu (theo nghĩa, dòm ngó tài
sản người khác), được hiểu cùng gốc động từ jhāyati:
thiền hay tư duy.
[13]
Nguyên Hán: hưu hồ 鵂 狐, có lẽ chính xác là con hưu lưu
鵂 鶹, loại cú tai mèo, bắt chuột. Pāli: ulūka, con cú.
[14]
Hạc điểu 鶴 鳥, chính xác nên hiểu là con sếu; nhưng bản
Pāli: kotthu nadītīre, con giả can bên bờ sông.
[15]
Bản Pāli: nhập vào một cậu bé (aññataraṃ kumārakaṃ anvāvisitvā).
[16]
No.66: danh A-tỳ-nê-lê. Có lẽ, Vô khuyết tức Vô gián, hay
A-tỳ (Avici). Bản Pāli không nói tên địa ngục gì.
[17]
Bản Pāli chỉ có ba tên: chaphassāyataniko, địa ngục sáu xúc
xứ; saṅkusamāhato, địa ngục cọc sắt; paccattavedaniyo, địa
ngục thọ khổ các biệt.
[18]
Bốn câu trở lên nói đời sống châu Bắc Câu-lô.
[19]
Hai câu nói về trời Tứ thiên vương, ở ngay sườn núi Tu-di
(Sineru).
[20]
Nói về cõi trời Tam thập tam thiên hay Đao lợi thiên (Tavatimsa),
ở trên chóp Tu-di. Từ đây trở xuống, nói về các cõi cao
hơn.
[21]
Hán: Hoảng dục; danh từ bình thường, không chỉ trời Quang
âm ở Nhị thiền thiên.
[22]
Trong một tiền kiếp, Đế Thích cúng dường nhà cửa cho Sa-môn.
Do đó, còn có tên là Vāsava.
[23]
Tỳ-xà-diên. Pāli: Vejayanta (Chiến thắng), được gọi như
vậy vì xuất hiện khi Thiên Đế Thích chiến thắng A-tu-la
(Asura).
[24]
Tức Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Xem chú thích ngay dưới.
[25]
Thiên Đế Thích (Sakka) được Phật giảng cho về ái tận
giải thoát. Trở về cung điện, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
muốn biết Sakka có hiểu hay không, nên tìm đến điện Vejayanta.
Thiên Đế Thích từ chối trả lời. Khi Tôn giả thấy đời
sống hưởng thụ của Thiên Đế Thích cho rằng quá đáng,
nên bấm ngón chân cái, làm rung động điện Vejayanta, Thiên
Đế Thích hoảng sợ (xem M.37).
[26]
Na-du-đá, Pāli: nahuta hay nayuta, đơn vị đo đường dài. Nhưng
trong đây không rõ ý gì.
[27]
Xem chú thích 25 trên.
[28]
Phật nói về ái tận giải thoát cho Đế Thích tại giảng
đường Lộc tử mẫu.
[29]
Đế Thích được coi như đắc Tu-đà-hoàn, sau khi nghe Phật
nói kinh Sakkapañhā (Pāli: D.21,Hán
No.1914).