130.
KINH GIÁO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc[2].
Bấy
giờ, Tôn giả Đàm-di[3], vị tôn trưởng địa phương[4] làm
chủ Phật-đồ[5], được mọi người tôn sùng, tánh tình
hung bạo, nóng nảy, rất cộc cằn thô lỗ, hay mắng nhiếc
các vị Tỳ-kheo. Vì vậy, các vị Tỳ-kheo địa phương[6]
đều bỏ đi, không muốn sống ở đó. Các Ưu-bà-tắc địa
phương thấy các vị Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không
muốn ở đó, liền nghĩ rằng: “Các vị Tỳ-kheo địa phương
này vì sao lại bỏ đi, không muốn sống ở đây?” Rồi các
vị Ưu-bà-tắc địa phương nghe được rằng: “Tôn giả
Đàm-di, vị tôn trưởng địa phương, làm chủ Phật-đồ,
được mọi người tôn sùng, tánh tình hung bạo, nóng nảy,
rất cộc cằn thô lỗ, hay mắng nhiếc các Tỳ-kheo. Vì vậy
các Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn sống ở
đó.”
Các
vị Ưu-bà-tắc nghe việc ấy rồi, liền cùng nhau kéo đến
Tôn giả Đàm-di, xua đuổi ông ra khỏi các chùa địa phương[7].
Bấy giờ Tôn giả Đàm-di bị các vị Ưu-bà-tắc địa phương
xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương, liền vấn y, mang
bát du hành đến nước Xá-vệ, dần dà đến vườn Cấp cô
độc, rừng Thắng, nước Xá-vệ. Rồi Tôn giả Đàm-di đi
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Ngài, ngồi sang một
bên mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều
gì xấu xa, chẳng nói việc chi, không xúc phạm đến ai, nhưng
các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các chùa
địa phương.”
Khi
đó, Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Thôi
đủ rồi, này Đàm-di, cần chi phải nói việc đó.”
Tôn
giả Đàm-di chắp tay hướng Phật, bạch lại một lần nữa
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều
gì xấu xa, chẳng nói việc chi, không xúc phạm đến ai, nhưng
các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các tinh
xá địa phương.”
Đức
Thế Tôn cũng lần thứ hai bảo rằng:
“Đàm-di,
thuở xưa, ở châu Diêm-phù này có các thương nhâân đi thuyền
ra biển, mang theo con ó tìm bờ. Bọn người ấy ra biển chưa
bao xa, họ thả con ó tìm bờ. Nếu con ó tìm bờ đến được
bờ của biển cả, nó sẽ vĩnh viễn không trở lại thuyền.
Nếu con ó tìm bờ không đến được bờø của biển cả,
nó sẽ trở lại thuyền. Ngươi cũng vậy, này Đàm-di, bởi
vì ngươi bị các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi
các chùa địa phương nên ngươi mới trở về chỗ Ta. Thôi,
đủ rồi Đàm-di, còn cần gì phải nói điều đó nữa.”
Tôn
giả Đàm-di bạch lại lần thứ ba:
“Bạch
Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều
gì xấu xa, chẳng nói việc chi, không xúc phạm đến ai, nhưng
các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các tinh
xá địa phương.”
Đức
Thế Tôn cũng lại lần thứ ba bảo rằng:
“Đàm-di,
ngươi trụ trong Sa-môn pháp mà vị các Ưu-bà-tắc địa phương
xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương sao?”
Lúc
đó Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp
tay hướng Phật, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào gọi là Sa-môn trụ trong pháp Sa-môn?”
Đức
Thế Tôn dạy:
“Này
Đàm-di, thuở xưa, khi con người sống đến tám vạn tuổi.
Đàm-di, khi con người sống đến tám vạn tuổi, châu Diêm-phù
này cực kỳ giàu sang hạnh phúc, dân cư đông đúc, thôn ấp
gần nhau bằng khoảng một con gà bay.
“Khi
con người sống đến tám vạn tuổi, con gái đến năm trăm
tuổi mới lấy chồng. Đàm-di, khi con người sống đến tám
vạn tuổi, chỉ có các bệnh như vầy: đại tiện, tiểu tiện,
lòng dục, ăn uống và già.
“Đàm-di,
khi con người sống đến tám vạn tuổi, có một vị vua tên
là Cao-la-bà[8], thông minh trí tuệ, làm Chuyển luân vương,
có bốn loại binh chủng chỉnh trị thiên hạ; là Pháp vương
hành theo chánh pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu là bánh
xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, tướng
quân báu; đó là bảy báu. Có đủ một ngàn người con, tướng
mạo đoan chánh, dũng mãnh vô úy, có thể khuất phục mọi
kẻ địch. Vua ấy thống lãnh tất cả cõi đất đai cho đến
biển cả, không cai trị bằng dao gậy mà chỉ bằng chánh
pháp trị hóa, khiến được an ổn.
“Đàm-di,
vua Cao-la-bà có một gốc cây tên là Thiện trụ ni-câu-loại
thọ[9] vương[10]. Đàm-di, Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương
có năm cành. Cành thứ nhất dành cho vua và hoàng hậu ăn.
Cành thứ nhì dành cho thái tử và các quan ăn. Cành thứ ba
dành cho nhân dân trong nước ăn. Cành thứ tư dành cho Sa-môn,
Phạm chí ăn. Cành thứ năm dành cho cầm thú ăn. Đàm-di, quả
của cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương lớn bằng cái
hủ hai thăng, mùi vị như mật nguyên chất. Đàm-di, quả Thiện
trụ ni-câu-loại thọ vương không ai canh giữ mà cũng chẳng
ai trộm cắp. Về sau có một người đói khát gầy còm, nhan
sắc tiều tụy, muốn được ăn quả, nó đến cây Thiện
trụ ni-câu-loại thọ vương ăn quả rồi bẻ gãy cành cây
hái quả đem về. Trên cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương
có một vị trời nương ở đó. Ông ấy nghĩ rằng: ‘Lạ
thay, người ở châu Diêm-phù vô ân, không biết báo đáp.
Vì sao? Vì nó ăn quả nơi cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ
vương rồi bẻ gãy cành cây, hái quả đem về. Mong cho cây
Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, không sanh
quả nữa!’ Tức thì cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương
không có quả, cũng không sanh quả.
“Rồi
lại có một người đói khát, gầy còm, nhan sắc tiều tụy,
muốn được ăn quả, đi đến cây Thiện trụ ni-câu-loại
thọ vương không có quả, cũng không sanh quả, tức thì đến
vua Cao-la-bà tâu rằng: ‘Tâu Thiên vương, nên biết, cây Thiện
trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, cũng không sanh
quả nữa’.
“Vua
Cao-la-bà nghe xong, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co
duỗi cánh tay biến khỏi Câu-lâu-sấu, đến cõi Tam thập
tam thiên, đứng trước Thiên Đế Thích[11] mà tâu rằng: ‘Tâu
Câu-dực[12] nên biết, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương
không có quả, cũng không sanh quả nữa. Khi đó, Thiên Đế
Thích và vua Cao-la-bà trong khoảnh khắc như người lực sĩ
co duỗi cánh tay biến khỏi cõi Tam thập tam thiên, đến nước
Câu-lâu-sấu, cách cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương
đứng lại. Thiên Đế Thích thực hiện Như ý túc như vậy[13],
bằng Như ý túc như kỳ tượng, hóa làm nước lớn, gió bão
và mưa to. Do nước lớn, gió bão và mưa to, cây Thiện trụ
ni-câu-loại thọ vương bị tróc gốc ngã đổ.
“Lúc
đó có vị trời sống trên cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ
vương nhận thấy như vậy mới buồn khổ, sầu thương, khóc
lóc chảy nước mắt, đứng trước mặt Thiên Đế Thích,
Thiên Đế Thích hỏi, ‘Thiên, vì lẽ gì mà ông buồn khổ,
sầu thương, khóc lóc rơi lệ, đứng trước mặt ta?’ Vị
trời kia thưa rằng: ‘Tâu Câu-dực, nên biết, nước lớn,
gió bão, mưa to, cây Thiện trụ ni câu loại thọ vương bị
tróc gốc ngã đổ’. Khi ấy, Thiên Đế Thích bảo Thọ thiên
kia rằng: ‘Thiên, ông là Thọ thiên, trụ Thọ thiên pháp[14]
mà để nước lớn, gió mạnh, mưa to làm cây Thiện trụ ni-câu-loại
thọ vương bị tróc gốc ngã đổ sao?’ Thọ thiên thưa rằng:
‘Tâu Câu-dực, thế nào gọi là Thọ thiên trụ Thọ thiên
pháp?’ Thiên Đế Thích bảo, ‘Thiên, giả sử có người
muốn được rễ cây, cứ lấy rễ cây đi; muốn được cành
cây, nhánh cây, lá cây, hoa quả, cứ đem đi, Thọ thiên không
nên giận dữ, không nên ghen ghét, tâm không nên thù hận,
Thọ thiên vẫn an trụ trên thọ thiên với ý niệm buông xả.
Như vậy gọi là Thọ thiên trụ Thọ thiên pháp’. Vị trời
kia lại tâu rằng: ‘Tâu Câu-dực, tôi là Thọ thiên mà không
trụ Thọ thiên pháp. Từ nay về sau tôi sẽ trụ Thọ thiên
pháp. Ước mong cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương trở
lại như cũ’. Rồi thì Thiên Đế Thích thực hiện Như ý
túc như vậy. Thực hiện Như ý túc như vậy xong, lại hóa
làm nước lớn, gió bão, mưa to. Hóa làm nước lớn, gió bão,
mưa to xong, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương liền trở
lại như cũ.
“Này
Đàm-di, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo bị người mắng nhiếc,
không mắng nhiếc lại; bị người sân giận không sân giận
lại; bị người quấy phá, không quấy phá lại; bị đánh
đập không đánh đập lại. Này Đàm-di, như vậy gọi là
Sa-môn trụ Sa-môn pháp.”
Lúc
đó, Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngồi, trịch vai áo đang
mặc, chắp tay hướng Phật khóc lóc rơi lệ, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con không phải là Sa-môn trụ Sa-môn pháp. Từ nay
về sau con sẽ là Sa-môn trụ Sa-môn pháp.”
Đức
Thế Tôn dạy:
“Xưa
có một Đại sư tên là Thiện Nhãn[15], được các ngoại
đạo tiên nhân tôn làm tôn sư, lìa bỏ ái dục, được như
ý túc. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư có vô lượng trăm ngàn
đệ tử. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư nói Phạm thế pháp[16]
cho các đệ tử nghe. Đàm-di, khi Thiện Nhãn đại sư nói Phạm
thế pháp cho các đệ tử, trong các đệ tử có người không
phụng hành trọn vẹn, thì người ấy sau khi mạng chung, hoặc
sanh lên cõi trời Tứ thiên vương, hoặc sanh cõi trời Tam
thập tam thiên, hoặc sanh cõi trời Diệm-ma, hoặc sanh cõi
trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh cõi trời Hóa lạc, hoặc sanh
cõi trời Tha hóa lạc. Đàm-di, khi Thiện Nhãn đại sư nói
Phạm thế pháp cho đệ tử nghe, trong các đệ tử có người
phụng hành trọn vẹn, người ấy tu bốn phạm thất[17], lìa
bỏ dục. Khi mạng chung rồi được sanh lên cõi trời Phạm
thiên. Đàm-di, khi ấy Thiện Nhãn đại sư nghĩ rằng: ‘Đời
sau ta không nên cùng các đệ tử đồng sanh đến một chỗ.
Bây giờ ta hãy tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng
từ, mạng chung sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng dục. Đàm-di,
sau đó Thiện Nhãn đại sư liền tu tăng thượng từ. Sau khi
tu tăng thượng từ, mạng chung được sanh vào cõi trời Hoảng
dục. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư và các đệ tử học đạo
không luống công, được quả báo lớn. Cũng như Thiện Nhãn
đại sư, có các Đại sư Mâu-lê-phá-quần-na, A-la-na-giá Bà-la-môn,
Cù-đà-lê-xá-đa, Hại-đề-bà-la Ma-nạp, Thù-đề-ma-lệ Kiều-đệ-bà-la
và Thất-đa Phú-lâu-hề-đa[18].
“Đàm-di,
Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa cũng có vô lượng trăm ngàn
đệ tử. Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa nói Phạm
thế pháp cho các đệ tử. Trong số các đệ tử có người
không phụng hành trọn vẹn pháp đã dạy, người ấy sau khi
thân hoại mạng chung, hoặc sanh lên cõi trời Tứ thiên vương,
hoặc sanh cõi trời Tam thập tam thiên, hoặc sanh cõi trời
Diệm-ma, hoặc sanh cõi trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh cõi
trời Hóa lạc, hoặc sanh cõi trời Tha hóa. Đại sư Thất-đa
Phú-lâu-hề-đa khi nói Phạm thế pháp, trong số các đệ tử
có người phụng hành trọn vẹn pháp ấy, tu bốn phạm thất,
lìa bỏ dục ái. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung được
sanh vào cõi trời Phạm Thiên. Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa
nghĩ rằng: ‘Đời sau ta không nên cùng các đệ tử sanh cùng
một chỗ. Bây giờ ta nên tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng
thượng từ, mạng chung sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng
dục’. Đàm-di, sau đó vị Đại sư thứ bảy Thất-đa Phú-lâu-hề-đa
tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ rồi, mạng
chung được sanh lên cõi trời Hoảng dục. Đàm-di, Đại sư
Thất-đa Phú-lâu-hề-đa và các đệ tử học đạo không hư
dối, được quả báo lớn.
“Đàm-di,
nếu có người nào mắng nhiếc bảy vị Đại sư và vô lượng
trăm ngàn đệ tử kia, cùng đánh phá, sân nhuế, trách móc
họ, chắc chắn chịu vô lượng tội. Nhưng đối với một
Tỳ-kheo đã thành tựu chánh niệm, một đệ tử Phật chứng
đắc tiểu quả, mà có ai mắng nhiếc, đả phá sân nhuế,
trách móc vị ấy thì tội nhiều hơn thế nữa.
“Thế
cho nên, này Đàm-di, các ngươi hãy luôn luôn nhắc nhở, thủ
hộ lẫn nhau. Vì sao như vậy? Vì ngoài sự quá thất này,
không còn sự quá thất nào hơn nữa[19].”
Khi
ấy, Đức Thế Tôn nói kệ:
Tu-niết[20],
Mâu-lê-phá-quần-na,
A-la-na-giá
Bà-la-môn,
Cù-đà-lê-xá-đa,
Hại-đề-bà-la
Ma-nạp,
Thù-đề-ma-lệ
Kiều-đệ-bà-la và
Thất-đa
Phú-lâu-hề-đa,
Trong
đời quá khứ ấy
Danh
đức bảy tông sư,
Bi
tâm, không nhiễm ái,
Dục
kết đã dứt trừ.
Trăm
ngàn số đệ tử,
Vô
lượng đếm sao vừa,
Cũng
đều ly dục kiết,
Dù
cứu cánh còn chưa.
Với
các tiên nhân ấy,
Thủ
trì khổ hạnh này,
Ai
ôm lòng oán hận,
Tội
mắng nhiếc nhiều thay.
Huống
chi với Phật tử,
Quả
thấy tri kiến ngay;
Ai
chửi mắng, đập phá,
Tội
nghiệp lại tràn đầy.
Này
Đàm-di, do đó,
Hãy
biết thủ hộ nhau;
Sở
dĩ hộ trì nhau,
Tội
nặng nào hơn đâu.
Như
thế thật quá khổ;
Bậc
Thánh cũng ghét bỏ,
Màu
da lại dữ dằn[21];
Chớ
thủ tà kiến xứ.
Đó
là hạng thấp hèn,
Thánh
pháp gọi như thế[22].
Dù
chưa lìa dâm dục,
Có
diệu ngũ căn này:
Tín,
tinh tấn, niệm xứ,
Chánh
định, chánh quán đây.
Khổ
kia mình chịu vậy,
Trước
phải thọ họa tai[23].
Họa
tai đã tự thọ,
Sau
nữa gây hại người.
Ai
hay tự thủ hộ,
Tất
thủ hộ bên ngoài.
Cho
nên hãy tự hộ,
Kẻ
trí hoan lạc thay!
Phật
thuyết như vậy, Tôn giả và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành
Chú thích
Tương
đương Pāli A.6.54 Dhammika-sutta.
Bản
Pāli: Phật tại Rājagaha, núi Gijjhakūṭa.
Đàm-di 曇彌.
Pāli: Dhammika thera, nguyên là một Bà-la-môn ở Kosala, quy Phật
vào lúc rừng Jetavana được cúng.
Sanh
địa tôn trưởng 生地尊長.
Pāli: Jātibhūmiyaṃ āvasiko.
Phật-đồ
chủ 佛圖主,
có lẽ muốn nói Phật tháp. Bản Pāli: sattasu āvāsesu, trong
bảy trú xứ (ở địa phương). Hình như tất cả đều do
Dhammika làm chủ.
Bản
Hán: sanh địa chư Tỳ-kheo 生地諸比丘.
Bản Pāli: āgantukā bhikkhū, các Tỳ-kheo khách.
Bản
Pāli nói: Bị xua đuổi, Tôn giả đến một tinh xá khác cũng
trong địa phương. Nhưng vừa
đđến
Tôn giả lại mắng nhiếc các Tỳ-kheo ở đó, họ lại bỏ
đi và Tôn giả lại bị các Cư sĩ kéo đến xua đuổi. Cứ
như vậy, Tôn giả sống bảy nơi tất cả tại địa phương
(sabbaso jātibhūmiyam sattasu āvāsesu). Cuối cùng, Tôn giả phải
tìm đến Đức Phật tại Rājagaha, núi Gijjhakūta.
Cao-la-bà 高羅婆.
Pāli: Koravya, trong các truyện bản sanh thường được nói
là vua của bộ tộc Kuru.
Bản
Cao-li không có chữ thọ. Ba bản Tống-Nguyên-Minh đều
có.
Thiện
trụ ni-câu-loại thọ vương 善住尼拘類夀王.
Pāli: Suppatiṭṭha- nigrodha-rājā.
Thiên
Đế Thích. Pāli: Sakka devānam Inda.
Câu-dực 拘翼.
Pāli: Kosika, biệt danh Thiên Đế Thích.
Tác
như kỳ tượng như ý túc. Pāli: tathārūpaṃ iddhābhisaṃkhāraṃ
abhisaṃkhāsi, thực hiện một loại thần thông như thế.
Thọ
thiên pháp 樹天法.
Pāli: rukkhadhamma, đây hiểu là đạo lý tự nhiên của cây.
Đại
sư Thiện Nhãn 大師善眼.
Pāli: Sunetto nāma satthā, một trong sáu vị tôn sư cổ đại,
thường được kể trong các mẫu truyện cổ Phật giáo.
Phạm
thế pháp 梵世法,
pháp dẫn đến đời sống trên Phạm thiên. Pāli: Brahama-lokasahavyatāya
dhamma.
Phạm
thất hay phạm trụ.
Danh
sách sáu Đại sư thời cổ: Mâu-lê-phá-quần-na, Pāli: Mūgapakkha;
A-la-na-giá Bà-la-môn, Pāli: Aranemi Brāhmṇa; Cù-đà-lê-xá-đa,
Pāli: Kuddālakasattā; Hại-đề-bà-la Ma-nạp, Pāli: Hatthipāla
mānava; Thù-đề-ma-lệ Kiều-đệ-bà-la, Pāli: Jotipāla govinda;
Thất-đa Phú-lâu-hề-đa, Pāli: Satta purohita.
Pāli:
Nāham (....) ito bahiddā evarūpam khantim vādāmi. Ngoài sự nhẫn
nại này, ta nói không còn sự nhẫn nại nào như vậy nữa.
Sunetta,
xem chú thích trên.
Hán:
tất đắc thọ ác sắc 必得受惡色.
Pāli: nā sādhurūpaṃ āsīde, dùng công kích người (có sắc
diện) đoan chánh. Có lẽ Hán hiểu āsīde là “hãy ngồi gần”
do gốc động từ sīdati, ngồi.
Bản
Pāli: sattamo puggalo eso, ariyasaṅghassa vuccati, người ấy (xả
bỏ tà kiến) được nói là cao cả trong hàng Thánh chúng.
Hình như bản Hán hiểu ngược lại?
Dịch
sát như vậy, nhưng không rõ nghĩa. Pāli nói: tādisam bhikkhum
āsajja, pubbeva upahaññati, ai công kích Tỳ-kheo (dù chưa ly dục
nhưng đã có ngũ diệu căn: tín, tấn v.v...) như vậy, nó bị
tai họa trước.