127.
KINH PHƯỚC ĐIỀN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ sát chân Phật rồi ngồi xuống một bên, thưa rằng:
“Bạch
Thế Tôn, ở đời có bao nhiêu hạng người phước điền[2]?”
Đức
Thế Tôn dạy:
“Này
Cư sĩ, ở đời có hai hạng người phước điền. Những hạng
người nào là hai? Một là hạng học nhân[3], hai là hạng
vô học nhân[4].
“Hạng
hữu học có mười tám, hạng vô học có chín.
“Này
Cư sĩ, mười tám hạng người hữu học là những ai? Là tín
hành, pháp hành, tín giải thoát, kiến đảo, thân chứng[5],
gia gia[6], nhất chủng, hướng Tu-đà-hoàn, đắc Tu-đà-hoàn;
hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm; hướng A-na-hàm, đắc
A-na-hàm, trung Bát-niết-bàn, sanh Bát-niết-bàn, hành Bát-niết-bàn,
vô hành Bát-niết-bàn, thượng lưu sắc cứu cánh[7]. Đó là
mười tám hạng hữu học.
“Này
Cư sĩ, chín hạng người vô học là những ai? Tư pháp, thăng
tấn pháp, bất động pháp, thối pháp, bất thối pháp, hộ
pháp, hộ tắc bất thối bất hộ tắc thối[8], thật trụ
pháp, tuệ giải thoát, câu giải thoát. Đó là chín hạng vô
học[9].”
Khi
ấy Đức Thế Tôn nói tụng:
Học,
vô học trong đời,
Đáng
tôn, đáng phụng kính;
Các
ngài tu chánh thân,
Miệng,
ý cũng chánh hạnh.
Ruộng
tốt cho tại gia,
Cúng
dường được phước lớn.
Phật
thuyết như vậy. Cư sĩ Cấp Cô Độc và các Tỳ-kheo, sau khi
nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
Tương
đương Pāli A.2.4.4 Dakkhiṇeyya (Samacittavaggo). Hán, biệt dịch,
No.99 (992).
Phước
điền nhân 福田人.
Pāli: dakkhiṇeyya,
người xứng đáng được cúng dường.
Học
nhân 學人,
chỉ các bậc Thánh dưới A-la-hán quả, vì còn phải học.
Pāli: sekha.
Vô
học nhân 無學人,
chỉ vị đắc quả A-la-hán, không cần phải học nữa. Pāli:
asekha.
Tín
hành, hay Tùy tín hành; Pháp hành hay Tùy pháp hành; Tín giải
thoát hay Tín thắng giải; Kiến đáo hay Kiến chí và Thân
chứng. Xem kinh số 195.
Gia
gia 家家
(Pāli: Kolaṅkola), những vị chứng quả Dự lưu (Sotāpanna)
phải thọ sanh từ nhân gian lên thiên thượng hay từ thiên
thượng xuống nhân gian, trước khi chứng đắc Niết-bàn.
Nhất chủng 一種
(Pāli: Ekabīja), những vị chứng quả Dự lưu chỉ tái sanh
một lần trước khi đắc Niết-bàn. Cả hai hạng này thuộc
Nhất lai hướng hay Tư đà hàm hướng (Sakadāgāmimagga), tức
từ Dự lưu quả hướng đến Nhất lai quả.
Năm
hạng A-na-hàm (Ngũ bất hoàn 五不還)
xem Tập Dị 14 (Đại 26, trang 425 c-26 c): 1. Trung Bát-niết-bàn
(Pāli: antaraparinibbāyi), nhập Niết-bàn ngay sau khi
vừa thác sanh lên Tịnh cư thiên (Niết-bàn với thân trung
hữu, theo Hữu bộ); 2. Sanh bát Niết-bàn
(Pāli: upahacca-parinibhāyi): thác sanh Tịnh cư thiên một thời
gian mới nhập Niết-bàn; 3. Hữu hành Bát-niết-bàn (Pāli:
sasaṅkhāra-parinibbāyī):
thác sanh thượng giới, tinh tấn tu tập mới nhập Niết-bàn;
4. Vô hành Bát-niết-bàn
(Pāli: asaṅkhāra-parinibhāyī): không cần tinh tấn tu tập nữa;
5. Thượng lưu sắc cứu caùnh (Pāli: uddhaṃsota-akanittha-gāmī),
lần lượt tái sinh qua các cõi từ sơ thiền, cho đến tầng
cao nhất của Sắc
giới, nhập Niết-bàn tại đó.
Đối
chiếu với sáu hạng A-la-hán trong luận Câu-xá 25 (No.1558,
Đại 26, trang 129a, tt.): 1. Thối pháp (thối bất thối),
gặp nghịch duyên bị sụt xuống các bậc Thánh thấp hơn;
2. Tư pháp, mong cầu Vô dư Niết-bàn cấp thời vì sợ
thối thất; 3. Hộ pháp (hộ tắc bất thối, bất hộ
tắc thối), do thủ hộ mà không bị thối thất; 4. An trụ
pháp (thật trụ), không bị chi phối nghịch duyêân để
thối thất, nhưng không tiến tới; 5. Kham đạt pháp
(thăng tiến), có khả năng tiến tới bất động tánh. 6. Bất
động tánh căn cơ mãnh lợi, không bị chi phối bởi bất
cứ duyên gì.
Bản
Pāli và No.99 (992) không đề cập đến các chi tiết, chỉ
nói đại cương hai hạng phước điền và bài tụng.