125.
KINH BẦN CÙNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
đời, người có tham dục mà lại bần cùng, phải chăng là
sự bất hạnh lớn?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
một người có tham dục, lại bần cùng, lại mang nợ tài
vật của người khác. Ở đời, người mang nợ tài vật của
người khác, phải chăng là đại bất hạnh?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn lại bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Nếu
một người có tham dục, mang nợ tài vật của người khác
mà không trả đúng hạn được, cứ hẹn rày, hẹn mai; ở
đời cứ khất nợ mãi, phải chăng là đại bất hạnh?”
Các
thầy Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
một người có tham dục, cứ khất nợ mãi không trả được,
chủ nợ đến đòi; ở đời bị chủ nợ đòi, phải chăng
là đại bất hạnh?”
Các
thầy Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn lại bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Nếu
chủ nợ đến đòi, mà người có tham dục kia không thể trả
được, chủ nợ cứ đến đòi mãi; ở đời bị chủ nợ
đòi mãi, phải chăng là đại bất hạnh?”
Các
thầy Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức
Thế Tôn lại bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Nếu
chủ nợ cứ đòi mãi, nhưng kẻ tham dục kia vẫn không thể
trả được, liền bị chủ nợ bắt trói lại; ở đời bị
chủ nợ bắt trói lại, phải chăng là đại bất hạnh?”
Các
thầy Tỳ-kheo đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
“Đó
là, ở đời, người có tham dục lại bần cùng là đại bất
hạnh. Ở đời, người có tham dục vay nợ tài vật của người
khác là đại bất hạnh. Ở đời, người có tham dục vay
nợ tài vật của người khác mà khất mãi là đại bất hạnh.
Ở đời, người có tham dục bị chủ nợ đòi nợ là đại
bất hạnh. Ở đời, người có tham dục bị chủ nợ đòi
mãi là đại bất hạnh. Ở đời, người có tham dục bị
chủ nợ bắt trói là đại bất hạnh. Cũng vậy, nếu ai đối
với Thánh pháp mà không tin ở thiện pháp, không giữ cấm
giới, không nghe nhiều, không bố thí, không trí tuệ; đối
với thiện pháp, dù có nhiều kim ngân, lưu ly, thủy tinh, ma
ni, bạch kha, loa bích, san hô, hổ phách, mã não, đại môi
xa cừ, bích ngọc, xích thạch, tuyền châu, nhưng người ấy
vẫn là kẻ nghèo nàn cô thế. Như vậy, trong Thánh pháp của
Ta, gọi là sự bần cùng, bất thiện.
“Kẻ
ấy thân làm việc ác, miệng nói ác và ý nghĩ ác, như thế
trong Thánh pháp của Ta gọi là sự vay nợ bất thiện.
“Kẻ
ấy muốn che giấu việc làm ác của thân, không tự tỏ bày,
không muốn nói ra, không thích bị quở trách, không ưa theo
điều phải. Muốn che giấu lời nói ác, ý nghĩ ác, không
tự tỏ bày, không muốn nói ra, không thích bị khiển trách,
không ưa theo điều phải, như thế trong Thánh pháp của Ta
gọi là sự khất nợ bất thiện.
“Kẻ
ấy hoặc sống trong thôn ấp hay ở ngoài thôn ấp, các người
phạm hạnh thấy được bèn nói như thế này: ‘Này chư Hiền,
người này làm như thế, hành vi như thế, ác như thế, bất
tịnh như thế. Đó là cái gai của thôn ấp’. Kẻ ấy liền
bào chữa, ‘Này chư Hiền, tôi không làm như vậy, không có
hành vi như vậy, không ác như vậy, không bất tịnh như vậy,
cũng không phải là cái gai của thôn ấp’. Như thế, trong
Thánh pháp của Ta gọi là sự đòi nợ bất thiện.
“Kẻ
ấy hoặc ở rừng vắng, hoặc ở núi non, dưới gốc cây,
hoặc ở chỗ vắng vẻ, nhưng vẫn niệm tưởng ba việc bất
thiện: dục, nhuế, hại. Như thế trong Thánh pháp của Ta gọi
là sự không ngớt đòi nợ bất thiện.
“Kẻ
ấy thân đã làm việc ác, miệng đã nói lời ác và ý đã
nghĩ điều ác. Do đó, kẻ ấy khi thân hoại mạng chung nhất
định sanh vào chỗ ác, sanh trong địa ngục. Như thế, trong
Thánh pháp của Ta gọi là sự trói buộc của bất thiện.
“Ta
không thấy có sự trói buộc nào đau khổ bằng, nặng nề
bằng, tàn khốc bằng, khó yêu nổi bằng sự trói buộc trong
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ba sự trói buộc đau khổ
này chỉ có bậc Tỳ-kheo A-la-hán lậu tận mới biến tri và
diệt tận, nhổ phăng cội rễ, vĩnh viễn không còn tái sanh.”
Rồi
Đức Thế Tôn nói tụng rằng:
Kẻ
nghèo khổ ở đời
Vay
nợ của người khác;
Đã
vay tiền của rồi,
Mắc
nợ người là khổ.
Chủ
nợ đến đòi nợ,
Nhân
đấy bắt trói lại;
Bị
trói thật khổ thay,
Thế
gian vẫn lạc dục.
Trong
Thánh pháp cũng vậy;
Nếu
không có chánh tín,
Không
tàm và không quý,
Thân
làm điều bất thiện,
Miệng
ý chẳng kém gì,
Che
giấu không nói ra,
Không
ưa lời dạy phải,
Giả
sử có tu hành,
Tâm
niệm cho là khổ,
Hoặc
thôn hay chỗ vắng,
Nhân
đó sanh hối hận.
Các
việc thân, miệng gây,
Và
những điều ý nghĩ,
Ác
nghiệp cứ tăng dần,
Quen
làm lại làm nữa,
Tạo
ác mãi không thôi.
Làm
nhiều bất thiện rồi,
Thọ
sanh đã đến lúc,
Tất
bị trói địa ngục.
Buộc
ràng quá khổ này,
Bậc
Đại Hùng đã thoát.
Đúng
pháp thu tiền tài,
Không
nợ nần, an ổn.
Bố
thí được hoan hỷ
Cả
hai[2] đều có lợi;
Các
Cư sĩ theo đây,
Do
trí, phước tăng mãi.
Trong
Thánh pháp cũng vậy,
Nếu
có thành tín vững,
Đầy
đủ đức tàm quý,
Rộng
rãi không keo kiệt,
Dứt
lìa năm triền cái,
Thường
ưa hành tinh tấn,
Thành
tựu các thiền định,
Chuyên
nhất, tâm tĩnh lạc[3].
Niềm
vui không tài sản[4],
Cũng
như nước tắm trong;
Bất
động tâm giải thoát[5],
Trừ
sạch các hữu kết.
Không
bệnh là Niết-bàn;
Đó
là đèn vô thượng,
Vô
ưu, vô nhiễm lạc[6],
Gọi
là không di động.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú thích
[1]
Tương đương
Pāli, A. 6. 45. Dāliddiya (iṇasutta).
[2]
Hạnh phúc trong đờinày
(diṭṭhadhamomahitatthāya) và an lạc trong đời sau (samparāyasukhāya).
[3]
Mãn cụ thường khí
lạc 滿 具 常 棄 樂. Pāli: ekodi nipako sato, chuyên nhất, cẩn
thận, có chánh niệm.
[4]
Vô thực lạc 無 食 樂. Pāli: nirāmisam sukham, sự an lạc không do
vật chất.
[5]
Bất động tâmgiải
thoát 不 動 心 解 脫. Pāli: akuppā me vimuttī.
[6]
Vô trần an 無 塵 安. Pāli: virajam khema, sự an ổn
không dính bụi.