124.
KINH BÁT NẠN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Người
tu phạm hạnh có tám nạn[2], tám phi thời[3]. Những gì là
tám?
“Vào
lúc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành
Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp
Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu, xuất hiện ở thế
gian, thuyết pháp đưa đến tịch tịnh, đưa đến tịch diệt,
đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ dạy, thì người
ấy lúc bấy giờ đang sanh vào chốn địa ngục. Đó là nạn
thứ nhất đối với người tu phạm hạnh.
“Lại
nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu, xuất hiện
ở thế gian, thuyết pháp đưa đến tịch tịnh, đưa đến
tịch diệt, đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ
dạy, thì người ấy lúc bấy giờ đang sanh vào loài súc sanh,
vào loài ngạ quỷ, sanh vào cõi trời Trường thọ[4], sanh
ở xứ biên địa mọi rợ, không tín, vô ân, không biết báo
đáp, không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Đó
là nạn thứ năm[5] đối với người tu phạm hạnh.
“Lại
nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu xuất hiện
ở thế gian, thuyết pháp đưa đến tịch tịnh, đưa đến
tịch diệt, đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ
dạy, thì bấy giờ người ấy tuy sanh nhằm chốn văn minh[6]
nhưng lại điếc, câm, ú ớ như dê kêu[7], dùng tay thay lời,
không thể nói nghĩa thiện ác. Đó là nạn thứ sáu, việc
phi thời thứ sáu đối với người tu phạm hạnh.
“Lại
nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu xuất hiện
ở thế gian, thuyết pháp đưa đến tịch tịnh, đưa đến
tịch diệt, đưa đến giác đạo, những điều Thiện Thệ
dạy thì bấy giờ người ấy tuy sanh nhằm chốn văn minh,
không điếc, không câm, không ú ớ như dê kêu, không dùng
tay thay lời, có thể nói nghĩa thiện ác, nhưng lại có tà
kiến và điên đảo kiến. Người ấy thấy như vầy và nói
như vầy, ‘Không bố thí, không trai tự, không chú thuyết,
không có nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo của thiện
ác, không có đời này đời khác, không cha không mẹ, ở đời
không có bậc chân nhân[8] đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo
hướng[9], tự tri, tự giác, tự tác chứng thế giới này
và thế giới khác[10], thành tựu an trụ’. Đó là nạn thứ
bảy đối với người tu phạm hạnh.
“Lại
nữa, vào lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh
Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu không xuất
hiện ở thế gian, cũng không thuyết pháp đưa đến tịch
tịnh, đưa đến tịch diệt, đưa đến giác đạo, những
điều Thiện Thệ dạy thì bấy giờ người ấy lại sanh nhằm
chốn văn minh, không điếc, không câm, không ú ớ như dê kêu,
không dùng tay thay lời, lại có thể nói nghĩa thiện ác và
có chánh kiến, không có điên đảo kiến. Người ấy thấy
như vầy và nói như vầy, ‘Có bố thí, có trai tự, cũng
có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo của thiện
ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, ở đời có
bậc chân nhân, đi đến thiện xứ, khéo đi, khéo hướng,
tự tri, tự giác, tự tác chứng thế giới này và thế giới
khác, thành tựu an trụ’. Đó là nạn thứ tám, việc phi
thời thứ tám đối với người tu phạm hạnh.
“Người
tu phạm hạnh có một điều không nạn, một việc đúng thời.
Thế nào là một điều không nạn, một việc đúng thời đối
với người tu phạm hạnh? Lúc Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng
Hựu không xuất hiện ở thế gian, cũng không thuyết pháp
đưa đến tịch tịnh, đưa đến tịch diệt, đưa đến giác
đạo, những điều Thiện Thệ dạy, thì bấy giờ người
ấy sanh nhằm chốn văn minh, không điếc, không câm, không
ú ớ như dê kêu, không dùng tay thay lời, lại có thể nói
nghĩa thiện ác, có chánh kiến, không có điên đảo kiến.
Người ấy thấy như vầy và nói như vầy, ‘Có bố thí,
có trai tự, cũng có chú thuyết, có nghiệp thiện ác, có nghiệp
báo của thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có
mẹ, ở đời có bậc chân nhân, đi đến thiện xứ, khéo
đi, khéo hướng, tự tri, tự giác, tự tác chứng thế giới
này và thế giới khác, thành tựu an trụ’. Đó là điều
không tai nạn, việc đúng thời đối với người tu phạm
hạnh.”
Khi
ấy Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Nếu
được làm thân người,
Pháp
được thuyết vi diệu,
Mà
không chứng đạo quả,
Tất
không phải gặp thời.
Nói
nhiều nạn phạm hạnh;
Người
ở vào đời sau,
Nếu
như gặp phải thời,
Điều
quá khó ở đời.
Muốn
được lại thân người,
Và
nghe pháp vi diệu;
Cần
phải siêng năng học;
Mình
tự thương mình thôi.
Luận
bàn, nghe pháp lành;
Chớ
chần chừ lỡ dịp.
Nếu
để mất dịp này,
Tất
lo đọa địa ngục.
Nếu
không sanh gặp thời,
Không
được nghe pháp lành;
Như
người buôn mất của;
Chịu
sanh tử không cùng.
Nếu
sanh được thân người,
Được
nghe pháp chánh thiện,
Vâng
theo Thế Tôn dạy,
Chắc
chắn sẽ gặp thời.
Nếu
đã gặp thời rồi,
Siêng
tu chánh pháp hạnh,
Để
tựu thành pháp nhãn,
Đấng
Nhật Thân đã nói.[11]
Người
ấy thường tự giữ
Tiến
lên, lìa các sử,
Đoạn
diệt mọi kết sử,
Hàng
ma, quyến thuộc ma;
Người
ấy vượt thế gian,
Đã
diệt tận các lậu.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tương
đương Pāli: A.8.29 Akkhaṇā. Tham chiếu, No.125 (42.1) Tăng Nhất
36, “phẩm Bát Nạn” kinh số 1.
Bát
nạn 八難.
Pāli: atth’ akkhaṇā, tám trường
hợp không may mắn, không gặp vận, bất hạnh.
Phi thời非時.
Pāli: asamaya, không đúng lúc, trái thời.
Trường
thọthiên 長夀天,
chỉ Vô tưởng thiên. Pāli: dīghāyukaṃ devanikāyaṃ.
Trong này
kể gồm luôn cả súc sanh (tiracchānayoniṃ), ngạ quỷ (pettivisayaṃ),
Trường thọ thiên (dīghāyakaṃ devanikāyaṃ), và biên địa
(paccantimesu janapadesu).
TrungQuốc 中國.
Pāli: majjhimesu janapadesu, chỉ những nước ở trung bộ Ấn-độ.
Như dương
minh 如羊鳴.
Pāli: eḷamūga, vừa điếc vừa câm.
Chân nhân真人;
bản Pāli: samaṇabrāhmaṇā, Sa-môn Bà-la-môn.
Thiện khứ
thiện hướng 善去善向.
Pāli: sammaggatā sammā paṇipannā, chánh hành, chánh hướng 正行正向,
đi đúng hướng, đang hướng thẳng đến Niết-bàn.
Tự
tri tự
giác... Pāli: ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā
sacchikatvā pavedeti, những vị tự mình bằng trí tuệ siêu
việt đã chứng nghiệm thế giới này và thế giới khác,
rồi tuyên bố.
Nhật thân日親,
bà con của mặt trời, chỉ dòng họ Thích. Pāli: ādiccabandhu.