115.
KINH MẬT HOÀN DỤ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa Thích-ki-sấu, ở tại Ca-duy-la-vệ[2].
Bấy
giờ sau khi đêm tối qua, vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn
đắp y, ôm bát, rửa tay chân, lấy Ni-sư-đàn vắt lên vai,
đi đến rừng trúc[3] trong chùa
Thích-ca[4], rồi Ngài đi vào Đại
lâm[5], đến dưới một gốc
cây, trải Ni-sư-đàn ngồi kiết già.
Khi
ấy, Chấp Trượng Thích[6] chống
gậy mà đi, sau bữa cơm trưa, ung dung tìm đến chỗ Phật,
cùng nhau chào hỏi, chống gậy đứng trước Đức Phật, rồi
hỏi Đức Thế Tôn rằng:
“Sa-môn
Cù-đàm, Ngài lấy gì làm tông chỉ? Và thuyết giảng những
pháp gì?”
Đức
Thế Tôn đáp:
“Này
người họ Thích, nếu tất cả chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Phạm chí, từ ngườøi đến trời trên thế gian này đều
không đấu tranh[7], tu tập ly
dục, thanh tịnh phạm hạnh, lìa bỏ siểm khúc, dứt trừ
hối[8], không đắm trước nơi
hữu, phi hữu, cũng không có tưởng[9].
Đó là tông chỉ của Ta. Pháp Ta thuyết giảng cũng như vậy”.
Khi
ấy, Chấp Trượng Thích nghe Đức Phật nói, không cho là phải,
không cho là trái. Chấp Trượng Thích lắc đầu rồi bỏ đi.
Bấy
giờ, sau khi Chấp Trượng Thích bỏ đi không lâu, vào lúc
xế, Đức Thế Tôn từ chỗ thiền tọa đứng dậy, đi vào
giảng đường, đến trước chúng hội Tỳ-kheo, trải tọa
cụ ngồi xuống, rồi nói với các Tỳ-kheo:
“Hôm
nay, vào buổi sáng sớm, Ta đắp y, ôm bát vào Ca-duy-la-vệ
khất thực. Sau khi ăn xong, Ta thâu y bát, rửa tay chân, lấy
Ni-sư-đàn vắt lên vai, đến khóm trúc trong chùa Thích-ca,
rồi Ta đi vào Đại lâm ấy, đến dưới một gốc cây, trải
Ni-sư-đàn rồi ngồi kiết già. Khi ấy, có Chấp Trượng Thích
chống gậy mà đi, sau bữa cơm trưa ung dung tìm đến chỗ
Ta, cùng nhau chào hỏi, chống gậy đứng trước mặt Ta rồi
hỏi Ta rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm, Ngài lấy gì làm tông chỉ
và thuyết giảng những pháp gì?’ Ta đáp, ‘Này người họ
Thích, nếu tất cả chư Thiên, Ma, phạm, Sa-môn, Phạm chí,
từ ngườøi đến trời trên thế gian này đều không đấu
tranh, tu tập ly dục, thanh tịnh phạm hạnh, lìa bỏ siểm
khúc, dứt trừ hối, không đắm trước nơi hữu, phi hữu,
cũng không có tưởng. Đó là tông chỉ của Ta. Pháp Ta thuyết
giảng cũng như vậy’. Khi ấy Chấp Trượng Thích nghe Ta nói
không cho là phải, cũng không cho là trái. Chấp Trượng Thích
lắc đầu rồi bỏ đi”.
Khi
ấy có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày
vai phải, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là tất cả những Thiên, Ma, phạm, Sa-môn,
Phạm chí, từ ngườøi đến trời trên thế gian này đều
không đấu tranh, tu tập ly dục, thanh tịnh phạm hạnh, lìa
bỏ siểm khúc, dứt trừ hối, không đắm trước nơi hữu,
phi hữu, cũng không có tưởng?”
Đức
Thế Tôn nói:
“Tỳ-kheo,
nếu người đối với tư niệm nhân đó mà xuất gia học
đạo[10], tu tập tư tưởng, và
đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không ái,
không lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là tận
cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô
minh sử, kiến sử, nghi sử[11],
đấu tranh, tắng tat, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói
hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác[12],
đó gọi là tận cùng sự khổ”.
Đức
Phật nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi
vào tịnh thất tĩnh tọa.
Khi
ấy các Tỳ-kheo liền suy nghĩ rằng: ‘Này chư Hiền, nên
biết, Đức Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt, không
phân biệt rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh
thất tĩnh tọa, ‘Nếu người đối với tư niệm nhân đó
mà xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, và đối với pháp
hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không ái, không lạc, không
đắm trước, không trụ, đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục
sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử,
nghi sử, đấu tranh, tắng tat, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối,
nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác, đó gọi
là tận cùng sự khổ’.”
Rồi
lại suy nghĩ rằng: “Này chư Hiền, ai có thể phân biệt
rộng rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy?”
Rồi
họ lại suy nghĩ: “Chỉ có Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường
được Đức Thế Tôn và các vị Phạm hạnh có trí khen ngợi.
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt rộng rãi ý
nghĩa mà Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy. Này chư Hiền,
hãy cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên yêu
cầu ngài nói nghĩa này. Nếu đượïc Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
phân biệt cho thì chúng ta sẽ khéo léo nhận lãnh rồi ghi
nhớ”.
Rồi
thì các Tỳ-kheo đi đến chỗ của Tôn giả Đại Ca-chiên-diên,
cùng nhau chào hỏi rồi ngồi một bên mà bạch rằng:
“Thưa
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, nên biết, Đức Thế Tôn nói
nghĩa này một cách vắn tắt, không phân biệt rộng rãi, rồi
từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. “Tỳ-kheo,
nếu người đối với tư niệm nhân đó mà xuất gia học
đạo, tu tập tư tưởng, và đối với pháp hiện tại, quá
khứ và vị lai, mà không ái, không lạc, không đắm trước,
không trụ, đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế
sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử, đấu
tranh, tắng tật, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi
và vô lượng pháp ác bất thiện khác, đó gọi là tận cùng
sự khổ’. Chúng tôi liền suy nghĩ rằng: ‘Này chư Hiền,
ai có thể phân biệt rộng rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn vừa
nói vắn tắt?’ Rồi chúng tôi lại suy nghĩ: ‘Chỉ có Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên thường được Đức Thế Tôn và các
vị phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
có thể phân biệt rộng rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn nói
vắn tắt ấy. Ngưỡng mong Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thương
xót mà giảng rộng cho!”
Bấy
giờ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo rằng:
“Này
chư Hiền, hãy nghe tôi nói ví dụ này. Người có trí tuệ
nghe dụ này sẽ hiểu rõ nghĩa lý.
“Này
chư Hiền, ví như có người tìm lõi cây. Vì muốn tìm lõi
cây nên người ấy cầm búa vào rừng. Người ấy thấy cây
đại thọ đã thành rễ, thân, cành, nhánh, lá, hoa và lõi.
Người ấy không đụng đến rễ, thân, cành, lõi, mà chỉ
đụng đến nhánh và lá. Những điều chư Hiền nói cũng giống
như vậy. Đức Thế Tôn đang ở đây mà chư Hiền lại bỏ
Ngài đến tôi để hỏi nghĩa này. Vì sao vậy? Này chư Hiền,
nên biết, Đức Thế Tôn là Bậc có mắt, là Bậc có trí.
Ngài là Pháp, là Bậc Pháp Chủ, là Pháp tướng, là Bậc nói
nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa. Do đó chư Hiền
nên đi đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi nghĩa này, rằng:
‘Bạch Thế Tôn, điều này là thế nào? Điều này có nghĩa
gì?’ Nếu như Đức Thế Tôn có nói gì thì chư Hiền hãy
khéo léo nhận lãnh và ghi nhớ”.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Đúng
vậy, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Đức Thế Tôn là bậc
có mắt, là bậc có trí. Ngài là nghĩa, là Pháp, là bậc Pháp
chủ, là bậc Pháp tướng, là bậc nói nghĩa chân đế, hiển
hiện tất cả nghĩa. Do đó chúng tôi nên đi đến chỗ Đức
Thế Tôn mà hỏi nghĩa này, ‘Bạch Thế Tôn, điều này là
thế nào? Điều này có nghĩa gì?’ Nếu như Đức Thế Tôn
có nói gì thì chúng tôi khéo léo nhận lãnh rồi ghi nhớ.
Nhưng thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Ngài thường được
Đức Thế Tôn và các vị phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt rộng rãi ý nghĩa
mà Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy. Ngưỡng mong Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên thương xót mà giảng rộng cho”.
Tôn
giả Đại Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo:
“Vậy,
này chư Hiền, xin hãy nghe tôi nói”.
“Này
chư Hiền, duyên nhãn và sắc mà sanh nhãn thức. Ba sự này
cùng tụ hội liền có xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ.
Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư
duy thì có niệm. Có niệm thì có phân biệt[13].
“Tỳ-kheo
do suy niệm như vậy nên xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng,
trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai không
ái, không lạc, không đắm trước, không trụ; đó gọi là
tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử,
vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, tắng tật, siểm nịnh,
lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất
thiện khác. Đó gọi là tận cùng sự khổ.
“Với
tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Duyên ý và pháp mà phát sanh
ý thức. Ba sự cùng tụ hội liền có xúc. Do duyên xúc nên
có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có tưởng thì có
tư duy. Có tư duy thì có suy niệm. Có suy niệm thì có phân
biệt. Tỳ-kheo do niệm ấy mà xuất gia học đạo, tu tập
tư tưởng, trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và
vị lai không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ.
Đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử,
mạn sử, vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, tắng tật, siểm
nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp
ác bất thiện khác. Đó gọi là tận cùng sự khổ.
“Này
chư Hiền, Tỳ-kheo trừ con mắt, trừ sắc, trừ nhãn thức
mà có xúc, mà giả thiết có xúc, điều này không thể có.
Nếu không giả thiết có xúc mà giả thiết có cảm thọ,
điều ấy kkhông xảy ra. Nếu không giả thiết cảm thọ mà
giả thiết có suy niệm rồi xuất gia học đạo, tu tập tư
tưởng, điều này không thể có. Với tai, mũi, lưỡi, thân
cũng vậy. Trừ ý, trừ pháp, trừ ý thức mà có xúc, giả
thiết có xúc, điều này không thể có. Nếu không giả thiết
xúc mà có thọ, giả thiết có thọ, điều này không thể
có. Nếu không giả thiết thọ mà giả thiết có suy niệm,
rồi xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, điều này không
thể có.
“Này
chư Hiền, do con mắt, do sắc, do nhãn thức mà có xúc, giả
thiết có xúc, điều này có thật. Do giả thiết xúc mà có
thọ, giả thiết có thọ, điều này có thật. Do giả thiết
thọ mà giả thiết có suy niệm rồi xuất gia học đạo, tu
tập tư tưởng, điều này có thật. Do giả thiết thọ mà
giả thiết có suy niệm rồi xuất gia học đạo, tu tập tư
tưởng, điều này có thật.
“Với
tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Do ý, do pháp, do ý thức mà
có xúc, chủ trương có xúc, điều này có thật. Do chủ trương
xúc mà có cảm thọ, giả thiết có cảm thọ, điều này có
thật. Do giả thiết có cảm thọ mà giả thiết có suy niệm,
rồi xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, điều này có
thật.
“Này
chư Hiền, Đức Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt,
không phân biệt rộng rãi mà từ chỗ ngồi đứng dậy đi
vào tịnh thất tĩnh tọa, ‘Tỳ-kheo, nếu người đối với
tư niệm nhân đó mà xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng,
và đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không
ái, không lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là
tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử,
vô minh sử, kiến sử, nghi sử, đấu tranh, tắng tật, siểm
nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp
ác bất thiện khác, đó gọi là tận cùng sự khổ’. Đức
Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt, không phân biệt
rộng rãi. Tôi đã diễn rộng câu ấy, văn ấy như vậy.
“Này
chư Hiền, có thể đi đến chỗ Phật, tường trình lại đầy
đủ, nếu đúng như nghĩa mà Đức Thế Tôn muốn nói, chư
Hiền hãy nhận lãnh và ghi nhớ”.
Khi
ấy các Tỳ-kheo nghe những gì Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
nói, khéo ghi nhớ, tụng đọc, từ chỗ ngồi đứng dậy,
nhiễu quanh Tôn giả Đại Ca-chiên-diên ba vòng rồi đi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi xuống một bên mà bạch
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, vừa rồi Đức Thế Tôn nói nghĩa này một cách
vắn tắt, không phân biệt rộng rãi, rồi từ chỗ ngồi đứng
dậy, đi vào tịnh thất nghỉ ngơi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên
đã đem những câu này, văn này mà diễn rộng ra”.
Đức
Thế Tôn nghe xong, khen rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Trong hàng đệ tử của Ta, có vị là bậc có
mắt, có trí, có pháp, có nghĩa. Vì sao? Vì khi Tôn sư nói
nghĩa này cho họ từ một cách vắn tắt, không phân biệt
một cách rộng rãi, mà vị đệ tử kia đã diễn rộng ra
những câu ấy, văn ấy. Đúng như những gì Tỳ-kheo Đại
Ca-chiên-diên đã nói, các thầy hãy nên nhận lãnh rồi ghi
nhớ như vậy. Vì sao vậy? Vì nói, quán nghĩa phải như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, ví như có người do đi đến chỗ rừng vắng,
trong rừng sâu, giữa những cây cối, bỗng nhiên gặp được
bánh mật[14], vị ấy ăn, thưởng
thức vị ngọt; thiện nam tử cũng giống như vậy, ở trong
Pháp Luật chân chánh này của Ta, tùy theo những gì được
quán sát, vị ấy thưởng thức được vị ngọt của nó.
Quán sát con mắt, thưởng thức được vị ngọt. Quán sát
tai, mũi, lưỡi, thân, quán sát ý thưởng thức được vị
ngọt”.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Đức Thế Tôn, Tôn
giả A-nan liền chắp tay hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Pháp này tên gọi là gì? Chúng con phải phụng trì
như thế nào?”
Đức
Thế Tôn nói:
“Này
A-nan, Pháp này tên là ‘Mật hoàn dụ’[15],
ông hãy nên nhận lãnh và ghi nhớ”.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy nhận lãnh pháp ‘Mật hoàn dụ’ này, phải thường
tụng đọc. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, pháp “Mật hoàn
dụ” này có pháp, có nghĩa, là gốc của phạm hạnh, dẫn
đến trí thông, dẫn đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.
Nếu là thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí
tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo, thì
hãy nên khéo léo nhận lãnh, ghi nhớ pháp ‘Mật hoàn dụ’
này”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe lời
Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]Tương
đương Pāli M.18 Madhupiṇḍika-sutta. Biệt dịch No.125 (9).
[2]
Thích-ki-sấu, Ca-duy-la-vệ. Pāli: sakkesu viharati nigrodhārāme.
[3]
Nghệ trúc lâm詣竹林.
Bản Pāli nói Phật ngồi nghỉ trưa dưới một gốc tre non
(Beluvaṭṭhika), tre non.
[4]Thích-ca
tự 釋迦寺,
chỉ tinh xá trong vườn Ni-câu-loại (Nigrodhārāma).
[5]Đại
lâm 大林.
Pāli: Mahāvana, khu rừng gần Kapilavatthu.
[6]Chấp
Trượng Thích 執杖釋.
Pāli: Daṇḍapānī Sakka, con trai của Anjana và Yosadharā, em
của Hoàng hậu Mayā và Pajāpati, tức cậu ruột của Phật.
Truyền thuyết Bắc phương nói ông là cha vợ của Thái tử
Tất-đạt-đa.
[7]
Đấu tranh 鬥諍.
Pāli: viggayha, sự tranh luận, tranh cãi.
[8]
Trừ hối. Pāli: chinnakukkucca, dứt trừ sự ác tác, không còn
hối quá.
[9]
Hán: (...) diệc vô tưởng 亦無想.
Pāli: (...) taṃ brahmaṃ ... bhavābhave vītataṇhaṃ saññā nānusenti,
các tưởng không tiềm phục nơi người Bà-la-môn mà tham ái,
ái hữu và phi hữu đã bị loại trừ. Không nên lầm ở đây
Phật chủ trương “vô tưởng”.
[10]
Nhân sở nhân niệm 人所因念.
Pāli nói: Yatonidānaṃ purisaṃ papañcasaññā-saṅkhā samudācaranti
ettha ce natthi abhinanditabbaṃ, do nhân duyên mà các hý luận
vọng tưởng hiện hành nơi con người, ở đó nếu không có
gì đang hoan hỷ... Thử dựng lại đoạn Hán thành Pāli để
xem có phải Hán và Pāli khác nhau do sự truyền khẩu hay không:
yatonidānaṃ purisaṃ pabbajjāsaññāparicitaṃ...
[11]
Các sử ở đây cũng gọi là tùy miên.
[12]
Liệt kê của Pāli: rāga (tham trước), paṭigha (sân), diṭṭhi
(kiến), vicikicchā (nghi), māna (mạn), bhavarāga (hữu ái), avijjā
(vô minh), các tùy miên (anusayāni) này bị đoạn tận.
[13]
Nhược sở niệm tiện phân biệt 苦所念便分別.
Pāli: yaṃ vitakketi, taṃ papañceti, có tầm (niệm) cái gì,
thì có hý luận cái đó.
[14]
Mật hoàn 蜜丸.
Pāli: madhu-piṇḍika.
[15]
Pāli: madhupiṇḍikapariyāya, pháp môn mật hoàn.