113.
KINH CHƯ PHÁP BỔN[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có dị đạo đến hỏi các ông ‘Tất cả các pháp lấy gì
làm gốc?’ thì các ông nên trả lời họ như thế này: ‘Tất
cả các pháp lấy dục làm gốc’.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm hòa hiệp?’ thì nên đáp như vầy,
‘Lấy xúc làm hòa hiệp[2]’.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm dẫn khởi?’ thì nên đáp như vầy,
‘Lấy thọ làm dẫn khởi[3]’.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm hữu?’ thì nên đáp như vầy, ‘Lấy
tư tưởng làm hữu[4]”.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm thượng thủ?’ thì nên đáp như
vầy: “Lấy niệm làm thượng thủ’.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm tiền đạo?’ thì nên đáp như vầy,
‘Lấy định làm tiền đạo”.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm tối thượng?’ thì nên đáp như
vầy, ‘Lấy tuệ làm tối thượng.’
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm chắc thật?’ thì nên đáp như vầy,
‘Lấy giải thoát làm chắc thật’.
“Nếu
lại hỏi, ‘Lấy gì làm ý nghĩa?’ thì nên đáp như vầy,
‘Lấy Niết-bàn làm ý nghĩa’.
“Tỳ-kheo,
đó là, dục là gốc của các pháp, xúc là hòa hiệp của
các pháp, thọ là dẫn khởi của các pháp, tư tưởng là hữu
của các pháp, niệm là thượng thủ của các pháp, định
là tiền đạo của các pháp, tuệ là tối thượng của các
pháp, giải thoát là chắc thật của các pháp, và Niết-bàn
là ý nghĩa của các pháp. Tỳ-kheo, hãy nên học tập như vậy.
“Tích
tập tâm xuất gia học đạo[5],
tích tập tưởng vô thường, tích tập tưởng vô thường
nên khổ, tích tập tưởng khổ nên vô ngã, tích tập tưởng
bất tịnh, tích tập tưởng thức ăn ghê tởm[6],
tích tập tưởng tất cả thế gian không có gì hoan lạc, tích
tập tưởng về sự chết.
“Biết
sự tốt xấu của thế gian[7];
tâm được tích tập với tưởng như vậy[8].
Biết tập hữu của thế gian[9];
tâm được tích tập với tưởng như vậy. Biết như thật
sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất
yếu của thế gian; tâm được tích tập với tưởng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo tích tập được tâm xuất gia học đạo, tích
tập được tưởng vô thường, tích tập được tưởng vô
thường nên khổ, tích tập được tưởng khổ nên vô ngã,
tích tập được tưởng bất tịnh, tích tập được tưởng
thức ăn ghê tởm, tích tập được tưởng tất cả thế gian
không có gì hoan lạc, tích tập được tưởng về sự chết.
Biết sự tốt xấu của thế gian; tâm đã được tích tập
với tưởng như vậy. Biết tập hữu của thế gian; tâm đã
được tích tập với tưởng như vậy. Biết như thật sự
tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu
của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy;
đó được gọi là Tỳ-kheo đoạn ái, trừ kết; đã chánh
tri, chánh quán các pháp rồi liền được tận cùng sự khổ.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
Bản Hán, quyển 28. Tương đương Pāli, A. 8. 83. Mūla, 10. 58
Mūla; tham chiếu, A. 10. 59 Pabbajjā. Hán, biệt dịch, No.59.
Hán: dĩ cánh lạc vi hòa 以更樂為和.
Pāli: vedanā-samosaraṇā, hòa hiệp (kết hợp) là thọ. Xem
cht. dưới.
Dĩ hà vi lai 以何為來.
Pāli: phassa-samudayā, xúc là tập khởi. Xem cht. trên.
Dĩ tư tưởng vi hữu 以思想為有.
Pāli: manasikāra-saṃbhavā, tác ý là sanh khởi (hữu).
Tập đắc xuất gia học đạo chi tâm 習得出家學道之心.
Pāli: yathāpabbajjā- paricitañca cittam. Tập trong bản Hán
phù hợp với paricita trong bản Pāli, nên hiểu là tích
tập, thay vì là tập khởi.
Ác thực tưởng 惡食想.
Tri thế gian hảo ố 知世間好惡.
Pāli: lokassa samañ ca asamañ ca ñatvā, biết sự chánh hay bất
chánh (bình đẳng hay không bình đẳng) của thế gian.
Tập như thị tưởng tâm 習如是想心.
Pāli: taṃsaññāparicitañca cittaṃ.
Tri thế gian tập hữu 知世間習有.
Pāli: lokassa samudayañ ca atthaṅgamañca ñatvā, biết sự tập
khởi và hoại diệt của thế gian.