112.
KINH A-NÔ-BA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Bạt-kì-sấu[2],
ở đô ấp A-nô-ba[3]
của người Bạt-kì.
Bấy
giờ, vào lúc xế trưa, Đức Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa đứng
dậy, bước ra khỏi tịnh thất và nói:
“A-nan,
Ta và ông hãy đi đến sông A-di-la-hòa-đế[4]
để tắm.
Tôn
giả A-nan nói:
“Kính
vâng”.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đi đến sông A-di-la-hòa-đế,
cởi bỏ y phục trên bờ sông rồi xuống nước tắm. Tắm
xong, lên bờ, lau mình và mặc y phục vào. Bấy giờ Tôn giả
A-nan cầm quạt quạt hầu Phật. Khi ấy, Đức Thế Tôn ngoảnh
lại, hỏi:
“A-nan,
Đề-bà-đạt-đa vì phóng dật nên sẽ bị đọa lạc rất
cực khổ, chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở
đấy trọn kiếp, không thể cứu vớt. A-nan, ông có nghe các
Tỳ-kheo nói lại rằng Ta đã xác định Đề-bà-đạt-đa chắc
chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp,
không thể cứu vớt chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Quả
vậy, lúc bấy giờ có một vị Tỳ-kheo nói với con rằng:
‘Này Tôn giả A-nan, phải chăng Đức Thế Tôn dùng Tha tâm
trí biết rõ tâm Đề-bà-đạt-đa nên Ngài xác định rằng
Đề-bà-đạt-đa[5]
chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn
kiếp, không cứu vớt?[6]’”
Đức
Thế Tôn nói:
“A-nan,
Tỳ-kheo ấy hoặc nhỏ, hoặc trung, hoặc lớn tuổi, hoặc
niên thiếu, đều không hiểu biết[7].
Vì sao vậy? Như Lai đã xác định, nhưng người ấy vẫn còn
nghi hoặc. A-nan, Ta không thấy có những Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Phạm chí hay bất cứ ai khác ở trên đời này từ người
đến trời như Ta ghi nhận nhất quyết về Đề-bà-đạt-đa.
Vì sao vậy? A-nan, Ta xác định rằng Đề-bà-đạt-đa chắc
chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp,
không thể cứu vớt. A-nan, nếu Ta thấy Đề-bà-đạt-đa có
được chút pháp bạch tịnh bằng một sợi lông, Ta đã không
xác định rằng Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đến chỗ ác,
sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp, không thể cứu vớt.
A-nan, vì Ta không thấy Đề-bà-đạt-đa có được chút pháp
bạch tịnh bằng một sợi lông, nên Ta xác định rằng Đề-bà-đạt-đa
chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn
kiếp, không thể cứu vớt.
“A-nan,
ví như cách thôn nọ không xa, có một hầm phẩn sâu rộng,
có người bị lọt vào đấy, chìm xuống tận đáy. Có người
đi đến trông thấy, phát khởi lòng đại từ đại bi, mong
muốn cho được sự lợi ích và phước lành, được an ổn,
khoái lạc. Người ấy nhìn quanh rồi nói, ‘Người này có
chỗ nào như lông, tóc không bị dính phẩn để ta có thể
nắm kéo lên chăng?’ Người ấy nhìn khắp châu thân nhưng
không thấy có chỗ nào bằng một sợi lông, một cọng tóc
mà không bị dính phẩn để có thể dùng tay nắm kéo lên
được’. Cũng vậy, này A-nan, nếu Ta thấy Đề-bà-đạt-đa
có một chút pháp bạch tịnh nào bằng một sợi lông, Ta đã
không ghi xác định rằng Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đến
chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp, không thể
cứu vớt. A-nan, vì Ta không thấy Đề-bà-đạt-đa có được
chút pháp bạch tịnh nào bằng một sợi lông, nên Ta ghi xác
định rằng Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đến chỗ ác, sanh
vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp, không thể cứu vớt.
Khi
ấy, Tôn giả A-nan khóc lóc, lấy tay gạt lệ[8]
rồi thưa rằng:
“Kính
bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Thế Tôn
đã xác định rằng ‘Đề-bà-đạt-đa chắc chắn đến chỗ
ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp không thể cứu
vớt’.”
“Đúng
vậy A-nan! Đúng vậy A-nan! Ta xác định rằng Đề-bà-đạt-đa
chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn
kiếp, không thể cứu vớt. A-nan, nếu ông được Như Lai thuyết
giảng cho nghe về phân biệt Đại nhân căn trí[9]
chắc chắn sẽ có tín tâm tối thượng nơi Như Lai mà luôn
luôn hoan hỷ”.
Khi
ấy, Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nay quả là đúng lúc! Bạch Thiện Thệ, nay quả
là đúng lúc! Ngưỡng mong Thế Tôn thuyết giảng cho các Tỳ-kheo
nghe về phân biệt Đại nhân căn trí. Các Tỳ-kheo được
Thế Tôn thuyết giảng cho nghe sẽ khéo léo thọ trì”.
Đức
Thế Tôn nói:
“A-nan,
hãy lắng nghe! Hãy khéo tư niệm. Nay Ta sẽ thuyết giảng cho
ông nghe về phân biệt Đại nhân căn trí”.
Tôn
giả A-nan vâng lời dạy chờ nghe.
Thế
Tôn nói:
“A-nan,
Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người khác, biết người
này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu pháp bất thiện.
Sau đó, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát lại tâm người này,
biết người này diệt pháp thiện, sanh phát bất thiện. Người
này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện, nhưng thiện
căn còn sót lại chưa đoạn tuyệt. Từ thiện căn đó, lại
sẽ phát sanh pháp thiện. Như vậy, người này đạt được
pháp thanh tịnh.
“A-nan,
ví như sáng sớm, mặt trời vừa xuất hiện, bóng tối diệt,
ánh sáng sanh. A-nan, ý ông nghĩ sao, mặt trời lên dần cho
đến giờ ăn trưa, phải chăng bóng tối đã diệt, ánh sáng
đã sanh?
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, biết người này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu
pháp bất thiện. Sau đó, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát
lại tâm người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh
pháp bất thiện. Người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp
bất thiện, nhưng thiện căn còn sót lại, chưa đoạn tuyệt.
Từ thiện căn đó sẽ lại phát sanh pháp thiện. Như vậy,
người này đạt được pháp thanh tịnh.
“A-nan,
ví như hạt lúa giống không hư, không vỡ, không mục, không
nứt, không bị gió, nắng làm thương tổn, mùa thu được
cất giấu kín đáo. Nếu người cư sĩ giỏi, sửa sang khoảnh
ruộng tốt rồi vãi hạt giống vào và mưa xuống phải thời,
thì này A-nan, ý ông nghĩ sao, hạt giống ấy có dần dần
lớn lên được chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, có thể vậy”.
“Cũng
vậy, A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người khác,
biết người này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu pháp
bất thiện. Sau đó Như Lai dùng Tha tâm trí lại quán sát tâm
người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất
thiện; người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện,
nhưng thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt. Từ thiện căn
đó, thiện pháp sẽ lại phát sanh. Như vậy là người này
đạt được pháp thanh tịnh. A-nan, đó gọi là Đại nhân
căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu biết chân chánh về gốc
rễ của các pháp như vậy.
“Lại
nữa, A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người khác,
biết người này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu pháp
bất thiện. Sau đó Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát lại tâm
người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất
thiện, thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt, chắc chắn rồi
sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này đi đến pháp suy thoái[10].
“A-nan,
ví như từ lúc xế trưa cho đến khi mặt trời lặn, ánh sáng
diệt, bóng tối sanh; A-nan, ý ông nghĩ sao, sau khi mặt trời
lặn, phải chăng ánh sáng đã diệt, bóng tối đã sanh?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Cũng
vậy, A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người khác,
biết người này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu pháp
bất thiện. Sau đó Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát lại tâm
người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp bất
thiện; người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất thiện,
thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt, chắc chắn rồi sẽ
đoạn tuyệt. Như vậy, người này đi đến pháp suy thoái”.
“A-nan,
ví như hạt lúa giống không hư, không vỡ, không mục, không
nứt, không bị gió, nắng làm thương tổn, mùa thu đến được
cất giấu kín đáo. Nếu người cư sĩ kia giỏi, sửa sang
ruộng tốt rồi vãi hạt giống vào nhưng mưa xuống không
phải thời, thì này A-nan, ý ông nghĩ sao, hạt giống này có
dần dần lớn lên được không?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, không thể được”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, biết người này thành tựu pháp thiện, cũng thành tựu
pháp bất thiện. Sau đó Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát lại
tâm người này, biết người này diệt pháp thiện, sanh pháp
bất thiện; người này đã diệt pháp thiện, sanh pháp bất
thiện, thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt, chắc chắn rồi
sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này đi đến pháp suy thoái”.
“A-nan,
đó gọi là Đại nhân căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu biết
chân chánh về gốc rễ của các pháp như vậy.
“Lại
nữa, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác. Ta không thấy người này có được chút pháp bạch tịnh
nào, dù chỉ bằng một sợi lông. Người này một mực chỉ
có pháp ác, bất thiện, ô uế, làm gốc rễ cho sự hữu trong
tương lai là sự phiền nhiệt, là khổ báo, là nguyên nhân
của sanh, già, bệnh, chết. Như vậy, người này khi thân hoại
mạng chung, chắc chắn đi đến chỗ ác, sanh vào địa ngục”.
“A-nan,
ví như hạt giống không hư, vỡ, mục nát, bị gió nắng làm
thương tổn, mùa thu không được cất giấu kín đáo. Nếu
người cư sĩ kia không phải là nông phu giỏi, lại không khéo
canh tác, gieo hạt giống xuống và mưa không phải thời, thì
này A-nan, ý ông nghĩ sao, hạt giống lúa có dần dần lớn
lên được chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, dạ không”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, Ta không thấy người này có được chút pháp bạch tịnh,
dù bằng sợi lông. Người này pháp ác bất thiện hoàn toàn
dẫy đầy, ô uế, làm gốc rễ cho sự hữu trong tương lai,
lại phiền nhiệt, khổ báo, nguyên nhân của sanh, già, bệnh,
chết. Như vậy, người này khi thân hoại mạng chung, chắc
chắn đi đến chỗ ác, sanh vào địa ngục. A-nan, đó gọi
là Đại nhân căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu biết chân
chánh về gốc rễ của các pháp như vậy”.
“Khi
ấy Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn đã thuyết giảng về ba hạng người như
vậy. Mong Thế Tôn có thể giảng thuyết về ba hạng người
khác nữa được chăng?”
Đức
Thế Tôn nói:
“Ta
có thể nói. Này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm
người khác, biết người này thành tựu pháp bất thiện,
cũng thành tựu pháp thiện. Sau đó, Như Lai dùng Tha tâm trí
quán sát lại tâm người này, biết người này diệt pháp
bất thiện, sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất
thiện, sanh pháp thiện, nhưng bất thiện căn còn sót chưa
đoạn tuyệt. Từ bất thiện căn này sẽ lại phát sanh pháp
bất thiện. Như vậy, người này đi đến pháp suy thoái.
“A-nan,
ví như lửa đốt, khi mới đốt chỉ có một ngọn, có người
đẩy cỏ khô thêm rồi chất củi khô lên. Này A-nan, ý ông
nghĩ sao, ngọn lửa kia càng bốc cháy mạnh lên chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, quả như vậy”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, biết người này thành tựu pháp bất thiện, cũng thành
tựu pháp thiện. Sau đó, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát
lại tâm người này, biết người này diệt pháp bất thiện,
sanh pháp thiện. Người này đã được diệt pháp bất thiện,
sanh pháp thiện, nhưng bất thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt.
Từ bất thiện căn đó sẽ lại phát sanh pháp bất thiện.
Như vậy, người này đi đến pháp suy thoái.
“Này
A-nan, đó gọi là Đại nhân căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu
biết chân chánh về gốc rễ của các pháp như vậy.
“Lại
nữa, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, biết người này thành tựu pháp bất thiện, cũng thành
tựu pháp thiện. Sau đó, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát
lại tâm người này, biết người này diệt pháp bất thiện,
sanh pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh
pháp thiện, nhưng bất thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt,
chắc chắn rồi sẽ đoạn tuyệt. Như vậy, người này đạt
đến pháp thanh tịnh.
“A-nan,
ví như đốt lửa, khi mới đốt chỉ có một ngọn, có người
đem cây lửa đang cháy sáng này để trên đất bằng, hoặc
để trên đá; này A-nan, ý ông nghĩ sao, ngọn lửa há càng
bốc cháy mạnh lên chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, không thể vậy”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, biết người này thành tựu pháp bất thiện, cũng thành
tựu pháp thiện. Sau đó Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát lại
tâm người này, biết người này diệt pháp bất thiện, sanh
pháp thiện. Người này đã diệt pháp bất thiện, sanh pháp
thiện, nhưng bất thiện căn còn sót chưa đoạn tuyệt, chắc
chắn rồi sẽ đoạn tuyệt. Như vậy là người này đạt
pháp thanh tịnh.
“A-nan,
đó gọi là Đại nhân căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu biết
chân chánh về gốc rễ của các pháp như vậy.
“Lại
nữa, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác, Ta không thấy người này có chút hắc nghiệp dù bằng
một sợi lông. Người này tuyệt đối chỉ có pháp thiện
dẫy đầy, cùng với lạc, được lạc báo, chắc chắn sanh
vào lạc xứ mà được trường thọ. Như vậy, người này
ngay trong đời này chắc chắn chứng đắc Niết-bàn.
“A-nan,
ví như tro lửa đã tắt từ lâu, đã nguội lạnh, có một
người thêm đầy cỏ khô rồi chất củi khô lên; này A-nan,
ý ông nghĩ sao, tâm nguội lạnh há có thể bốc cháy được
chăng?”
Tôn
giả A-nan thưa:
“Bạch
Thế Tôn, không thể được”.
“Cũng
vậy, này A-nan, Như Lai dùng Tha tâm trí quán sát tâm người
khác. Ta không thấy người này có chút hắc nghiệp dù bằng
một sợi lông. Người này tuyệt đối chỉ có pháp thiện
dẫy đầy, cùng với lạc, được lạc báo, chắc chắn sanh
vào lạc xứ mà được trường thọ. Như vậy, người này
ngay trong đời này chắc chắn chứng đắc Niết-bàn. Này A-nan,
đó gọi là Đại nhân căn trí của Như Lai. Như Lai hiểu biết
chân chánh về gốc rễ của các pháp như vậy.
“A-nan,
ba hạng người nói trên kia, hạng người thứ nhất đạt
pháp thanh tịnh, hạng người thứ hai đạt pháp suy thoái,
hạng người thứ ba khi thân hoại mạng chung chắc chắn đến
chỗ ác, sanh vào địa ngục.
“Ba
hạng người Ta nói sau này, hạng người thứ nhất đạt pháp
suy thoái, hạng người thứ hai đạt pháp thanh tịnh, hạng
người thứ ba ngay trong đời này chứng đắc Niết-bàn.
“A-nan,
Ta đã giảng thuyết cho ông nghe về Đại nhân căn trí. Như
đấng Tôn sư thương yêu đệ tử, phát khởi lòng đại từ
đại bi, mong muốn cho được sự lợi ích và phước lành,
được an ổn khoái lạc, điều đó Ta đã thực hiện rồi,
các người cũng phải tự mình thực hiện. Hãy đến rừng
vắng sơn lâm, dưới gốc cây hoặc một chỗ nào yên tĩnh
mà thiền tịnh tư duy, chớ nên phóng dật. Hãy chuyên cần
tinh tấn, đừng để về sau phải hối hận. Đó là lời răn
dạy của Ta! Đó là lời khuyên bảo của Ta!”
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli A.6.62 Udaka (Purisindriyañāṇa-sutta). Biệt
dịch, No.58.
[2]
Bạt-kì-sấu 跋耆瘦.
Pāli: Vajjīsu, giữa những người Vajji.
[3]
A-nô-ba 阿奴波;
địa danh này chưa rõ. Bản Pāli: Phật tại Daṇḍakappa, một
ngôi làng của người Kosala.
[4]
A-di-la-hòa-đế 阿夷邏和帝.
Pāli: Aciravatī, Tôn giả Ananda và một số đông Tỳ-kheo làng
Daṇḍakappa đến tắm ở đây.
[5]
Đề-bà-đạt-đa 提婆達多,Tỳ-kheo
chống Phật. Pāli: Devadatta.
[6]
Theo bản Pāli, Tỳ-kheo này hoài nghi, Phật tự biết hay nhờ
chư Thiên nói cho biết.
[7]
Hán: niên thiếu bất tự tri 年少不自知.
Pāli: bālo avyatto, ngu si không biết gì. Bāla, có nghĩa con nít,
cũng có nghĩa ngu si, cho nên Hán dịch niên thiếu (?).
[8]
Có lẽ vì Đề-ba-đạt-đa là anh em chú bác ruột.
[9]
Đại nhân căn trí 大人根智.
Pāli: purisindriyaññāṇa.
[10]
Suy thoái pháp 衰退法.
Pāli: parihāna-dhamma.