111.
KINH ĐẠT PHẠM HẠNH[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm,
một đô ấp của Câu-lâu[2].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Ta
sẽ thuyết pháp cho các ngươi nghe, vi diệu ở khởi đầu,
vi diệu ở khoảng giữa và vi diệu ở đoạn cuối, có văn,
có nghĩa, cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh; đó là
‘Đạt phạm hạnh[3]’,
có thể diệt tận các lậu. Các thầy hãy lắng nghe, hãy khéo
suy niệm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo vâng lời dạy, chờ nghe.
Đức
Thế Tôn nói:
“Các
ngươi hãy biết lậu, nhân sinh của lậu, biết sự hữu báo
của lậu, biết sự thắng liệt của lậu[4],
biết sự diệt tận của lậu, biết lậu diệt đạo.
“Các
ngươi hãy biết thọ[5],
biết nhân sanh của thọ, biết sự hữu báo của thọ, biết
sự thắng liệt của thọ, biết sự diệt tận của thọ,
biết thọ diệt đạo.
“Các
ngươi hãy biết tưởng, biết nhân sanh của tưởng, biết
sự hữu báo của tưởng, biết sự thắng liệt của tưởng,
biết sự diệt tận của tưởng, biết tưởng diệt đạo.
“Các
ngươi hãy biết dục, biết nhân sanh của dục, biết hữu
báo của dục, biết sự thắng liệt của dục, biết sự diệt
tận của dục, biết dục diệt đạo.
“Các
ngươi hãy biết nghiệp, biết nhân sanh của nghiệp từ đâu
sanh, biết hữu báo của nghiệp, biết sự thắng liệt của
nghiệp, biết sự diệt tận của nghiệp, biết nghiệp diệt
đạo.
“Các
ngươi hãy biết khổ, biết nhân sanh của khổ, biết sự hữu
báo của khổ, biết sự thắng liệt của khổ, biết sự diệt
tận của khổ, biết khổ diệt đạo.
“Thế
nào là biết lậu? Biết có ba lậu: dục lậu, hữu lậu và
vô minh lậu. Đó là biết lậu? Thế nào biết nhân sanh của
lậu? Biết từ vô minh, nhân vô minh, do đó có lậu. Đó là
biết nhân sanh của lậu. Thế nào là biết hữu báo của lậu?
Biết bị vô minh trói buộc, bị các lậu rỉ thấm, do nhân
duyên đó lãnh thọ quả báo hoặc đến chỗ lành hay đến
chỗ ác. Đó là biết lậu có quả báo. Thế nào là biết
sự thắng liệt của lậu? Biết có lậu sanh vào địa ngục,
có lậu sanh vào súc sanh, có lậu sanh vào ngạ quỷ, có lậu
sanh vào cõi trời, hoặc có lậu sanh vào cõi người. Đó là
sự thắng liệt của lậu. Thế nào là biết sự diệt tận
của lậu? Biết vô minh diệt, lậu liền diệt. Đó là biết
lậu diệt tận. Thế nào là biết lậu diệt đạo? Biết Thánh
đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định. Đó là biết
lậu diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết lậu, biết nhân sanh của
lậu, biết hữu báo của lậu, biết sự thắng liệt của
lậu, biết sự diệt tận của lậu, biết lậu diệt đạo
như vậy, đó gọi là đạt phạm hạnh, có thể diệt tận
tất cả lậu.
“Thế
nào là biết thọ? Biết có ba cảm thọ: cảm thọ lạc, cảm
thọ khổ và cảm thọ không khổ không lạc. Đó là biết
thọ. Thế nào là biết nhân sanh của thọ? Biết từ xúc,
do xúc nên có thọ. Đó là biết nhân sanh của thọ. Thế nào
là biết hữu báo của thọ? Biết ái, ái là hữu báo của
thọ. Đó là biết hữu báo của thọ. Thế nào là biết sự
thắng liệt của thọ? Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm thọ lạc,
liền biết đang thọ nhận cảm thọ lạc; khi thọ nhận cảm
thọ khổ liền biết đang thọ nhận cảm thọ khổ; khi thọ
nhận cảm thọ không khổ không lạc, liền biết đang thọ
nhận cảm thọ không khổ không lạc. Khi thân thọ nhận cảm
thọ lạc, thân thọ nhận cảm thọ khổ, thân thọ nhận cảm
thọ không khổ không lạc; khi tâm thọ nhận cảm thọ lạc,
tâm thọ nhận cảm thọ khổ, tâm thọ nhận cảm thọ không
khổ không lạc. Cảm thọ lạc khi ăn, cảm thọ khổ khi ăn,
cảm thọ không khổ không lạc khi ăn. Cảm thọ lạc khi không
ăn, cảm thọ khổ khi không ăn, cảm thọ không khổ không
lạc khi không ăn. Cảm thọ lạc khi có dục, cảm thọ khổ
khi có dục, cảm thọ không khổ không lạc khi có dục. Cảm
thọ lạc khi không có dục, cảm thọ khổ khi không có dục,
cảm thọ không khổ không lạc khi không có dục, thì biết
có cảm thọ không khổ không lạc khi không có dục. Đó là
biết sự thắng liệt của thọ. Thế nào là biết sự diệt
tận của thọ? Biết xúc diệt, thọ liền diệt. Đó là biết
sự diệt tận của thọ. Thế nào là biết thọ diệt đạo?
Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định.
Đó là biết thọ diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết thọ, biết
nhân sanh của thọ, biết hữu báo của thọ, biết sự thắng
liệt của thọ, biết sự diệt tận của thọ, biết thọ
diệt đạo như vậy, đó gọi là đạt phạm hạnh, có thể
diệt tận tất cả thọ.
“Thế
nào là biết tưởng? Biết có bốn tưởng[6]:
Tỳ-kheo khi có tưởng nhỏ cũng biết, tưởng lớn cũng biết,
tưởng vô lượng cũng biết, tưởng xứ vô sở hữu cũng
biết. Đó là biết tưởng. Thế nào là biết nhân sanh của
tưởng? Biết từ xúc, do xúc nên tưởng. Đó là biết nhân
sanh của tưởng. Thế nào là biết hữu báo của tưởng? Biết
tuyên thuyết[7],
tùy tưởng mà tuyên thuyết[8].
Đó là biết hữu báo của tưởng. Thế nào là biết sự thắng
liệt của tưởng? Biết có tưởng tưởng về sắc[9],
có tưởng tưởng về tiếng, có tưởng tưởng về hương,
có tưởng tưởng về vị, hoặc có tưởng tưởng về xúc.
Đó là biết sự thắng liệt của tưởng. Thế nào là biết
sự diệt tận của tưởng? Biết xúc diệt, tưởng liền diệt.
Đó là biết sự diệt tận của tưởng. Thế nào là biết
tưởng diệt đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến
cho đến chánh định. Đó là biết tưởng diệt đạo. Nếu
Tỳ-kheo biết tưởng, biết nhân sanh của tưởng, biết hữu
báo của tưởng, biết sự thắng liệt của tưởng, biết
sự diệt tận của tưởng, biết tưởng diệt đạo như vậy,
đó gọi là đạt phạm hạnh, có thể diệt tận tất cả
tưởng.
“Thế
nào là biết dục? Biết dục có năm công đức của dục,
khả ái, khả hỷ, mỹ sắc, tương ưng với dục, rất khả
lạc. Những gì là năm? Sắc được biết bởi mắt, thanh được
biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết
bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, pháp được biết
bởi ý. Thế nào là biết nhân sanh của dục? Biết từ xúc,
do xúc nên có dục. Đó là biết nhân sanh của dục từ đâu
sanh. Thế nào là biết hữu báo của dục? Tùy theo chủng loại
dục mà sanh ái lạc, đắm trước rồi trụ vào đó, do nhân
duyên đó lãnh thọ quả báo, đến chỗ có phước, đến chỗ
phi phước hay chỗ bất động. Đó là biết hữu báo của
dục. Thế nào là biết sự thắng liệt của dục? Hoặc có
dục ham muốn sắc[10],
hoặc có dục ham muốn tiếng, hoặc có dục ham muốn hương,
hoặc có dục ham muốn vị, hoặc có dục ham muốn xúc. Đó
là biết sự thắng liệt của dục. Thế nào là biết sự
diệt tận của dục? Biết xúc diệt, dục liền diệt. Đó
là biết sự diệt tận của dục. Thế nào là biết dục diệt
đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh
định. Đó là biết dục diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết dục,
biết nhân sanh của dục, biết hữu báo của dục, biết sự
thắng liệt của dục, biết sự diệt tận của dục, biết
dục diệt đạo là như vậy, đó gọi là đạt phạm hạnh,
có thể diệt tận tất cả dục.
“Thế
nào là biết nghiệp? Biết có hai nghiệp, nghiệp và nghiệp
đã tư[11].
Đó là biết nghiệp. Thế nào là biết nhân sanh của nghiệp?
Biết từ do xúc nên có nghiệp. Đó là biết nhân sanh của
nghiệp. Thế nào là biết hữu báo của nghiệp? Biết nghiệp
đen có quả báo đen, nghiệp trắng có quả báo trắng, nghiệp
đen trắng có quả báo đen trắng, hoặc nghiệp không đen không
trắng thì không có quả báo và nghiệp tận. Đó là biết
nghiệp có quả báo. Thế nào là biết sự thắng liệt của
nghiệp? Biết có nghiệp sanh vào địa ngục, có nghiệp sanh
vào súc sanh, có nghiệp sanh vào ngạ quỷ, có nghiệp sanh vào
cõi trời, hoặc có nghiệp sanh vào cõi người. Đó là biết
sự thắng liệt của nghiệp. Thế nào là biết sự diệt tận
của nghiệp? Biết xúc diệt, nghiệp liền diệt. Đó là biết
sự diệt tận của nghiệp. Thế nào là biết nghiệp diệt
đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh
định. Đó là biết nghiệp diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết
nghiệp, biết nhân sanh của nghiệp, biết hữu báo của nghiệp,
biết sự thắng liệt của nghiệp, biết sự diệt tận của
nghiệp, biết nghiệp diệt đạo như vậy, đó gọi là đạt
phạm hạnh, có thể diệt tận tất cả nghiệp.
“Thế
nào là biết khổ? Biết khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ
chết, khổ oán tắng hội, khổ ái biệt ly, khổ cầu bất
đắc; nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Đó là biết khổ. Thế
nào là biết nhân sanh của khổ? Biết từ ái, do ái sanh khổ.
Đó là biết nhân sanh của khổ. Thế nào là biết hữu báo
của khổ? Biết có khổ diệt hơi chậm, hoặc có khổ diệt
hơi nhanh, hoặc có khổ diệt rất chậm, hoặc có khổ diệt
rất nhanh. Đó là biết hữu báo của khổ. Thế nào là biết
sự thắng liệt của khổ? Đó là biết phàm phu ngu si, không
đa văn, không gặp thiện tri thức, không điều ngự thánh
pháp, nên khi thân sanh cảm thọ rất khổ, cùng cực khổ,
mạng sống muốn tuyệt, phải tìm người cứu chữa ở bên
ngoài; hoặc có Sa-môn, Phạm chí thọ trì loại chú một câu,
loại chú hai, ba, bốn hay nhiều câu, hoặc thọ trì loại chú
một trăm câu thần chú, ‘Vị ấy trị dứt khổ cho ta’,
như vậy là nhân mong cầu mà sanh khổ, nhân tập khởi mà
sanh khổ. Đó là biết sự thắng liệt của khổ. Thế nào
là biết sự diệt tận của khổ? Biết ái diệt, khổ liền
diệt. Đó là biết sự diệt tận của khổ. Thế nào là biết
khổ diệt đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến
cho đến chánh định. Đó là biết khổ diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo
biết khổ, biết nhân sanh của khổ, biết hữu báo của khổ,
biết sự thắng liệt của khổ, biết sự diệt tận của
khổ, biết khổ diệt đạo như vậy, đó gọi là Đạt phạm
hạnh, có thể diệt tận tất cả khổ.”
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
Tương đương Pāli A.6.63 Nibbedhika-sutta. Hán, biệt dịch, No.57.
Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu. Pāli: Kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ
nigamo, tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru. Xem cht.3,
kinh số 10.
Đạt phạm hạnh 達梵行.
Pāli: nibbedhikapaiyāya, pháp môn quyết trạch.
Các khía cạnh của vấn đề: sở nhân sanh 所因生,
hữu báo 有報,
thắng như 勝如,
Pāli: nidānasambhava (nguyên nhân sanh khởi), vemattatā (đặc
tính sai biệt), vipāka (báo ứng).
Giác 覺.
Pāli: vedanā.
Bản Pāli: sáu tưởng: rūpasaññā, sắc tưởng, cho đến,
dhammasaññā, pháp tưởng.
Thuyết 說.
Pāli: Katamo saññānaṃ vipāko? vohāraveppako, cái gì là kết
quả (dị thục) của các tưởng? Là kết quả của ngôn ngữ
tập quán.
Tùy kỳ tưởng tiện thuyết 隨其想便說.
Pāli: yathā yathā naṃ saṃjānāti tathā tathā voharati evaṃ
saññī ahosin ti, nó nhận biết vật ấy như thế nào thì nó
nói như thế, rằng “tôi có tưởng (có ấn tương) như vậy”.
Pāli: aññā saññā rūpesu, tưởng trong các sắc thì khác,
cho đến, aññā saññā dhammesu, tưởng trong các pháp thì khác.
Hữu dục dục sắc 有欲欲色.
Pāli: añño kāmo rūpesu, dục nơi các sắc là khác,... cho đến,
añño kāmo phoṭṭhabbesu, dục nơi các xúc là khác.
Tư nghiệp dĩ tư nghiệp 思業已思業.
Pāli: cetanaṃ kamamṃ... cetayitvā kamaṃ katori kāyena vācāya
manasā: nghiệp được tư duy, và nghiệp sau khi tư duy rồi
hành động bởi thân, miệng và ý.