110.
KINH TỰ QUÁN TÂM (II)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo không thiện xảo quán tâm người khác, hãy thiện
xảo tự quán sát tâm của chính mình. Nên học như vậy.
“Thế
nào gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm? Tỳ-kheo nếu
có quán này, chắc chắn được nhiều lợi ích.‘Ta thường
hành tham lam hay thường hành không tham lam[2]?
Ta thường hành tâm sân nhuế hay thường hành tâm không sân
nhuế? Ta thường hành thùy miên triền hay thường hành không
thùy miên triền? Ta thường hành trạo hối, cống cao hay thường
hành không trạo hối, cống cao? Ta thường hành nghi hoặc hay
thường hành không nghi hoặc? Ta thường hành thân tránh[3]
hay thường hành không thân tránh? Ta thường hành tâm ô uế
hay thường hành tâm không ô uế? Ta thường hành tín hay thường
hành bất tín? Ta thường hành tinh tấn hay thường hành giải
đãi? Ta thường hành suy niệm hay thường hành không suy niệm?
Ta thường hành tâm định hay thường hành tâm không định?
Ta thường hành ác tuệ hay thường hành không ác tuệ?’
“Nếu
Tỳ-kheo khi quán liền biết, ‘Ta thường hành tham lam, tâm
sân nhuế, thùy miên triền, trạo hối, cống cao, nghi hoặc,
thân tránh, tâm ô uế, bất tín, giải đãi, không suy niệm,
không tâm định, thường hành ác tuệ’. Tỳ-kheo ấy muốn
diệt trừ pháp ác bất thiện này phải nhanh chóng tìm cầu
phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham
nhẫn, đừng để bị thoái chuyển.
“Ví
như bị lửa đốt cháy đầu, cháy áo, nhanh chóng tìm cầu
phương tiện cứu đầu, cứu áo. Cũng vậy, Tỳ-kheo muốn
diệt trừ pháp ác bất thiện này phải nhanh chóng tìm cầu
phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham
nhẫn, đừng để bị thoái chuyển.
“Nếu
Tỳ-kheo khi quán liền biết, ‘Ta thường hành không tham lam,
tâm không sân nhuế, không thùy miên triền, không trạo hối
cống cao, không nghi hoặc, không thân tránh, tâm không ô uế,
tín, tinh tấn, suy niệm, định, thường hành không ác tuệ’.
Tỳ-kheo ấy trụ nơi pháp thiện này rồi, hãy nên mong cầu
tự thân chứng ngộ lậu tận trí thông.
“Vì
sao vậy? Ta nói, không được cất chứa tất cả y nhưng cũng
nói được quyền cất chứa tất cả y áo. Loại y nào Ta nói
không được cất chứa? Nếu cất chứa y áo mà tâm tăng trưởng
pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện, y áo như vậy Ta
nói không được cất chứa. Loại y nào Ta nói được quyền
cất chứa? Nếu cất chứa y áo mà tăng trưởng pháp thiện,
suy thoái pháp ác bất thiện, y áo như vậy Ta nói được quyền
cất chứa”. Cũng như y áo, về uống ăn, giường chõng, thôn
ấp cũng giống như vậy.
“Ta
nói không được quen thân tất cả mọi người, nhưng cũng
nói được quen thân tất cả mọi người. Người thế nào
mà Ta nói không được quen thân? Nếu quen thân người mà tăng
trưởng pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện, người như
vậy Ta nói không được quen thân. Người thế nào mà Ta nói
được quyền quen thân? Nếu quen thân người, liền tăng trưởng
pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện, người như vậy
Ta nói được quyền quen thân.
“Vị
ấy biết đúng như thật pháp nên tập hành, cũng biết đúng
như thật pháp không nên tập hành. Vị ấy biết đúng như
thật pháp nên tập hành và pháp không nên tập hành rồi,
pháp không nên tập hành thì không tập hành, pháp nên tập
hành liền tập hành. Vị ấy không tập hành pháp không nên
tập hành, tập hành pháp nên tập hành rồi, liền tăng trưởng
pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện.
“Như
vậy gọi là Tỳ-kheo khéo tự quán tâm, khéo tự biết tâm,
khéo thủ, khéo xả”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli, A. 10. 51 Sacitta.
[2]
Đa hành tăng tứ 多行增伺.
Pāli: abhijjahlū bahulaṃ viharāmi, ta sống nhiều tham lam chăng?
[3]
Thân tránh 身諍.
Pāli: sāraddhakāyo, cử chỉ thô bạo, nóng nảy.