109.
KINH TỰ QUÁN TÂM (I)[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo không thiện xảo quán tâm người khác, hãy thiện
xảo tự quán sát tâm của chính mình. Nên học như vậy.
“Thế
nào gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm[2]?
Tỳ-kheo nếu có quán này, chắc chắn được nhiều lợi ích.
‘Phải chăng ta được chỉ của nội tâm[3],
nhưng chưa được quán pháp bằng tối thượng tuệ[4]?
Phải chăng ta được quán pháp tối thượng tuệ, nhưng chưa
được chỉ nội tâm? Phải chăng ta chưa được chỉ nội
tâm, cũng chưa được quán pháp tối thượng tuệ? Phải chăng
ta được chỉ nội tâm, cũng được quán pháp tối thượng
tuệ?”
“Nếu
Tỳ-kheo sau khi quán, liền biết rằng: ‘Ta được chỉ nội
tâm, chưa được quán pháp tối thượng tuệ’. Tỳ-kheo ấy
được chỉ nội tâm rồi, hãy nên mong cầu quán pháp tối
thượng tuệ. Vị ấy sau đó được chỉ nội tâm và cũng
được quán pháp tối thượng tuệ.
“Nếu
Tỳ-kheo sau khi quán liền biết rằng: ‘Ta được quán pháp
tối thượng tuệ, chưa được chỉ nội tâm’. Tỳ-kheo ấy
trụ nơi quán pháp tối thượng tuệ rồi, hãy nên mong cầu
nội chỉ tâm tĩnh chỉ. Vị ấy sau đó được quán pháp tối
thượng tuệ và cũng được chỉ nội tâm.
“Nếu
Tỳ-kheo sau khi quán liền biết rằng: ‘Ta chưa được chỉ
nội tâm cũng chưa được tối thượng tuệ’. Như vậy Tỳ-kheo
chưa được pháp thiện này; vì muốn được nên phải nhanh
chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh cần, chánh niệm,
chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị thoái chuyển. Ví như
người bị lửa đốt cháy đầu, đốt cháy áo, phải nhanh
chóng tìm cầu phương tiện cứu đầu, cứu áo. Cũng vậy,
Tỳ-kheo chưa được pháp thiện này, vì muốn được nên phải
nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập tinh cần, chánh
niệm chánh trí, đừng để bị thoái chuyển. Vị ấy sau đó
liền được chỉ nội tâm và cũng được quán pháp tối thượng
tuệ.
“Nếu
Tỳ-kheo sau khi quán tâm, liền biết rằng: ‘Ta được chỉ
nội tâm, cũng được quán pháp tối thượng tuệ’. Tỳ-kheo
ấy tạm trú nơi pháp thiện này rồi, hãy nên mong cầu tự
thân chứng ngộ Lậu tận trí thông[5].
Vì sao vậy? Ta nói, ‘Không được cất chứa tất cả y, nhưng
cũng nói được phép cất chứa tất cả y[6]’.
“Loại
y nào mà Ta nói không được cất chứa? Nếu cất chứa y mà
tăng trưởng pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện, loại
y như vậy, Ta nói không được cất chứa.
“Loại
y nào Ta nói được phép cất chứa? Nếu cất chứa y mà tăng
trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện, loại y như
vậy Ta nói được phép cất chứa”. Cũng như y áo, về uống
ăn, giường chõng, thôn ấp, cũng giống như vậy.
“Ta
nói, không được quen thân tất cả mọi người, nhưng cũng
nói được phép quen thân tất cả mọi người[7].
“Loại
người nào Ta nói không được quen thân? Nếu quen thân người
mà tăng trưởng pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện;
người như vậy Ta thuyết giảng không được quen thân.
“Loại
người nào Ta nói được phép quen thân? Nếu quen thân người
mà tăng trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện;
người như vậy Ta nói được phép quen thân.
“Vị
ấy biết đúng như thật pháp nên tập hành, cũng biết đúng
như thật pháp không nên tập hành[8].
Vị ấy biết đúng như thật pháp nên tập hành, pháp không
nên tập hành rồi, với pháp không nên tập hành thì không
tập hành, với pháp nên tập liền tập hành. Vị ấy không
tập hành pháp không nên tập hành, tập hành pháp nên tập
hành rồi liền tăng trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác
bất thiện.
“Như
vậy gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm, khéo biết tự
tâm, khéo thủ, khéo xả”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli, A. 10. 54 Samatha.
[2]
Thiện tự quán tâm 善自觀心.
Pāli: sacittapariyāyakusala.
[3]
Nội chỉ 內止;
đây nói về chỉ quán pháp môn. Pāli: ajjhattacetosamatha.
[4]
Tối thượng tuệ quán pháp 最上慧觀法;
được chỉ (samtha) nhưng chưa được quán (vipassana). Pāli:
adhipaññā-dhammavipassana, sự quán chiếu pháp bằng tuệ tăng
thượng.
[5]
Lậu tận trí thông tác chứng 漏盡智通作證.
Pāli: āsavānaṃ khayāya yo karaṇīyo, nỗ lực dứt sạch các
lậu.
[6]
Pāli: cīvarampāhaṃ bhikkhave duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī ti,
Y, Ta nói có hai loại: nên sử dụng và không nên sử
dụng.
[7]
Hiệp tập nhất thiết nhân 狎習一切.
Pāli: puggalampāham bhikkhave duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī
ti, người, Ta nói có hai loại: đáng thân cận và không đáng
thân cận.
[8]
Tập pháp bất khả tập pháp 習法不可習法.
Pāli: sevitabba, asevitabba: nên thân cận và không nên thân cận,
nên sử dụng và không nên sử dụng, nên phục vụ và không
nên phục vụ.