102.
KINH NIỆM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Thuở
xưa, khi chưa chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh tận, Ta
nghĩ rằng: ‘Ta hãy chia các suy niệm[2]
làm hai phần, niệm dục, niệm nhuế, niệm hại[3]
làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại,
làm một phần khác[4].’
“Sau
đó, Ta liền chia các niệm làm hai phần, niệm dục, niệm
nhuế, niệm hại, làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô nhuế,
niệm vô hại, làm một phần khác.
“Ta
thực hành như vầây. Sống viễn ly, cô độc, tâm không phóng
dật, tu hành tinh tấn. Nếu sanh niệm dục, Ta liền biết là
đang sanh niệm dục, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt
trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn.
Biết rằng, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí
tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó liền
tiêu diệt nhanh chóng.
“Nếu
lại sanh niệm nhuế, niệm hại, Ta liền biết là đang sanh
niệm nhuế, niệm hại, hại mình, hại người, hại cả hai,
diệt trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn.
Biết rằng, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí
tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó liền
được tiêu diệt nhanh chóng.
“Khi
sanh niệm dục, Ta không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ,
tống khứ; sanh niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận,
mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy
rằng, nhân nơi đó mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện.
Ví như vào tháng cuối xuân, vì đã trồng lúa nên đất thả
bò không được rộng. Người chăn bò thả bò nơi đầm ruộng,
bò vào đất người, nó liền cầm roi đến ngăn lại. Vì
sao vậy? Vì người chăn bò biết rằng nhân nơi đó mà có
lỗi lầm là sẽ bị chửi, bị đánh, bị trói. Do đó, chăn
bò cầm roi đến ngăn lại. Ta cũng như vậy, sanh niệm dục,
không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ. Sanh
niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn trừ,
loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy nhân nơi đó
mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện.
“Tỳ-kheo
tùy theo sự tư duy, tùy theo sự suy niệm của mình mà tâm
sanh ham thích trong đó.[5]
“Nếu
Tỳ-kheo tư niệm quá nhiều về dục, tất sẽ bỏ niệm vô
dục; vì tư niệm nhiều về dục cho nên tâm sanh ham thích
trong đó. Nếu Tỳ-kheo tư niệm quá nhiều về niệm nhuế,
niệm hại, tất sẽ xả bỏ niệm vô nhuế và niệm vô hại.
Vì tư niệm quá nhiều về niệm nhuế và niệm hại nên tâm
sanh ham thích trong đó. Tỳ-kheo như vậy, nếu không lìa được
dục, không lìa được niệm nhuế và niệm hại, sẽ không
thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu, khóc lóc, cũng
không thể xa lìa khỏi tất cả mọi sự khổ.
“Ta
thực hành như vậy. Sống viễn ly, cô độc, tâm không phóng
dật, tu hành tinh tấn. Nếu sanh niệm vô dục, Ta biết liền
là đang sanh niệm vô dục, không hại mình, không hại người,
không hại cả hai, tu trí tuệ, không phiền nhọc mà chứng
đắc Niết-bàn. Biết rằng, không hại mình, không hại người,
không hại cả hai, tu trí tuệ không phiền nhọc mà chứng
đắc Niết-bàn, liền được tu tập nhanh chóng và rộng rãi.
Nếu lại sanh niệm vô nhuế, niệm vô hại, Ta liền biết
là đang sanh niệm vô nhuế, niệm vô hại, sẽ không hại mình,
không hại người, không hại cả hai, tu trí tuệ không phiền
nhọc mà chứng đắc Niết-bàn. Biết rằng, không hại mình,
không hại người, không hại cả hai, tu trí tuệ không phiền
nhọc mà chứng đắc Niết-bàn, liền được tu tập nhanh chóng
và rộng rãi.
“Ta
sanh niệm vô dục, và tư niệm nhiều. Sanh niệm vô nhuế,
niệm vô hại, và tư niệm nhiều. Ta lại suy nghĩ như vầy:
‘Nếu tư niệm quá nhiều thì thân mệt[6],
mất hỷ, tâm liền bị tổn hại. Ta hãy đối trị nội tâm,
khiến thường an trú bên trong, tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc
định để tâm không bị tổn hại’. Sau đó, Ta liền đối
trị nội tâm, khiến thường an trú bên trong, tĩnh chỉ, chuyên
nhất, đắc định mà tâm không bị tổn hại.
“Ta
đã sanh khởi niệm vô dục, rồi lại sanh khởi suy niệm về
hướng pháp, thứ pháp[7],
sanh khởi niệm vô nhuế, niệm vô hại, rồi lại cũng sanh
khởi suy niệm về hướng pháp, thứ pháp. Vì sao vậy? Vì
Ta không thấy nhân nơi đó mà sanh vô lượng pháp ác bất
thiện. Ví như vào tháng cuối thu, đã gặt hết lúa, khi đó
đứa chăn bò thả bò nơi đồng ruộng mà nghĩ rằng: ‘Bò
ta ở trong bầy’. Vì sao vậy? Vì đứa chăn bò không thấy
rằng nhân nơi đó mà có lỗi lầm là sẽ bị chửi, bị đánh,
bị trói. Do đó đứa chăn bò nghĩ ‘Bò ta ở trong bầy’
và không thấy rằng nhân nơi đó mà có lỗi lầm là sẽ bị
chửi, bị đánh, bị trói, có mất mát. Ta cũng như vậy, sanh
niệm vô dục rồi lại sanh niệm hướng pháp, thứ pháp, sanh
niệm vô nhuế, niệm vô hại, rồi lại cũng sanh niệm hướng
pháp, thứ pháp. Vì sao vậy? Vì Ta không thấy nhân nơi đó
mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện.
“Tỳ-kheo
tùy sự tư duy, tùy sự suy niệm mà tâm ham thích trong đó.
Nếu Tỳ-kheo tư niệm nhiều về niệm vô dục thì sẽ xả
bỏ niệm dục; vì tư niệm nhiều về niệm vô dục nên tâm
ham thích trong đó. Nếu Tỳ-kheo tư niệm nhiều về niệm vô
nhuế, niệm vô hại thì sẽ xả bỏ niệm nhuế, niệm hại
vì tư niệm nhiều về niệm vô nhuế, niệm vô hại nên ham
thích trong đó. Tỳ-kheo giác quán[8]
đã dứt, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, định
sanh hỷ lạc, chứng đệ Nhị thiền, thành tựu và an trụ.
Tỳ-kheo đó ly hỷ dục, an trú xả, vô cầu, chánh niệm chánh
trí mà thân cảm giác lạc, điều mà bậc Thánh gọi là Thánh
xả, niệm, an trú lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thành tựu
an trụ. Tỳ-kheo diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã
có, rồi thì không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng
đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ.
“Như
vậy, Tỳ-kheo định tâm, thanh tịnh, không ô uế, không phiền
não, nhu nhuyến, khéo an trụ, chứng đắc tâm bất động,
hướng đến quả vị lậu tận, tự thân chứng ngộ trí thông,
liền biết như thật rằng ‘Đây là Khổ’, ‘Đây là Khổ
tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt đạo’.
Cũng biết như thật đây là lậu diệt và đây là lậu diệt
đạo. Tỳ-kheo đã biết như vậy, thấy như vậy rồi thì
tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh
lậu. Giải thoát rồi biết mình đã giải thoát, biết đúng
như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững,
điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
“Khi
Tỳ-kheo này đã lìa niệm dục, lìa niệm nhuế, lìa niệm
hại thì được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, buồn
lo, khóc lóc, lìa tất cả khổ. Ví như ở một khu rừng có
suối nước lớn, có bầy nai nọ đến đó rong chơi. Có một
người đến, không muốn vì sự lợi ích phước lành cho bầy
nai đó, vì không muốn sự an ổn khoái lạc cho chúng, liền
bít con đường chánh, mở con đường hiểm, đào hầm hố
lớn rồi cho người coi giữ. Như vậy là tất cả bầy nai
đều bị chết hết. Lại có một người khác đến, muốn
cho bầy nai kia được lợi ích phước lành, được an ổn
khoái lạc, liền mở con đường chánh, bít lấp con đường
hiểm, đuổi người coi giữ. Như vậy, bầy nai được cứu
thoát an ổn.
“Này
các Tỳ-kheo, nên biết Ta nói ví dụ này là muốn để các
ngươi biết rõ ý nghĩa, người trí tuệ nghe ví dụ này sẽ
hiểu rõ ý thú. Ví dụ đó có nghĩa như vầy. Suối nước
lớn là năm dục, ái niệm, hoan lạc. Những gì là năm? Sắc
được biết bởi mắt, tiếng được biết bởi tai, hương
được biết bởi mũi, lưỡi vị được biết bởi lưỡi
và xúc được biết bởi thân. Suối nước lớn nên biết
đó là năm thứ dục lạc. Bầy nai, nên biết đó là Sa-môn,
Phạm chí. Người đi đến không muốn cho bầy nai kia được
lợi ích và phước lành, được an ổn khoái lạc, nên biết
đó là ma Ba-tuần. Bít con đường chánh, mở một đường
hiểm, đó là ba niệm ác bất thiện, niệm dục, niệm nhuế
và niệm hại. Đường hiểm, nên biết đó là niệm ác bất
thiện. Lại có con đường hiểm, đó là tám tà đạo, tà
kiến và tà định. Đào hầm lớùn, nên biết đó là vô minh.
Người coi giữ, nên biết đó là quyến thuộc của ma Ba-tuần.
Còn người đi đến, muốn cho bầy nai được lợi ích và
phước lành, được an ổn khoái lạc, nên biết đó chính
là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Bít lấp con đường
hiểm, mở con đường chánh, đó là ba niệm thiện, niệm vô
dục, niệm vô nhuế và niệm vô hại. Đường chánh, nên biết
đó là ba niệm thiện. Lại còn có con đường chánh, đó là
bát chánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta đã mở con đường chánh, bít lấp con đường
hiểm, san bằng hầm hố, đuổi người coi giữ cho các ngươi
rồi. Ví như đấng Tôn sư thương yêu đệ tử, phát khởi
lòng đại từ đại bi, mong muốn cho được lợi ích và phước
lành, được an ổn khoái lạc. Điều đó Ta đã thực hiện
rồi, các ngươi cũng phải tự mình thực hiện. Hãy đến
chỗ vô sự, núi rừng, gốc cây, hoặc chỗ nào yên tĩnh mà
thiền tọa tư duy, chớ nên phóng dật. Hãy chuyên cần tinh
tấn, đừng để về sau phải hối hận. Đó là lời răn dạy
của Ta. Đó là lời khuyên bảo của Ta”.
Phật
thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan
hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli: M.19. Dvedhāvitakka-suttaṃ.
[2]
Niệm 念,
hoặc gọi là tầm, tức là chú tâm tìm bắt đối tượng
của tư duy. Cũng là một thiền chi, thuộc Sơ thiền, mà bản
Hán này thường dịch là: giác 覺.
Pāli: vitakka.
[3]
Dục niệm, nhuế niệm, hại niệm 欲恚害念,
ba bất thiện tầm. Pāli: tayo akusala-vitakkā, kāma-vitakko, vyāpāda-vitakko,
vihiṃsa-vitakko.
[4]
Ba thiện tầm. Pāli: tayo kusala-vitakkā.
[5]
Hán: 心便樂中;
tâm tiện lạc trung. Yaññadeva... Bahulam anuvitakketi anuvicāreti
tathā tathā nati hoti cetaso, tầm và tứ hướng nhiều về nơi
nào thì tâm cũng thiên hướng về nơi đó.
[6]
Để bản chép: thân định hỷ vong 身定喜亡;
Tống-Nguyên-Minh: thân chi hỷ vong 身之喜亡.
Có thể nhầm cả; nên sửa lại: thân phạp, hỷ vong 身乏喜亡.
Đối chiếu Pāli: aticiraṃ anuvitakkayato... kāyo kilameyya; kāye
kilante cittaṃ ūhañuñeyya: suy tầm quá lâu, thân có thể sinh
mệt. Khi thân mỏi mệt, tâm loạn động.
[7]
Hướng pháp thứ pháp 向法次法,
tức thực hành pháp tùy pháp; xem cht. kinh. Bản Pāli không
đề cập.
[8]
Giác quán, tức là tư và niệm đã nói trên.