101.
KINH TĂNG THƯỢNG TÂM[1]
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu
Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm[2],
cần phải thường xuyên suy niệm năm tướng. Thường xuyên
niệm năm tướng thì niệm bất thiện đã sanh liền được
trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm
được tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh[3].
“Năm
tướng[4]
đó là những gì? Tỳ-kheo suy niệm về một tướng tương
ưng thiện[5],
nếu sanh niệm bất thiện[6],
vị Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này lại suy niệm về một
tướng khác tương ưng với thiện, khiến niệm ác bất thiện
không sanh nữa. Khi vị Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này, lại
suy niệm về một tướng khác tương ưng với thiện thì niệm
bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi,
tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, được
định tĩnh.
“Cũng
như người thợ mộc hay học trò thợ mộc kéo thẳng dây
mực, búng lên thân cây rồi dùng rìu bén mà đẽo cho thẳng;
Tỳ-kheo cũng vậy, nhân nơi tướng này mà suy niệm một tướng
khác tương ưng với thiện, khiến niệm ác bất thiện không
sanh nữa. Khi Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này, lại suy niệm
một tướng khác tương ưng với thiện, niệm bất thiện đã
sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được
an trú, bên trong tĩnh chỉ chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo
muốn được tăng thượng tâm, cần phải luôn luôn suy niệm
tướng thứ nhất này. Do suy niệm tướng này, niệm bất thiện
đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường
an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng, tương ưng với
thiện, nếu sanh niệm bất thiện, Tỳ-kheo đó quán rằng:
“Suy niệm ác này có tai họa[7],
suy niệm này là bất thiện, suy niệm này là ám, suy niệm
này bị người trí ghét, suy niệm này nếu đầy đủ thì
không thể chứng đắc trí thông[8],
không chứng đắc giác đạo, không chứng đắc Niết-bàn,
vì nó khiến sanh niệm ác bất thiện’. Vị Tỳ-kheo đó quán
sự ác như vậy, niệm bất thiện sanh khởi liền bị trừ
diệt. Niệm ác diệt rồi liền tâm thường an trú, nội tâm
tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Như
có người thiếu niên đẹp trai, khả ái, tắm gội sạch sẽ,
mặc y phục đẹp đẽ, lấy hương xoa khắp thân, cạo sửa
râu tóc khiến rất tinh khiết. Nếu lấy xác rắn, xác chó,
hoặc xác người đã thâm xanh, sình chướng, thối rữa, chảy
nước dơ, đeo tròng vào cổ người ấy, người ấy liền
ghét sự dơ bẩn nên không hỷ, không lạc. Tỳ-kheo cũng vậy,
Tỳ-kheo quán rằng ‘Niệm ác này có tai họa, niệm này không
thiện, niệm này là ác, niệm này người trí ghét. Nếu đầy
đủ niệm này thì không thể chứng đắc trí thông, không
chứng đắc giác đạo, không chứng đắc Niết-bàn vì nó
khiến sanh niệm ác bất thiện’. Tỳ-kheo đã quán sự ác
như vậy, niệm bất thiện đã sanh liền trừ diệt. Niệm
ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên
nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng
tâm, cần phải luôn luôn niệm tướng thứ hai này. Khi niệm
về tướng này thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ
diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh
chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với
thiện mà sanh niệm bất thiện, và khi quán niệm ác có tai
họa mà lại sanh niệm bất thiện nữa, Tỳ-kheo đó không
nên suy niệm về niệm này, vì nó khiến sanh niệm ác bất
thiện. Tỳ-kheo đó không suy niệm về niệm này nữa thì niệm
bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt
rồi, tâm thường an trụ, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất,
đắc định.
“Như
người có mắt, cảnh sắc nằm trong ánh sáng nhưng không muốn
nhìn. Người đó hoặc nhắm mắt, hoặc lánh thân đi, ý các
ngươi nghĩ sao, cảnh sắc nằm trong ánh sáng, người đó có
thể cảm nhận được tướng dạng của sắc không?”
Đáp
rằng:
“Thưa
không.”
“Tỳ-kheo
cũng vậy, không nên suy niệm về niệm này, vì nó khiến sanh
niệm ác bất thiện. Khi vị Tỳ-kheo đó không suy niệm về
niệm này nữa, niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt.
Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ,
chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng
tâm, cần phải luôn luôn suy niệm tướng thứ ba này. Suy niệm
về tướng này thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ
diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh
chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với
thiện mà sanh niệm bất thiện, khi quán niệm ác có tai họa
cũng sanh niệm bất thiện, và trong khi không suy niệm về niệm
đó nữa cũng lại sanh niệm bất thiện; vị Tỳ-kheo đó vì
niệm này, phải dùng hành tướng của tư duy để giảm dần
niệm ấy[9],
khiến không sanh niệm ác bất thiện. Khi đối với niệm này,
Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng tư duy để giảm dần niệm
ấy thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm
ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên
nhất, đắc định.
“Như
có người đi đường, bước nhanh trên đường, người đó
nghĩ rằng: ‘Tại sao ta đi nhanh? Giờ ta hãy đi chậm được
chăng?’ Người đó liền đi chậm lại, nhưng rồi lại nghĩ:
‘Tại sao ta đi chậm mà chẳng đứng lại?’ Người đó
liền đứng lại, nhưng rồi lại nghĩ: ‘Tại sao ta lại đứng?
Ta ngồi xuống được chăng?’ Người đó liền ngồi xuống,
nhưng rồi lại nghĩ: ‘Tại sao ta lại ngồi? Ta nằm xuống
được chăng?’ Người đó liền nằm xuống. Như vậy là
người đó đang thực hành pháp đình chỉ dần dần hành tướng
thô của thân. Nên biết, Tỳ-kheo cũng giống như thế. Đối
với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng của tư
duy mà giảm dần niệm ấy để không sanh niệm ác bất thiện.
Khi đối với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng
của tư duy, giảm dần niệm ấy, thì niệm bất thiện đã
sanh liền bị trừ diệt, niệm ác diệt rồi, tâm liền được
an trú, bên trong tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu
Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải suy niệm
luôn luôn tướng thứ tư này. Suy niệm tướng này thì niệm
bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi,
tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc
định.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng, tương ưng với
thiện mà sanh niệm bất thiện, khi quán niệm ác có tai họa
mà cũng sanh niệm bất thiện, khi không suy niệm về niệm
ác cũng sanh tiếp niệm bất thiện, và khi phải dùng hành
tướng của tư duy để giảm dần niệm ấy, cũng lại sanh
tiếp về niệm bất thiện nữa; Tỳ-kheo đó nên quán như
vầy. Tỳ-kheo, vì nhân niệm này mà sanh niệm bất thiện,
Tỳ-kheo đó liền ngậm khít răng lại, lưỡi ấn lên khẩu
cái, dùng tâm để tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm[10],
khiến không niệm ác bất thiện.
“Khi
vị Tỳ-kheo đó dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục
tâm thì niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt.
Niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh
chỉ, chuyên nhất, đắc định. Như hai lực sĩ bắt một người
yếu, nắm vững và hàng phục nó, Tỳ-kheo cũng vậy, răng
ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm tu tâm,
giữ chặt tâm và hàng phục tâm để không sanh niệm ác bất
thiện. Khi vị Tỳ-kheo đó dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm
và hàng phục tâm thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ
diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, bên trong
tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được
tăng tượng tâm, cần phải luôn luôn suy niệm tướng thứ
năm này. Suy niệm tướng này thì niệm bất thiện đã sanh
liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được
an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Nếu
Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm thì cần phải luôn
luôn suy niệm năm tướng này. Luôn luôn suy niệm năm tướng
thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác
diệt rồi, tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên
nhất, đắc định.
“Nếu
Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với thiện
mà không sanh niệm ác, khi quán niệm ác có tai họa cũng không
sanh niệm ác, khi không suy niệm về niệm đó cũng không sanh
niệm ác, khi dùng hành tướng của tư duy để giảm dần niệm
ấy cũng không sanh niệm ác, và khi dùng tâm tu tâm, giữ chặt
tâm và hàng phục tâm cũng lại không sanh niệm ác nữa, thì
liền được tự tại, muốn suy niệm thì suy niệm, không suy
niệm thì không suy niệm.
Nếu
Tỳ-kheo muốn niệm thì niệm, không muốn niệm thì không niệm,
thì đó là Tỳ-kheo đã được tùy ý trong cái suy niệm, tự
tại trong các đạo tích suy niệm[11].
Đức
Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe Phật dạy
xong, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli, M. 20. Vitakkasanthānasuttaṃ.
[2]
Tăng thượng tâm 增上心.
Pāli: adhicittam.
[3]
Pāli: ajjhattam eva cittam santiṭṭhati sannisīdati ekodhi hoti samādhiyati.
[4]
Ngũ tướng 五相.
Pāli: pañca nimittāni.
[5]
Pāli: yaṃ nimittaṃ manasākaroto, khi tác ý nơi một tướng
(nào đó).
[6]
Pāli: upapajjanti pāpakā akusalā vitakkā chandūpasamhitāpi..., sanh
khởi những ác bất thiện tầm liên hệ đến dục...
[7]
Pāli: tesaṃ vitakkānaṃ ādīnavo uparikkhitabbo: itipime vitakkā
akusalā... sāvajjā... Dukkhavipākā ti, cần quán sát sự tai hại
của các tầm nay: tầm này là bất thiện, là bị chỉ trích,
là có kết quả khổ.
[8]
Thông 通,
chỉ thắng trí, tức lục thông.
[9]
Dĩ tư hành tiệm giảm kỳ niệm. Pāli: tesam vitakkānaṃ vitakkasaṅkhāra-saṇṭhānaṃ
manāsikaroto, tác ý đến tư thái và tác động của tầm đối
với các tầm ấy.
[10]
Pāli: cetasā cittaṃ abhiniggaṇhaitabbaṃ abhinippìletabbaṃ abhisantāpe-tabbaṃ,
bằng tâm mà khống chế tâm, trấn áp tâm, khuất phục tâm.
[11]
Tự tại chư niệm tích 自在諸念跡.
Pāli: bhikkhu vasī vitakkapariyāyapathesu, Tỳ-kheo ấy là người
tự chủ trên những con đường dẫn đến pháp chiêm nghiệm
(tầm pháp môn đạo).