100.
KINH KHỔ ẤM (II)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật đến Thích-ki-sấu, trú tại Ca-duy-la-vệ,
vườn Ni-câu-loại.[2]
Bấy
giờ Thích Ma-ha-nam[3],
sau bữa ăn trưa tìm đếm chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân
Ngài rồi ngồi qua một bên mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con biết Thế Tôn dạy pháp như vậy khiến tâm con
được diệt ba uế, nhiễm tâm uế, nhuế tâm uế và si tâm
uế[4].
Bạch Thế Tôn, con biết pháp ấy như vậy nhưng trong tâm con
lại sinh nhiễm pháp, nhuế pháp và si pháp. Bạch Thế Tôn,
con suy nghĩ như vầy, ‘Ta có pháp gì không bị diệt trừ,
khiến tâm ta lại sinh pháp nhiễm, pháp nhuế, pháp si?”
Thế
Tôn bảo:
“Này
Ma-ha-nam, ông có một pháp không bị diệt trừ, cho nên ông
sống tại gia, không chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình mà học đạo này. Ma-ha-nam, nếu ông diệt được
pháp đó, ông sẽ không sống tại gia mà chí tín, lìa bỏ
gia đình, sống không gia đình, học đạo. Bởi vì có một
pháp không bị diệt trừ mà ông sống tại gia, không chí tín,
lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo”.
Khi
ấy Thích Ma-ha-nam liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo
bày vai hữu, chắp tay hướng về Phật mà bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn nói pháp cho con nghe để tâm con được
thanh tịnh, trừ nghi, đắc đạo”.
Thế
Tôn nói:
“Ma-ha-nam,
có năm công đức của dục, đáng yêu, đáng mơ tưởng, đáng
vui thích, có liên hệ đến dục, khiến cho người khoái lạc.
Những gì là năm? Đó là, sắc được biết bởi mắt, âm
thanh được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị
được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Do đây
mà nhà vua và quyến thuộc của nhà vua được an lạc hoan
hỷ. Ma-ha-nam, vị ngọt của dục chỉ cùng cực đến đó
chứ không hơn nữa, nhưng tai họa của nó thì lại rất nhiều.
“Ma-ha-nam,
thế nào là tai họa của dục? “Ma-ha-nam, một thiện gia nam
tử, tùy kỹ thuật[5]
riêng mà tự mưu sinh; hoặc làm ruộng, hoặc buôn bán, hoặc
học sách, hoặc giỏi toán thuật, biết công số, khéo in khắc,
làm văn chương, tạo thủ bút, hoặc hiểu kinh thơ, hoặc làm
võ tướng, hoặc phụng sự vua. Người ấy khi gặp lạnh phải
chịu lạnh, gặp nóng phải chịu nóng, bị đói khát nhọc
mệt, bị muỗi mòng châm chích; nó phải làm nghề nghiệp
như thế để mong kiếm được tiền của. Thiện nam tử bằng
những phương tiện như thế, làm các công việc như vậy để
mong cầu như vậy, nếu không kiếm được tiền của thì sinh
khổ sở, lo buồn rầu rĩ, tâm thành si dại, nói rằng ‘Luống
công làm lụng khổ nhọc vô ích mà những điều mong cầu
không có kết quả’. Trái lại, thiện nam tử ấy bằng những
phương tiện như vậy để mong cầu như vậy, nếu kiếm được
tiền của nó sanh yêu quý, giữ gìn, chôn giấu. Vì sao vậy?
Nó nghĩ: ‘Tài vật này của ta, đừng để cho vua đoạt,
giặc cướp, lửa thiêu, hư hại, mất mát, hoặc xuất tài
mà vô lợi, hoặc làm việc mà không thành tựu’. Kẻ đó
giữ gìn, chôn giấu như vậy nhưng nếu rủi bị vua đoạt,
hoặc giặc cướp, lửa thiêu hư hại mất thì sinh khổ sở,
lo buồn rầu rĩ, tâm thành si ám, nói rằng: ‘Vật ta yêu
quý, nhớ nghĩ suốt đêm ngày, nay đã không còn’. Ma-ha-nam,
đó là những nỗi thống khổ ở đời này[6],
nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên mẹ tranh cãi với con, con tranh cãi với
mẹ, cha con, anh em, chị em, bà con dòng họ tranh cãi lẫn nhau.
Vì tranh cãi lẫn nhau như vậy nên mẹ nói xấu con, con nói
xấu mẹ. Cha con, anh em, chị em, bà con dòng họ nói xấu lẫn
nhau. Thân thích còn vậy, huống nữa là người dưng. Ma-ha-nam,
đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục,
duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên vua tranh giành với vua, Phạm chí tranh
giành với Phạm chí, Cư sĩ tranh giành với Cư sĩ, dân tranh
giành với dân, nước này tranh giành với nước nọ. Bởi
tranh giành nên thù nghịch nhau, rồi dùng đủ loại binh khí
để giết hại lẫn nhau, hoặc nắm tay thoi, ném đá, hoặc
dùng gậy đánh, dao chặt. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc
sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Ma-ha-nam, đó là những nỗi
thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy
dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên mang khôi giáp, khoác trường bào, cầm
giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi vào quân trận.
Hoặc đánh nhau bằng voi, hoặc ngựa, hoặc xe, hoặc dùng bộ
binh đánh nhau, hoặc cho trai gái đánh nhau. Trong khi giao đấu,
hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Ma-ha-nam,
đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục,
duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm
giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi tranh đoạt nước
người, công thành phá lũy, chống cự lẫn nhau, thúc trống
thổi kèn, lớn tiếng reo hò, hoặc dùng chày đập, hoặc dùng
mâu kích, hoặc dùng bánh xe bén, hoặc dùng tên bắn, hoặc
lăn đá kè, hoặc dùng nỏ lớn, hoặc rót nước đồng sôi
vào mắt. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ
cực trọng khổ. Ma-ha-nam, đó là những nỗi thống khổ ở
đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm
giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn vào xóm, vào ấp, vào
quốc gia, vào thành thị, đục vách phá kho, cướp đoạt tài
vật, chận đường giao thông, hoặc đến ngõ khác phá xóm
phá làng, phá thành diệt nước. Trong đó, hoặc người của
vua bắt được, đem khảo đủ cách; chặt tay, chặt chân,
hoặc chặt hết cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, hoặc cắt
cả tai mũi; hoặc lóc từng miếng thịt; bứt râu bứt tóc,
hoặc bứt cả râu tóc; hoặc nhốt vào trong cũi, quấn vải
hỏa thiêu, hoặc lấp trong cát, lấy cỏ quấn lại rồi đốt;
hoặc bỏ vô bụng lừa sắt, hoặc bỏ vô miệng heo sắt,
hoặc đặt vào miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vô vạc
đồng, hoặc bỏ vô vạc sắt rồi nấu; hoặc chặt ra từng
khúc, hoặc dùng xoa bén đâm, hoặc lấy móc sắt móc, hoặc
bắt nằm trên giường sắt rồi lấy dầu sôi rót, hoặc bắt
ngồi trong cối sắt rồi lấy chày sắt giã, hoặc cho rắn
rít mổ cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọt, hoặc
dùng dùi đánh, hoặc buộc sống treo trên nêu cao, hoặc chém
đầu rồi bêu. Trong các trường hợp đó, kẻ ấy hoặc chết,
hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Ma-ha-nam, đó là những
nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên thân làm ác, khẩu làm ác, ý làm ác.
Kẻ đó về sau bệnh tật liệt giường, hoặc ngồi hoặc
nằm trên đất, vì khổ bức thân, toàn thân cảm giác khổ
sở vô cùng, không còn đáng yêu thích. Kẻ đó vì lúc trước
thân làm ác, khẩu làm ác, ý làm ác nên khi sắp chết chúng
che ngay trước mắt giống như mặt trời lặn bóng sườn núi
lớn, che lấp mặt đất[7].
Cũng vậy, kẻ ấy bị những ác hành của thân, ác hành của
khẩu và của ý che lấp trước mắt, kẻ đó nghĩ rằng: ‘Ác
hành ta làm trước kia, bây giờ chúng che trước mắt ta. Trước
ta không tạo phước nghiệp mà tạo nhiều ác nghiệp. Giả
tỷ có ai chỉ làm ác, hung bạo, chỉ làm tội chứ không làm
phước, không hành thiện, khi sống không biết lo sợ, gần
chết không chỗ nương cậy, không chỗ quay về. Người ấy
thân sanh về cõi nào, ta cũng thác sinh về chỗ đó’. Do đó,
sanh hối hận, rồi do hối hận mà chết không an, chết không
được phước. Ma-ha-nam, đó là những nỗi thống khổ ở
đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, Ma-ha-nam, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục,
lấy dục làm gốc nên thân làm ác, khẩu và ý làm ác. Kẻ
đó vì thân làm ác, khẩu và ý làm ác nên nhân nơi đó, duyên
nơi đó mà khi thân hoại mạng chung phải đến chỗ ác, sanh
vào địa ngục. Ma-ha-nam, đó là những nỗi khổ ở đời
sau nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Ma-ha-nam,
Vì vậy nên biết, dục tuyệt đối không có lạc, chỉ có
vô lượng khổ hoạn. Đa văn Thánh đệ tử nếu không biết
đúng như thật, vị ấy bị dục phủ kín, không đạt được
an lạc do xả[8]
và vô thượng tịch tĩnh. Ma-ha-nam, Đa văn Thánh đệ tử như
vậy sẽ nhân nơi dục mà bị thoái chuyển.
“Ma-ha-nam,
Ta biết là dục không có lạc mà chỉ là vô lượng khổ hoạn.
Biết như thật rồi, Ma-ha-nam, Ta không bị dục phủ kín, cũng
không bị pháp ác quấn chặt. Vì vậy đạt được an lạc
do xả và vô thượng tịch tĩnh. Ma-ha-nam, vì vậy Ta không
nhân nơi dục mà bị thoái chuyển.
“Ma-ha-nam,
một thời, Ta sống tại thành Vương xá, trú trong động Tiên
nhân Thất diệp, ở trên núi Bệ-đa-la[9].
“Ma-ha-nam,
lúc bấy giờ vào lúc xế trưa, Ta từ chỗ ngồi đứng dậy,
đi đến Quảng sơn[10],
Ta thấy ở đó có nhiều người Ni-kiền đang tu hạnh không
ngồi, thường đứng mà không ngồi, chịu khổ cùng cực. Ta
bước đến hỏi: ‘Này các Ni-kiền! Vì sao các ông tu hạnh
không ngồi này, thường đứng không ngồi, chịu khổ như
vậy?’ Họ trả lời như vầy, ‘Này Cù-đàm, tôi có tôn
sư Ni-kiền tên là Thân tử. Ngài dạy tôi rằng: ‘Này các
Ni-kiền, đời trước ngươi nếu có nghiệp bất thiện, thì
nhờ khổ hạnh này ngươi sẽ được hết. Nếu nay giữ gìn
diệu hạnh của thân, giữ gìn diệu hạnh của khẩu, của
ý, thì sẽ do nhân đó, duyên đó mà không trở lại làm ác,
tạo nghiệp bất thiện’.’ “Ma-ha-nam, Ta hỏi lại rằng:
‘Này các Ni-kiền, các ông tin tưởng tôn sư, không hề nghi
ngờ gì cả chăng?’ Họ trả lời Ta, “Đúng vậy, Cù-đàm,
chúng tôi tin tưởng các đức tôn sư, không hề nghi ngờ gì
cả’. Ma-ha-nam, Ta lại hỏi: ‘Này Ni-kiền, nếu quả như
vậy thì tôn sư Ni-kiền của các ông trước kia đã tạo các
nghiệp ác bất thiện rất nặng, vị ấy vốn trước kia là
Ni-kiền rồi chết đi, nay sanh vào nhân gian, xuất gia làm Ni-kiền,
tu hạnh không ngồi, thường đứng không ngồi, chịu khổ
sở như vậy, cũng như bọn các ông và đệ tử các ông vậy’.
Họ lại nói với Ta: ‘Này Cù-đàm, lạc không nhân nơi lạc,
nhưng nhân nơi khổ mới có. Như sự lạc của vua Tần-bệ-sa-la[11]
thì Sa-môn Cù-đàm không bằng được’. Ta lại nói: ‘Các
ông si cuống, nói điều vô nghĩa. Tại sao? Các ông không khéo
léo, không hiểu biết gì cả. Mà khi không biết, nên các ông
nói, ‘Như sự lạc của vua Tần-bệ-sa-la thì Sa-môn Cù-đàm
không bằng được’. Này Ni-kiền, đáng lẽ các ông phải
hỏi như thế này: ‘Tần-bệ-sa-la và Sa-môn Cù-đàm, ai sung
sướng hơn?’ Này Ni-kiền, nếu như Ta nói rằng: ‘Sự lạc
của Ta hơn, vua Tần-bệ-sa-la không bằng,’ thì này Ni-kiền,
các ông có thể nói như vầy, ‘ Sự lạc của vua Tần-bệ-sa-la,
Sa-môn Cù-đàm không bằng’. Các Ni-kiền đó liền nói như
vầy, ‘Thưa Cù-đàm, nay chúng tôi muốn hỏi Cù-đàm, giữa
vua Tần-bệ-sa-la và Sa-môn Cù-đàm, ai sung sướng hơn?’ Ta
lại nói, ‘Này Ni-kiền, Ta nay hỏi ông, tùy theo sự hiểu
biết mà trả lời. Này Ni-kiền, ý ông nghĩ sao, vua Tần-bệ-sa-la
có đạt được sự tịch mặc vô ngôn như ý, nhân đó mà
được hoan hỷ, khoái lạc trong bảy ngày bảy đêm không?’
Ni-kiền đáp, ‘Không, thưa Cù-đàm’. Ta hỏi, ‘Thế có
được hoan hỷ, khoái lạc trong vòng sáu, năm, bốn, ba, hai
hay một ngày một đêm không?’ Ni-kiền đáp: ‘Không, thưa
Cù-đàm’. Ta lại hỏi, ‘Này Ni-kiền, Ta có đạt được
sự tịch mặc vô ngôn ý, nhân đó mà được hoan hỷ, khoái
lạc trong một ngày một đêm không?’ Ni-kiền đáp, ‘Được,
thưa Cù-đàm’. Ta hỏi, ‘Thế Ta có được hoan hỷ trong
vòng hai, ba, bốn, năm, sáu, cho đến bảy ngày bảy đêm không?’.
‘Được, thưa Cù-đàm’. Ta lại hỏi tiếp, ‘Này Ni-kiền,
ý các ông nghĩ sao, ai sung sướng hơn, vua Tần-bệ-sa-la hay
là Ta?’ Ni-kiền đáp, ‘Thưa Cù-đàm, như chúng tôi hiểu
theo sự trình bày của Sa-môn Cù-đàm thì Sa-môn Cù-đàm sung
sướng hơn, vua Tần-bệ-sa-la không bằng’.
“Ma-ha-nam,
vì vậy nên biết là nơi dục không có lạc, chỉ toàn là
khổ hoạn. Nếu Đa văn Thánh đệ tử không thấy như thật,
như vậy sẽ bị bao phủ bởi dục, bị quấn chặt bởi pháp
ác bất thiện, nên không đạt được an lạc của xả và
vô thượng tịch tĩnh. Ma-ha-nam, như vậy Đa văn Thánh đệ
tử kia nhân nơi dục mà bị thoái chuyển.
“Ma-ha-nam,
Ta biết là nơi dục không có lạc, chỉ toàn là vô lượng
khổ hoạn. Ta biết đúng như thật nên không bị dục ngăn
che, cũng không bị quấn chặt bởi pháp ác bất thiện. Vì
vậy đạt được an lạc của xả và vô thượng tịch tĩnh.
“Ma-ha-nam,
vì vậy Ta không nhân nơi dục mà bị thoái chuyển.
Phật
thuyết như vậy. Thích Ma-ha-nam và các Tỳ-kheo nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.14 Cūḷa-dukkhakkhandha-suttaṃ. Hán, biệt
dịch, No.55.
[2]
Xem các kinh 12, 180, 191. Pāli: sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ
nigrodhārāme.
[3]
Thích Ma-ha-nam 釋摩訶男.
Pāli: Sakka Mahānāma, con trai của Amitodana, anh em chú bác với
Phật, chứ không phải là một trong năm vị đệ tử đầu
tiên của Phật.
[4]
Nhiễm, nhuế, si tâm uế 染, 恚, 癡心穢.
Pāli: lobho, doso, moho citassa upakkileso, tham, sân, si là ô nhiễm
của tâm.
[5]
Đoạn này như kinh 99 trên, xem các cht. ở đó.
[6]
Xem cht.10, kinh 99.
[7]
Xem cht.11, kinh 99.
[8]
Đắc xả lạc 得捨樂.
[9]
Bệ-đa-la sơn Tiên nhân Thất diệp ốc 鞞哆羅山仙人七葉屋.
Có lẽ là hang Sattapaṇṇiguhā, dưới chân núi Vebhāra, địa
điểm này khác với bản Pāli là núi Gijjhakūṭa. cả hai đều
ở trong số năm ngọn núi quanh Rājagahā. No.54: Thiết-đề-ban-lãm-cù-hà,
có thể coi như dịch âm tương đương với Sattapaṇṇiguhā.
Bản Pāli: ... viharāmi gijjhakūṭe pabbate... saṃbahulā nigaṇṭhā
isigilipasse kāḷasilāyaṃ, Ta trú trên núi Gijjhakūṭa (Linh
thứu); có nhiều người Nigaṇṭha sống trong hang Hắc thạch,
sườn núi Tiên nhân. Bệ-đa-la sơn, Tiên nhân Thất diệp khốt.
[10]
Quảng sơn 廣山,
có lẽ là Vepulla, cao nhất trong năm ngọn núi quanh Rājagahā,
địa điểm này cũng khác trong bản Pāli: họ ở trong hang
Kaḷasilā trên sườn Isigili, No.54: Đọa-phu-lu, có thể
coi như dịch âm tương đương Vepulla.
[11]
Tần-bệ-sa-la 頻鞞娑羅.
Pāli: Bimbisāra, vua nướùc Magadha (Ma-kiệt-đà).