99.
KINH KHỔ ẤM (I)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng,
vườn Cấp cô độc.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo sau bữa ăn trưa, chưa có chút công việc
nên tập trung ngồi tại giảng đường. Lúc ấy, một số
đông những người Dị học, sau bữa cơm trưa loanh quanh tìm
đến chỗ các Tỳ-kheo, cùng nhau chào hỏi rồi ngồi một
bên, nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Này
chư Hiền, Sa-môn Cù-đàm chủ trương biến tri dục[2],
chủ trương biến tri sắc, chủ trương biến tri thọ[3].
Này chư Hiền, chúng tôi cũng chủ trương biến tri dục, chủ
trương biến tri trừ sắc, chủ trương biến tri thọ. Giữa
Sa-môn Cù-đàm và chúng tôi, giữa hai[4]
chủ trương biến tri[5]
ấy, có sự thù thắng nào, có những sai biệt nào?”
“Lúc
bấy giờ các Tỳ-kheo khi nghe những điều mà số đông những
người Dị học ấy nói, không biết thế nào là phải, thế
nào là trái, im lặng đứng dậy mà đi, đồng thời suy nghĩ
rằng: ‘Những điều như vậy, chúng ta phải do nơi Đức
Thế Tôn mới biết’.
Rồi
họ đi đến Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi một bên,
đem những điều đã bàn luận với số đông những người
Dị học ấy thuật lại với Đức Phật. Bấy giờ Đức Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Lúc
đó các ông nên hỏi số đông những người Dị học như
vầy, ‘Này chư Hiền, thế nào là vị ngọt của dục, thế
nào là tai họa của dục, thế nào là sự xuất yếu của
dục[6]?
Thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là tai họa của
sắc, thế nào là sự xuất yếu của sắc? Thế nào là vị
ngọt của thọ, thế nào là tai họa của thọ, thế nào là
sự xuất yếu của thọ?
“Này
các Tỳ-kheo, nếu các ông hỏi như vậy, sau khi nghe, họ sẽ
cật vấn lẫn nhau, nói quanh nói quẩn, nổi sân và cãi cọ
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, im lặng và rút lui. Vì sao
vậy? Vì Ta không thấy có những chư thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Phạm chí hay bất cứ ai khác ở trên đời này có thể biết
được nghĩa ấy để tuyên bố lên. Chỉ có Như Lai và đệ
tử của Như Lai, hoặc đệ tử nào đượïc nghe từ hai vị
này”.
Đức
Phật lại hỏi:
“Thế
nào là vị ngọt của dục? Đó là, nhân bởi năm công đức
của dục[7]
mà phát sanh lạc và hỷ. Vị ngọt của dục chỉ tột cùng
đến đó chứ không thể hơn nữa, nhưng tai họa của nó thì
rất nhiều.
“Thế
nào là tai họa của dục? Một thiện gia nam tử, tùy kỹ thuật[8]
riêng mà tự mưu sinh; hoặc làm ruộng, hoặc buôn bán, hoặc
học sách, hoặc giỏi toán thuật, biết công số, khéo in khắc,
làm văn chương, tạo thủ bút, hoặc hiểu kinh thơ, hoặc làm
võ tướng, hoặc phụng sự vua[9].
Người ấy khi gặp lạnh phải chịu lạnh, gặp nóng phải
chịu nóng, bị đói khát nhọc mệt, bị muỗi mòng châm chích;
nó phải làm nghề nghiệp như thế để mong kiếm được tiền
của. Thiện nam tử bằng những phương tiện như thế, làm
các công việc như vậy để mong cầu như vậy, nếu không
kiếm được tiền của thì sinh khổ sở, lo buồn rầu rĩ,
tâm thành si dại, nói rằng ‘Luống công làm lụng khổ nhọc
vô ích mà những điều mong cầu không có kết quả’. Trái
lại, thiện nam tử ấy bằng những phương tiện như vậy
để mong cầu như vậy, nếu kiếm được tiền của nó sanh
yêu quý, giữ gìn, chôn giấu. Vì sao vậy? Nó nghĩ: ‘Tài
vật này của ta, đừng để cho vua đoạt, giặc cướp, lửa
thiêu, hư hại, mất mát, hoặc xuất tài mà vô lợi, hoặc
làm việc mà không thành tựu’. Kẻ đó giữ gìn, chôn giấu
như vậy nhưng nếu rủi bị vua đoạt, hoặc giặc cướp,
lửa thiêu hư hại mất thì sinh khổ sở, lo buồn rầu rĩ,
tâm thành si ám, nói rằng: ‘Vật ta yêu quý, nhớ nghĩ suốt
đêm ngày, nay đã không còn’. Đó là những nỗi thống khổ
ở đời này[10],
nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên mẹ tranh cãi với con, con tranh cãi với mẹ, cha
con, anh em, chị em, bà con dòng họ tranh cãi lẫn nhau. Vì tranh
cãi lẫn nhau như vậy nên mẹ nói xấu con, con nói xấu mẹ.
Cha con, anh em, chị em, bà con dòng họ nói xấu lẫn nhau. Thân
thích còn vậy, huống nữa là người dưng. Đó là những nỗi
thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy
dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên vua tranh giành với vua, Phạm chí tranh giành với
Phạm chí, Cư sĩ tranh giành với Cư sĩ, dân tranh giành với
dân, nước này tranh giành với nước nọ. Bởi tranh giành
nên thù nghịch nhau, rồi dùng đủ loại binh khí để giết
hại lẫn nhau, hoặc nắm tay thoi, ném đá, hoặc dùng gậy
đánh, dao chặt. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi,
thọ cực trọng khổ. Đó là những nỗi thống khổ ở đời
này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên mang khôi giáp, khoác trường bào, cầm giáo mác,
cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi vào quân trận. Hoặc đánh
nhau bằng voi, hoặc ngựa, hoặc xe, hoặc dùng bộ binh đánh
nhau, hoặc cho trai gái đánh nhau. Trong khi giao đấu, hoặc chết,
hoặc sợ hãi, thọ cực trong khổ. Đó là những nỗi thống
khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm giáo mác,
cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi tranh đoạt nước người,
công thành phá lũy, chống cự lẫn nhau, thúc trống thổi kèn,
lớn tiếng reo hò, hoặc dùng chày đập, hoặc dùng mâu kích,
hoặc dùng bánh xe bén, hoặc dùng tên bắn, hoặc lăn đá kè,
hoặc dùng nỏ lớn, hoặc rót nước đồng sôi vào mắt. Trong
khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ.
Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục,
duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm giáo mác,
cung tên, hoặc cầm dao thuẫn vào xóm, vào ấp, vào quốc gia,
vào thành thị, đục vách phá kho, cướp đoạt tài vật, chận
đường giao thông, hoặc đến ngõ khác phá xóm phá làng, phá
thành diệt nước. Trong đó, hoặc người của vua bắt được,
đem khảo đủ cách; chặt tay, chặt chân, hoặc chặt hết
cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, hoặc cắt cả tai mũi; hoặc
lóc từng miếng thịt; bứt râu bứt tóc, hoặc bứt cả râu
tóc; hoặc nhốt vào trong cũi, quấn vải hỏa thiêu, hoặc
lấp trong cát, lấy cỏ quấn lại rồi đốt; hoặc bỏ vô
bụng lừa sắt, hoặc bỏ vô miệng heo sắt, hoặc đặt vào
miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vô vạc đồng, hoặc
bỏ vô vạc sắt rồi nấu; hoặc chặt ra từng khúc, hoặc
dùng xoa bén đâm, hoặc lấy móc sắt móc, hoặc bắt nằm
trên giường sắt rồi lấy dầu sôi rót, hoặc bắt ngồi
trong cối sắt rồi lấy chày sắt giã, hoặc cho rắn rít mổ
cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọt, hoặc dùng
dùi đánh, hoặc buộc sống treo trên nêu cao, hoặc chém đầu
rồi bêu. Trong các trường hợp đó, kẻ ấy hoặc chết, hoặc
sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Đó là những nỗi thống khổ
ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên thân làm ác, khẩu làm ác, ý làm ác. Kẻ đó
về sau bệnh tật liệt giường, hoặc ngồi hoặc nằm trên
đất, vì khổ bức thân, toàn thân cảm giác khổ sở vô cùng,
không còn đáng yêu thích. Kẻ đó vì lúc trước thân làm
ác, khẩu làm ác, ý làm ác nên khi sắp chết chúng che ngay
trước mắt giống như mặt trời lặn bóng sườn núi lớn,
che lấp mặt đất[11].
Cũng vậy, kẻ ấy bị những ác hành của thân, ác hành của
khẩu và của ý che lấp trước mắt, kẻ đó nghĩ rằng: ‘Ác
hành ta làm trước kia, bây giờ chúng che trước mắt ta. Trước
ta không tạo phước nghiệp mà tạo nhiều ác nghiệp. Giả
tỷ có ai chỉ làm ác, hung bạo, chỉ làm tội chứ không làm
phước, không hành thiện, khi sống không biết lo sợ, gần
chết không chỗ nương cậy, không chỗ quay về. Người ấy
thân sanh về cõi nào, ta cũng thác sinh về chỗ đó’. Do đó,
sanh hối hận, rồi do hối hận mà chết không an, chết không
được phước. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này
nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại
nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục
làm gốc nên thân làm ác, khẩu và ý làm ác. Kẻ đó vì thân
làm ác, khẩu và ý làm ác nên nhân nơi đó, duyên nơi đó
mà khi thân hoại mạng chung phải đến chỗ ác, sanh vào địa
ngục. Đó là những nỗi khổ ở đời sau nhân nơi dục, duyên
nơi dục, lấy dục làm gốc. Như vậy là tai họa của dục.
“Thế
nào là sự xuất yếu của dục? Nếu đoạn trừ dục, xả
ly dục, diệt tận dục, vượt qua khỏi dục mà thoát ly. Như
vậy gọi là sự xuất yếu của dục.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt
của dục, tai họa của dục, sự xuất yếu của dục, thì
không bao giờ có thể tự mình đoạn dục, huống nữa là
đoạn dục cho kẻ khác.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của dục,
tai họa của dục, sự xuất yếu của dục, thì không những
có thể tự mình đoạn dục mà có thể đoạn dục cho kẻ
khác.
“Thế
nào là vị ngọt của sắc? Giả sử có các thiếu nữ Sát-lợi,
Phạm chí, Cư sĩ hay Công sư đến tuổi mười bốn, mười
lăm, là lúc có sắc đẹp mỹ miều. Nhân nơi sắc đẹp đó,
duyên nơi sắc đẹp đó mà sanh lạc, sanh hỷ; vị ngọt của
sắc chỉ tột cùng đến đó chứ không hơn nữa. Nhưng tai
hại của sắc thì rất nhiều.
“Thế
nào là tai hại của sắc? Nếu thấy nàng ấy về sau trở
nên hết sức già yếu, đầu bạc, răng rụng, lưng còng, gối
rũ, chống gậy mà đi, tuổi trẻ đã tàn, mạng sống sắp
hết, thân thể run rẩy, các căn hư mòn. Ý các ngươi nghĩ
sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và sanh ra
tai họa chăng?
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại
nữa, nếu thấy nàng ấy bệnh tật liệt giường, ngồi nằm
trên đất, vì khổ bức thân, chịu khổ cùng cực, ý các
ngươi nghĩ sao, có phải sắc đẹp trước kia biến mất, sanh
ra tai họa chăng?”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại
nữa, nếu thấy xác nàng ấy đã chết từ một, hai ngày đến
sáu bảy ngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu
xé, hoặc đã được hỏa thiêu hay chôn lấp, đang bị mục
nát hư hoại. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước
đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy?”
“Lại
nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, hài cốt
xám xanh, mục nát quá nữa, xương vải trên đất. Ý các ngươi
nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và tai
họa sanh ra chăng?”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại
nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, xương rời
từng đốt, tản mác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương
đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương
cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi, ý các thầy nghĩ sao? Có
phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và tai họa sanh ra
chăng?”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại
nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, xương trắng
như vỏ ốc, xanh như lông chim câu, đỏ như màu máu, hư hoại,
mục nát. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước
kia đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy. Như vậy gọi là tai họa của sắc”.
“Thế
nào là sự xuất yếu của sắc? Nếu đoạn trừ sắc, xả
ly sắc, diệt tận sắc, vượt qua khỏi sắc mà thoát ly. Như
vậy gọi là sự xuất yếu của sắc.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt
của sắc, tai họa của sắc, sự xuất yếu của sắc, thì
không bao giờ có thể tự mình đoạn sắc, huống nữa là
đoạn sắc cho kẻ khác.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của sắc,
tai họa của sắc, sự xuất yếu của sắc thì không những
tự mình đoạn sắc, mà còn có thể đoạn sắc cho kẻ khác.
“Thế
nào là vị ngọt của thọ? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất
thiện, cho đến, thành tựu và an trụ nơi đệ Tứ thiền.
Bấy giờ, vị đó không nghĩ đến việc tự hại, cũng không
nghĩ đến sự hại người. Nếu không nghĩ đến hại, đó
là vị ngọt của cảm giác lạc. Vì sao vậy? Vì không nghĩ
đến sự làm hại thì thành tựu được cảm giác lạc ấy.
Như vậy gọi là vị ngọt của thọ.
“Thế
nào là tai họa của thọ? Thọ là pháp vô thường, pháp diệt.
Như vậy gọi là tai họa của thọ.
“Thế
nào là sự xuất yếu của thọ? Nếu đoạn trừ thọ, xả
ly thọ, diệt tận thọ, vượt qua thọ mà thoát ly. Như vậy
gọi là sự xuất ly của thọ.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt
của thọ, tai họa của thọ, xuất yếu của thọ thì không
bao giờ có thể tự mình đoạn thọ, huống nữa là đoạn
thọ cho kẻ khác.
“Nếu
Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của thọ,
tai họa của thọ, xuất yếu của thọ thì không những tự
mình có thể đoạn thọ, mà còn có thể đoạn thọ cho kẻ
khác”.
Phật
thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
Bản Hán, quyển 25. Tương đương Pāli: M.13, Mahā-dukkhakkhandha.
Hán, biệt dịch No.53, No.125 (21.9).
Nguyên Hán: biến tri dục 遍知欲,
biết thấu đáo về dục. Pāli: kāmānaṃ pariññaṃ.
Giác.
Bản Cao-li chép nhị 二;
các bản khác chép tam 三.
Các bản chép: nhị (tam) tri nhị (tam) đoạn, dư chữ
nhị (tam) thứ hai.
Dục vị, dục hoạn, dục xuất yếu 欲味欲患欲出要.
Pāli: kāmānaṃ assādo, kāmānaṃ ādīnavo, kāmānṃ nissaraṇaṃ,
vị ngọt, sự tai hại và thoát ly đối với các dục.
Ngũ dục công đức 五欲功德.
Pāli: pañca kāmaguṇā.
Hán: kỹ thuật 伎
(技) 述.
Pāli: sippaṭṭhanena, bằng công xảo xứ.
Các “kỹ thuật” theo bản. Hán: tác điền nghiệp, hành
trị sanh, minh toán thuật, tri công số, xảo khắc ấn, tác
văn chương, tạo thủ bút, hiểu kinh thư, tác dũng tướng,
phụng vương sự. Danh sách theo bản Pāli: yadi muddāya yadi gaṇanāya
yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi
issatthena yadi rājaporisena, hoặc bằng ấn toán (hay thuật khắc
ấn), bằng ám toán (tính trầm), mục toán (số học), canh
nông, thương mãi, mục súc (chăn bò), làm tên (chế tạo vũ
khí), và quan chức (phục vụ vua).
Hiện pháp khổ ấm 現法苦陰.
Pāli: sandiṭṭhiko dukkhakhando, khổ uẩn được chứng kiến.
No.53: “Lúc mặt trời sắp lặn, bóng mát đổ ngược xuống
giữa hai ngọn núi lớn”.