94.
KINH HẮC TỲ-KHEO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong Đông viên,
giảng đường Lộc mẫu. Hắc Tỳ-kheo[2],
con bà Lộc Mẫu, thường ưa tranh cãi, đi đến chỗ Phật.
Thế Tôn thấy Hắc Tỳ-kheo từ xa đi lại, nhân vì có Hắc
Tỳ-kheo nên Ngài nói với các Tỳ-kheo:
“Hoặc
có người thường ưa tranh cãi, không khen việc đình chỉ
tranh cãi. Nếu có người thường ưa tranh cãi, không khen việc
đình chỉ tranh cãi, thì đó là pháp không thể ái lạc, không
thể ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến
cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến
nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể
khiến được nhất ý[3],
không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người ác dục, không khen việc đình chỉ ác dục. Nếu
có người ác dục, không khen việc đình chỉ ác dục, thì
đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể
khiến ái niệm, không thể khiến kính trọng, không thể khiến
tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng
đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể
khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm rách
giới, ô uế giới và không khen việc trì giới. Nếu có người
phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm rách giới, ô
uế giới, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái
hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính
trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì,
không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được
nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người có sân triền, có phú kết, có bỏn sẻn, tật đố,
có dua siểm, dối trá, có vô tàm, vô quý, không khen tàm quý[4].
Nếu có người có sân triền, có phú kết, bỏn sẻn, tật
đố, có dua siểm, dối trá, có vô tàm, vô quý, không khen
tàm quý, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái
hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho
có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến
nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể
khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người không tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, không
khen sự tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh. Nếu có người
không tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, không khen sự tiếp
đãi các vị đồng phạm hạnh, thì đó là pháp không thể
ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không
thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không
thể khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn,
không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc
Niết-bàn.
“Hoặc
có người không quán các pháp, không khen việc quán các pháp.
Nếu có người không quán các pháp, không khen việc quán các
pháp, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ,
không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng,
không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không
thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được
nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người không tĩnh tọa[5],
không khen tĩnh tọa. Nếu có người không tĩnh tọa, không
khen tĩnh tọa, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể
ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến
cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến
nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể
khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Những
người như thế tuy nghĩ rằng: ‘Mong các vị đồng phạm
hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự ta’, nhưng các vị đồng
phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy.
Vì sao? Vì người ấy có vô lượng điều ác này. Nhân vì
người ấy có vô lượng điều ác này nên khiến cho các vị
đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính, lễ sự người
ấy.
“Cũng
như con ngựa dữ bị nhốt vào trong chuồng, tuy nó nghĩ rằng:
‘Mong người ta nhốt tôi ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức
uống tươi tốt và thích ngắm nghía tôi’, nhưng người ta
không nhốt nó ở chỗ an ổn, không cho nó đồ ăn thức uống
tốt tươi và không thích ngắm nghía nó. Vì sao? Vì con ngựa
ấy có sự dữ, nghĩa là vì nó hết sức thô tệ, không hiền
lành, nên khiến cho người ta không nhốt nó ở chỗ an ổn,
không cho đồ ăn thức uống tốt tươi và không thích ngắm
nghía nó. Cũng như vậy, người này dù nghĩ rằng ‘Mong các
vị đồng phạm hạnh cúng dường, cunh kính, lễ sự ta’,
nhưng các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung kính,
lễ sự người ấy. Vì sao? Vì người ấy có vô lượng điều
ác này. Nhân vì người ấy có vô lượng điều ác này nên
khiến cho các vị đồng phạm hạnh không cúng dường, cung
kính, lễ sự người ấy.
“Hoặc
có người không thích tranh cãi, khen ngợi việc đình chỉ
tranh cãi. Nếu có người không thích tranh cãi, khen ngợi việc
đình chỉ tranh cãi, thì đây là pháp khả lạc, khả ái, khả
hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có
thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp trì, có thể khiến
xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ý, có thể
khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người không ác dục, khen ngợi việc đình chỉ ác dục.
Nếu có người không ác dục, khen ngợi việc đình chỉ ác
dục, thì đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể
khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến
tu tập, có thể khiến nhiếp trì, có thể khiến xứng đáng
là Sa-môn, có thể khiến được nhất ý, có thể khiến chứng
đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người không phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới; không
làm rách giới, ô uế giới và khen ngợi việc trì giới. Nếu
có người không phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới; không
làm rách giới, ô uế giới và khen ngợi việc trì giới, thì
đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái
niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có
thể khiến nhiếp trì, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn,
có thể khiến được nhất ý, có thể khiến chứng đắc
Niết-bàn.
“Hoặc
có người không có sân triền, không phú kết, không bỏn sẻn,
tật đố, không dua siểm, dối trá, không vô tàm, không vô
quý và khen ngợi tàm quý. Nếu có người không có sân triền,
không phú kết, không bỏn sẻn, tật đố, không dua diểm,
dối trá, không vô tàm, không vô quý và khen ngợi tàm quý,
thì đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến
ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập,
có thể khiến nhiếp trì, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn,
có thể khiến được nhất ý, có thể khiến chứng đắc
Niết-bàn.
“Hoặc
có người có tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, khen ngợi
việc tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh. Nếu có người
tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, khen ngợi việc tiếp
đãi các vị đồng phạm hạnh, thì đây là pháp khả lạc,
khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến
kính trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp trì,
có thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được
nhất ý, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc
có người quán các pháp, khen ngợi việc quán các pháp. Nếu
có người quán các pháp, khen ngợi việc quán các pháp, thì
đây là pháp khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái
niệm, có thể khiến kính trọng, có thể khiến tu tập, có
thể khiến nhiếp trì, có thể khiến xứng đáng là Sa-môn,
có thể khiến được nhất ý, có thể khiến chứng đắc
Niết-bàn.
“Hoặc
có người tĩnh tọa, khen ngợi tĩnh tọa. Nếu có người tĩnh
tọa, khen ngợi tĩnh tọa, thì đây là pháp khả lạc, khả
ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính
trọng, có thể khiến tu tập, có thể khiến nhiếp trì, có
thể khiến xứng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất
ý, có thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Người
này tuy không nghĩ rằng: ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng
dường, cung kính, lễ sự nơi ta’, nhưng các vị đồng phạm
hạnh vẫn cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy. Vì sao?
Vì người ấy có vô lượng điều lành này. Nhân người ấy
có vô lượng điều lành này khiến cho các vị đồng phạm
hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy.
“Giống
như con ngựa hiền nhốt trong chuồng, tuy nó không nghĩ rằng:
‘Mong người ta nhốt tôi ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức
ống tốt tươi và thích ngắm nghía tôi’, nhưng người ta
vẫn nhốt nó ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức uống tốt tươi
và vẫn thích ngắm nghía nó. Vì sao? Bởi vì đó là con ngựa
lành, nghĩa là nó rất thuần thục, rất hiền lành, nên người
ta nhốt nó ở chỗ an ổn, cho đồ ăn thức uống tốt tươi
và thích ngắm nghía nó. Cũng như vậy, người này tuy không
nghĩ rằng ‘Mong các vị đồng phạm hạnh cúng dường, cung
kính, lễ sự nơi ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh vẫn
cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy”.
Phật
thuyết như vậy. Các vị Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết,
hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli A.10.87. Nappiya-sutta (Adhikaraṇa-sutta hay Kālaha-bhikkhu-sutta).
[2]
Hắc Tỳ-kheo 黑比丘.
Pāli: Kālaka-bhikkhu.
[3]
Nhất ý 一意.
Pāli: ekībhava, nhất thể, hiệp nhất.
[4]
Xem các kinh 90 và 93 trên.
[5]
Yến tọa 宴坐;
ngồi chỗ yên tĩnh, vắng vẻ. Pāli: patisallāno, độc cư,
nhàn tĩnh, ẩn dật.