88.
KINH CẦU PHÁP[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hóa nước Câu-tát-la[2]
cùng đại chúng Tỳ-kheo, qua đến phía Bắc làng Ngũ sa-la[3],
trong rừng Thi-nhiếp-hòa với hàng đại đệ tử Trưởng lão,
Thượng tôn, danh đức, như các ngài: Tôn giả Xá-lê Tử,
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-diếp, Tôn giả
Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Lệ-việt[4],
Tôn giả A-nan và các đại đệ tử Trưởng lão Thượng tôn
danh đức khác ngang hàng như vậy cũng có mặt tại làng Ngũ
sa-la. Tất cả đều ở gần bên cạnh ngôi nhà lá của Phật.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Các
ngươi nên thực hành sự cầu pháp[5],
đừng thực hành sự cầu ẩm thực. Vì sao? Vì Ta thương tưởng
các đệ tử, muốn các đệ tử nên thực hành sự cầu pháp,
chứ không thực hành sự cầu ẩm thực. Nếu các ngươi thực
hành cầu ẩm thực, không thực hành sự cầu pháp, không những
các ngươi tự xấu xa, mà Ta cũng không được danh dự gì.
Nếu các thầy thực hành sự cầu pháp, chứ không thực hành
sự cầu ẩm thực, không những các thầy đã tự tốt đẹp
mà Ta cũng được danh dự.
“Thế
nào là các đệ tử vì cầu ẩm thực mà theo Phật tu hành,
chứ không phải vì cầu pháp? Sau khi Ta ăn no, bữa ăn đã
xong, còn lại đồ ăn dư; sau đó có hai Tỳ-kheo đến, đói
khát, sức lực hao mòn, Ta nói với họ rằng: ‘Sau khi Ta ăn
no, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư, các ngươi muốn
ăn thì lấy mà ăn. Nếu các ngươi không lấy thì Ta sẽ mang
đổ nơi đất sạch, hoặc đổ trong nước không có trùng’.
“Trong
hai người ấy, Tỳ-kheo thứ nhất suy nghĩ như vầy, ‘Đức
Thế Tôn ăn rồi, bữa ăn đã xong, còn lại đồ ăn dư, nếu
ta không lấy tất nhiên Đức Thế Tôn sẽ mang đổ nơi đất
sạch, hoặc trong nước không có trùng. Vậy ta hãy lấy mà
ăn’. Tỳ-kheo ấy liền lấy mà ăn. Tuy được một ngày một
đêm an ổn khoái lạc, nhưng vì Tỳ-kheo ấy nhận lấy đồ
ăn dư đó nên không vừa ý Phật[6].
Vì sao? Vì Tỳ-kheo đó nhận lấy đồ ăn đó nên không thể
thiểu dục, không thể tri túc, không thể dễ nuôi, không thể
dễ thỏa mãn, không thể biết thời, không thể biết tiết
độ, không thể tinh tấn, không thể tĩnh tọa, không thể
có tịnh hạnh, không thể sống viễn ly, không được nhất
tâm, không được tinh cần, cũng không thể chứng đắc Niết-bàn.
Vì vậy, do bởùi Tỳ-kheo nhận lấy đồ ăn dư mà không vừa
ý Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu ẩm thực
mà theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu pháp.
“Thế
nào là các đệ tử thực hành sự cầu pháp, chứ không thực
hành cầu ẩm thực? Trong hai người ấy, Tỳ-kheo thứ hai suy
nghĩ như vầy, ‘Đức Thế Tôn ăn rồi, bữa ăn đã xong,
còn lại đồ ăn dư. Nếu ta không lấy thì tất nhiên Đức
Thế Tôn sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc trong nước không
có trùng. Nhưng Đức Thế Tôn có dạy rằng: ‘Điều thấp
kém nhất trong việc ăn uống là ăn đồ ăn dư[7].’
Vậy ta không nên nhận lấy đồ ăn đó’. Nghĩ như thế rồi,
Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn. Tỳ-kheo kia không nhận
lấy đồ ăn đó, tuy suốt một ngày một đêm khổ sở, không
được an ổn, nhưng nhân vì Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ
ăn đó nên được vừa lòng Phật. Vì sao? Tỳ-kheo ấy do bởi
không nhận lấy đồ ăn dư nên được sự thiểu dục, được
sự tri túc, được sự sống dễ nuôi, dễ thỏa mãn, biết
thời, có tiết độ, có tinh tấn, có thể tĩnh tọa, có tịnh
hạnh, có thể sống viễn ly, được nhất tâm, được tinh
cần và cũng có thể chứng đắc Niết-bàn. Cho nên, do bởi
Tỳ-kheo ấy không nhận lấy đồ ăn này mà được vừa lòng
Phật. Như thế, gọi là các đệ tử vì cầu pháp mà theo
Phật tu hành, chứ không phải vì cầu ẩm thực”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn nói với các đệ tử:
“Nếu
một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử
hàng trưởng thượng của vị ấy không thích đời sống viễn
ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi người, không
mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì thương
xót thế gian, cũng không phải là mong sự thiện lợi, mong
cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người.
“Nếu
một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử
bậc trung và bậc hạ của vị ấy không thích đời sống
viễn ly, thì pháp luật đó không ích gì cho mọi người, không
mang lại an lạc cho mọi người, không phải là vì thương
xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự thiện lợi
và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời, loài
người.
“Nếu
một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử
hàng trưởng thượng của vị ấy cũng thích đời sống viễn
ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc
cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện
lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời
và loài người.
“Nếu
một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, đệ tử bậc
trung và bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viễn
ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc
cho mọi người, là bậc thương xót thế gian, mong cầu sự
thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho trời,
người”.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử cũng hiện diện trong chúng. Đức
Thế Tôn bảo Tôn giả rằng:
“Xá-lê
Tử, thầy hãy nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo nghe. Ta bị
đau lưng, nay Ta muốn nghỉ một lát”.
Tôn
giả Xá-lê Tử liền vâng lãnh lời Phật:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn”.
Rồi
Đức Thế Tôn gấp tư y Ưu-đa-la-tăng trải trên giường,
cuộn y Tăng-già-lê làm gối, nằm nghiêng hông bên phải, hai
chân chồng lên nhau, khởi quang minh tưởng[8],
chánh niệm, chánh trí và chuyên niệm về dục khởi tưởng[9].
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo:
“Này
chư Hiền, nên biết, Đức Thế Tôn vừa nói pháp sơ lược
rằng: ‘Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn
ly mà đệ tử hàng trưởng thượng của vị ấy không thích
đời sống viễn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho
mọi người, không mang lại an ạc cho mọi người, không phải
là vì thương xót thế gian, không phải là mong cầu thiện
lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời,
loài người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn
ly mà đệ tử bậc trung và hạ của vị ấy không thích đời
sống viễn ly, thì pháp luật đó không có ích gì cho mọi
người, không mang lại an lạc cho mọi người, không phải
là vì thương xót thế gian, cũng không phải là mong cầu sự
thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài
trời, loài người. Nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an
trú viễn ly và đệ tử hàng trưởng thượng của vị ấy
cũng thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho
mọi người, mang lại an lạc cho mọi người, là vì thương
xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu
an ổn khoái lạc cho loài trời, loài người. Nếu một Tôn
sư có pháp luật, thích an trú viễn ly, đệ tử bậc trung
và bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viễn ly, thì
pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại sự an lạc
cho mọi người, là vì thương xót thế gian, mong cầu sự thiện
lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời,
loài người’.
“Nhưng
Đức Thế Tôn nói pháp này hết sức sơ lược, các thầy
thấu hiểu nghĩa đó như thế nào và phân biệt rộng rãi
như thế nào?”
Bấy
giờ trong chúng, hoặc có Tỳ-kheo nói như thế này:
“Bạch
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu các Trưởng lão Thượng tôn tuyên
bố rằng ‘Ta đã chứng đắc cứu cánh trí, biết một cách
như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững,
điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’, thì
các vị phạm hạnh khi nghe vị Tỳ-kheo tự tuyên bố ‘Ta
đã chứng đắc cứu cánh trí’, bèn được hoan hỷ”.
Lại
có Tỳ-kheo nói như thế này:
“Bạch
Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có đệ tử bậc trung, bậc hạ có
ước nguyện vô thượng Niết-bàn, các người phạm hạnh
thấy vị Tỳ-kheo kia đã thực hành theo, nên được hoan hỷ.”
Như
vậy, các Tỳ-kheo ấy giải thích ý nghĩa đó như vậy mà
không hài lòng Tôn giả Xá-lê Tử.
Tôn
giả Xá-lê Tử nói với các thầy Tỳ-kheo ấy rằng:
“Này
chư Hiền, hãy lắng nghe, tôi sẽ giải thích cho các thầy.
“Này
chư Hiền, nếu một Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn
ly, mà hàng đệ tử trưởng thượng của vị ấy không thích
đời sống viễn ly, thì người đệ tử hàng trưởng thượng
ấy có ba điều đáng chê.
“Những
gì là ba? Tôn sư thích an trú viễn ly mà đệ tử hàng trưởng
thượng không học theo hạnh viễn ly. Vị đệ tử ấy vì
vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn
trừ mà đệ tử trưởng thượng không đoạn trừ pháp ấy.
Vị đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Với những điều có
thể thủ chứng mà đệ tử trưởng thượng lại từ bỏ
phương tiện[10].
Vị đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Nếu bậc Tôn sư có
pháp luật, thích an trú viễn ly mà đệ tử trưởng thượng
của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì người đệ
tử ấy có ba điều đáng chê trách này.
“Này
chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly
mà đệ tử bậc trung và hạ không thích đời sống viễn
ly, thì đệ tử trung và hạ ấy có ba điều đáng chê.
“Những
gì là ba? Tôn sư thích an trú viễn ly, đệ tử trung và hạ
không học theo hạnh viễn ly, những đệ tử này vì vậy mà
đáng chê. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ mà
đệ tử trung và hạ không đoạn trừ những pháp ấy, những
đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Với những điều có thể
thủ chứng, mà đệ tử trung và hạ lại từ bỏ phương tiện,
những đệ tử này vì vậy mà đáng chê. Nếu Tôn sư có pháp
luật, thích an trú viễn ly, mà đệ tử trung và hạ không
thích đời sống viễn ly, thì những đệ tử ấy có ba điều
đáng chê này.
“Này
chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly
và đệ tử trưởng thượng của vị ấy cũng thích đời
sống viễn ly, thì đệ tử trưởng thượng này có ba điều
đáng tán thưởng.
“Những
gì là ba? Tôn sư thích an trú viễn ly, đệ tử trưởng thượng
cũng học theo hạnh viễn ly. Vị đệ tử này vì vậy đáng
được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn
trừ và đệ tử trưởng thượng đoạn trừ những pháp ấy.
Vị đệ tử trưởng thượng này vì vậy đáng tán thưởng.
Với những điều có thể thủ chứng thì đệ tử trưởng
thượng tinh tấn cầu học, không bỏ phương tiện. Vị đệ
tử này vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư
có pháp luật, thích an trú viễn ly và đệ tử trưởng thượng
cũng thích đời sống viễn ly thì những đệ tử ấy có ba
điều đáng tán thưởng này.
“Này
chư Hiền, nếu Tôn sư có pháp luật, thích an trú viễn ly,
đệ tử trung và hạ cũng thích đời sống viễn ly, thì những
đệ tử ấy có ba điều đáng tán thưởng.
“Những
gì là ba? Tôn sư thích an trú viễn ly, đệ tử trung và hạ
cũng thích đời sống viễn ly. Những đệ tử này vì vậy
đáng được tán thưởng. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải
đoạn trừ thì đệ tử trung và hạ đoạn trừ những pháp
ấy. Những đệ tử này vì vậy đáng được tán thưởng.
Với những điều có thể thủ chứng thì đệ tử trung và
hạ tinh tấn, cầu học, không bỏ phương tiện. Những đệ
tử này vì vậy đáng được tán thưởng. Nếu bậc Tôn sư
có pháp luật, thích an trú viễn ly và đệ tử trung và hạ
cũng thích đời sống viễn ly thì những đệ tử ấy có ba
điều đáng tán thưởng này”.
Tôn
giả Xá-lê Tử lại nói với các Tỳ-kheo:
“Này
chư Hiền, có con đường giữa, nhờ đó có thể được tâm
trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp,
được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn.
“Này
chư Hiền, thế nào là có một con đường giữa, có thể được
tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp,
được trí thông, được giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn?
“Này
chư Hiền, niệm tham dục là ác pháp, ghét bỏ niệm tham dục
cũng là ác pháp[11].
Người ấy đoạn trừ niệm tham dục và cũng đoạn trừ sự
ghét bỏ niệm tham dục. Cũng vậy, sân nhuế, oán kết, bỏn
sẻn, ganh tị, dối trá, vô tàm, vô quý, mạn, tối thượng
mạn, cống cao, phóng dật, hào quý, tăng tránh[12].
“Này
chư Hiền, tham cũng là pháp ác mà đắm trước cũng là pháp
ác. Người ấy đoạn trừ tham và cũng đoạn trừ đắm trước.
“Này
chư Hiền, đó là có một con đường giữa, có thể được
tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp,
được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn.
“Này
chư Hiền, lại có một con đường giữa khác có thể được
tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp,
được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng đắc Niết-bàn.
Chư Hiền, thế nào là có một con đường giữa khác có thể
được tâm trú, được định, được an lạc, thuận pháp,
thứ pháp, được trí thông, được giác ngộ và cũng chứng
đắc Niết-bàn? Chư Hiền, đó là Thánh đạo tám chi, từ
chánh kiến đến chánh định, ấy là tám. Chư Hiền, đó là
một con đường giữa khác có thể được tâm trú, được
định, được an lạc, thuận pháp, thứ pháp, được trí thông,
được giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn”.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn đã qua cơn đau và được an ổn, từ chỗ
nằm trở dậy, ngồi kiết già, Ngài tán thán Tôn giả Xá-lê
Tử:
“Lành
thay! Lành thay! Xá-lê Tử nói pháp như pháp cho các Tỳ-kheo
nghe. Xá-lê Tử, từ nay về sau, thầy hãy nói pháp như pháp
cho các Tỳ-kheo nghe nữa. Xá-lê Tử, thầy nên luôn luôn nói
pháp như pháp[13]
cho các Tỳ-kheo nghe”.
Rồi
Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi phải cùng nhau vâng lãnh pháp như pháp, hãy tụng tập,
chấp trì. Vì sao? Vì pháp như pháp này có pháp, có nghĩa,
là căn bản phạm hạnh, được trí thông, được giác ngộ
và cũng chứng đắc Niết-bàn. Các thiện nam tử cạo bỏ
râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình sống không
gia đình, xuất gia học đạo thì phải khéo léo thọ trì pháp
như pháp này”.
Phật
thuyết như vậy. Tôn giả Xá-lê Tử và các Tỳ-kheo nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú
thích
[1]
Tương đương Pāli M.3 Dhammadāyāda-suttam.
[2]
Bản Pāli: Phật tại Sāvatthi.
[3]
Ngũ Sa-la 五娑羅.
Pāli: Pañcasāla.
[4]
Lệ-việt tức Revata mà chỗ khác cũng bản Hán này, âm là
Li-việt-đa. Xem chú thích kinh số 184.
[5]
Hành cầu pháp 行求法(...).
Pāli: Dhammadāyādā me bhavatha mà āmisadayādā
hãy là những kẻ thừa tự Pháp của Ta, chớ đừng là kẻ
thừa tự tài vật.
[6]
Bất khả Phật ý 不可佛意.
[7]
Bản Pāli: Thế Tôn dạy: Hãy là kẻ thừa tự Pháp...
[8]
Xem cht.11, kinh 83.
[9]
Xem cht.12, kinh 83.
[10]
Xả phương tiện, nên hiểu là từ bỏ sự nỗ lực.
[11]
Niệm dục ác, ố niệm dục diệc ác 念欲惡, 惡念欲亦惡,
ở đây muốn nói trung đạo vượt qua hai tâm niệm đó. Pāli
có hơi khác: lobho ca pāpako doso ca pāpako, lobhassa ca pahānāya
dossa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā, tham là ác, sân là
ác; có con đường giữa để đoạn trừ tham và sân.
[12]
Hào quý豪貴và
tăng tránh憎諍;
có lẽ Pāli: thambo (ngạo mạn) và sārambho (nóng nảy, hay gây
gổ). Liệt kê các tính xấu, theo bản Pāli: kodho (phẫn nộ),
upanāho (oán hận), makkho (đạo đức giả), palāso (ác ý),
issā (bủn xỉn), maccheram (keo kiệt), māyā (dối trá), sāṭheyyam
(giảo hoạt), thambho (ngạo mạn), sārambho (hay gây sự), māno
(mạn), atimāno (tự cao), mado (nghiện ngập), pamādo (phóng túng).
[13]
Pháp như pháp, được hiểu là pháp và tùy pháp (Pāli: dhammānudhamma).